

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Trang Sưu Tầm
Chủ đề:
huy hiệu qlvnch
Tác giả: MĐ Nguyễn Bá Toản


Mục Lục
1.
Lời giới thiệu
2.
Huy hiệu Sư Đoàn
3.
Huy hiệu Trung Đoàn 4/SĐ2BB, QLVNCH
4.
Huy hiệu Trung Đoàn 5/SĐ2BB, QLVNCH
5.
Huy hiệu Trung Đoàn 6/SĐ2BB, QLVNCH
6.
Huy hiệu Các đơn vị Yểm trợ
SĐ2BB, QLVNCH
7.
Huy hiệu Trung Đoàn Pháo/SĐ2BB, QLVNCH
8.
Huy hiệu Thiết Đoàn 4 Kỵ Binh/SĐ2BB, QLVNCH
9.
Huy hiệu Tiểu Đoàn 2 Công Binh Chiến Đấu/SĐ2BB, QLVNCH
10.
Huy hiệu Truyền Tin
SĐ2BB, QLVNCH
11. Tiểu sử SĐ2BB, QLVNCH
12. Những bài viết liên quan
13.
Credits

14.
Sư Đoàn 2 Bộ Binh QLVNCH Hành khúc
Huy hiệu Các SĐBB–QLVNCH:
1,
2,
3,
5,
7,
9,
18,
21,
22,
23,
25


1. Lời giới thiệu
SƯ
ĐOÀN 2 BỘ BINH Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) đồn trú
tại Quân Khu I VNCH, tỉnh Quảng Ngãi.
Cấp số SĐ2BB gồm
3
Trung Đoàn tác chiến: Trung Đoàn
4,
5,
và 6. Các đơn vị yểm trợ
SĐ2BB gồm 1
Tiểu Đoàn Trinh Sát (Reconnaissance), 1 Tiểu Đoàn Công Binh Chiến Đấu,
1 Trung Đoàn Pháo với 4 Tiểu Đoàn Pháo binh. Sau đây là những huy hiệu được
SĐ2BB QLVNCH sử dụng trong suốt cuộc chiến Việt Nam:
Chú ý: Các huy hiệu được sắp xếp theo thứ tự
Trung Đoàn, Tiểu Đoàn, và sau cùng là huy hiệu các đơn vị yểm trợ nếu có.
–tkd.


2.
Huy hiệu Sư Đoàn
CÁC LOẠI HUY HIỆU
SĐ2BB QLVNCH
Cấp Sư Đoàn


Các Huy hiệu SĐ2BB


3.
Huy hiệu Trung Đoàn 4/SĐ2BB, QLVNCH





4.
Huy hiệu Trung Đoàn 5/SĐ2BB, QLVNCH



5.
Huy hiệu Trung Đoàn 6/SĐ2BB, QLVNCH

Huy hiệu Trung Đoàn 6/SĐ2BB


6.
Huy hiệu các đơn vị Yểm trợ
SĐ2BB, QLVNCH

7.
Huy hiệu Trung Đoàn
Pháo/SĐ2BB, QLVNCH


8.
Huy hiệu Thiết Đoàn 4 Kỵ
Binh/SĐ2BB, QLVNCH


![]()
9.
Huy hiệu Tiểu Đoàn 2 Công Binh
Chiến Đấu/SĐ2BB, QLVNCH



10.
Huy hiệu Truyền Tin/SĐ2BB, QLVNCH



11.
Tiểu sử SĐ2BB, QLVNCH
Tiểu sử
Sư Đoàn 2 BỘ BINH QLVNCH
Danh sách các vị Tư lệnh Sư Đoàn 2
Bộ Binh
Tiền thân Sư
Đoàn 2 Bộ Binh là "Liên Đoàn 32 Lưu động" thuộc Quân đội Liên
hiệp Pháp, thành lập vào ngày 3 tháng 11 năm 1953 tại Mỹ Côi,
Ninh Bình. Đến đầu tháng 1 năm 1955 Quân đội Pháp bàn giao Liên
Đoàn cho sĩ quan người Việt chỉ huy và người đầu tiên chỉ huy
Liên Đoàn là Trung tá Tôn Thất Đính. Ngày 16 tháng 1 năm 1955,
Liên Đoàn 32 Lưu động được lệnh giải tán và dùng làm nòng cốt
đến ngày 4 tháng 2 năm 1955 thành lập "Sư Đoàn 32 Bộ Binh," [3]
và Đại tá Đính [4] tiếp tục làm Tư lệnh. Đến ngày 1 tháng 8
tháng năm 1955, một lần nữa đổi tên thành "Sư Đoàn 2 Dã Chiến".
Sau khi chính thể Đệ Nhất Cộng Hòa được thành lập. Ngày 22 tháng 11 năm
1956 Đại tá Tôn Thất Đính bàn giao Sư Đoàn lại cho Trung tá Đặng
Văn Sơn và nửa năm sau, ngày 16 tháng 4 năm 1957 Trung tá Lê
Quang Trọng thay thế đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư Đoàn. Đến ngày
1 tháng 12 năm 1958 Sư Đoàn 2 Dã Chiến đổi tên lần cuối, chính
thức trở thành "Sư Đoàn 2 Bộ Binh". [5] Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đặt
tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng.
Tháng 5 năm 1965 Bộ Tư Lệnh di chuyển về Quảng Ngãi và nhận trách nhiệm Khu
12 Chiến thuật gồm 2 tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi. Đến năm 1971
Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn lại chuyển về căn cứ Chu Lai, tiếp nhận căn
cứ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh Hoa Kỳ.
Mùa hè năm 1972 Trung Đoàn 4 Bộ Binh do Đại tá Lê Bá Khiếu [6] làm Trung
đoàn trưởng đã được điều động tăng cường để giải tỏa áp lực đối
phương tại vùng giới tuyến.
Sau khi hoàn
thành nhiệm vụ ở giới tuyến, Trung Đoàn 4 vẫn do Đại tá Khiếu
làm Trung đoàn trưởng được điều từ Quảng Trị trở về để phối hợp
cùng Trung Đoàn 5 và Trung Đoàn 6. Trung Đoàn 5 do Trung tá Võ
Vàng [7] làm Trung đoàn trưởng và Trung Đoàn 6 do Đại tá Phạm
Văn Nghìn [8] chỉ huy, đã mở cuộc hành quân tái chiếm các quận
Quế Sơn, Tiên Phước thuộc tỉnh Quảng Tín. Đồng thời, Sư Đoàn 2
phối hợp với các lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân giải tỏa
áp lực đối phương tại khu vực cao nguyên phía nam Quảng Ngãi. Từ
chiến công phá tan mật khu Đỗ Xá năm 1970 cùng một số thắng lợi
khác, các tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi tạm thời yên tĩnh. Sư
Đoàn 2 tạm ngừng bắn từ năm 1973.
Trước tình hình chính trị, với áp lực của Quân đội Bắc Việt tại miền Trung
nên ngày 27 tháng 3 năm 1975 toàn bộ Quân Khu cũng như Sư Đoàn 2
tan hàng di tản ra Đà Nẵng. Và tại đây Sư Đoàn 2 Bộ Binh giải
tán. Ngày 25/3/1975 Sư Đoàn được lệnh di tản ra đảo Lý Sơn để
chuẩn bị ra chiếm lại Đà Nẵng. Cuối tháng 3/1975, Sư Đoàn được
tàu Hải Quân đưa về Hàm Tân để tái trang bị vũ khí và quân số.
Giữa tháng 4/1975, Sư Đoàn ra tái chiếm Phan Rang. Sư Đoàn tan
hàng sau khi bị tràn ngập và tướng Nghi bị bắt sống. Số quân
nhân còn lại về tập trung ở Vũng Tàu cho đến khi có lệnh của
Dương văn Minh ra lệnh buông súng. Ngày 25/3/1975, khi đường từ
Tam Kỳ về Chu Lai bị cắt đứt, một số đơn vị đang hành quân ở
trong Tiên Phước cùng lực lượng Biệt Động Quân thuộc Liên Đoàn 2
theo đường bộ ra Đà Nẵng và tan hàng tại đây.
nguồn:
wikipedia–VN



12.
Những bài viết liên quan



13
Credits
Huy hiệu: tkd sưu tầm trên Liên mạng
SĐ2BB Hành khúc: tkd sưu tầm
Trình bày & Ấn loát: tkd


14
Sư Đoàn 2 Bộ Binh QLVNCH Hành khúc



HẾT



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tkd sưu tầm & trình bày
Đăng ngày Chúa Nhật, August 4, 2013
Cập nhật ngày thứ Hai, April 6/2025 – đổi sang hệ thống bootstrap framework 5.x
Cập nhật ngày thứ Sáu, November 27/2020 – sửa format
tkd, Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH