

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Truyện phiếm
Chủ đề:
tết
Tác giả: Song Thao

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

Nói tới “tết” người ta nghĩ ngay tới Tết Nguyên Đán. Nhưng tết
đâu phải chỉ là thời gian giao mùa giữa năm mới và năm cũ. Ngoài
Tết Nguyên Đán, chúng ta còn có Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu. Vậy
tết là một ngày hội, một ngày vui được dân gian đón nhận. Những
khi năm cùng tháng tận, tôi thường ôn lại dĩ vãng, nhớ lại những
gì mình làm được cũng như chưa làm được trong năm cũ. Nhưng, từ
bao năm nay, nỗi nhớ dằng dai hơn nhiều, từ ngày được tha khỏi
cái gọi là trại cải tạo của Việt cộng. Đối với những người đã
bước chân vào vòng tù mà không có tội, án cũng chẳng có, ngày
tháng mênh mông như trong những đám mây, thời gian như một thách
đố không có lời giải đáp, chuyện được thả cho về với gia đình là
chuyện chết đi sống lại.
Đó mới là ngày vui, ngày hội,
ngày tết đích thực. Ngày về là... tết!
Thường trong các
dịp tết, trại cho một số trại viên về, như một trình diễn về cái
gọi là nhân đạo của chế độ. Dù chẳng ai tin vào sự nhân đạo của
một chế độ lấy chuyên chế làm kim chỉ nam, nhưng cứ được bước ra
ngoài vòng cương tỏa của tù tội là tết rồi. Chuyện về là chuyện
trúng số. Thần tài gõ vào đầu anh nào, anh ấy hưởng. Tôi may mắn
được gõ đầu vào ngay cái tết đầu tiên trong tù. Trong truyện
ngắn “Tết Trước Tết”, tôi đã tả lại giây phút... thiêng liêng
đó. Sau ba chục ngày vô cũi, chuyện ra về là chuyện canh cánh
bên lòng của chúng tôi. Cán bộ cứ ra rả tuyên truyền:
–
“Về hay không là tùy các anh có học tập tốt không thôi!”.
Chẳng ai nhét được câu dối trá này vào trong đầu. Rồi ngày
định mệnh cũng tới. “Sáng hôm sau, 26 tết, cán bộ tất tưởi tay
cầm cuộn giấy lên kêu họp nhà. Mọi người vội vàng vào hàng ngũ.
Chưa bao giờ anh em lại tập họp nhanh nhẹn đến như vậy. Tôi nhìn
quanh. Mọi khuôn mặt đều căng lên hồi hộp. Bụng tôi đánh lô tô.
Đang ngồi tôi đứng lên nói với đám bạn quen ngồi cạnh: ‘Đứng lên
một cái lấy hên!’”.
Chẳng ai cười. Người nào cũng còn
đang bận đội một thúng chì trên đầu. Mọi cặp mắt đều dồn vào tờ
giấy trên tay cán bộ. Tôi thấy trang giấy đen kịt chữ. Chắc cũng
phải vài chục tên. Có tên tôi trong đó không? Tôi nhấp nhổm như
muốn soi thủng những con chữ trên tờ giấy. Cán bộ lên tiếng yêu
cầu im lặng. Căn phòng lặng ngắt tức thì. Cán bộ giáo đầu cà kê
về chính sách khoan hồng của nhà nước. Tim tôi nhảy loạn xạ.
Được về hay ở lại? Hai tình huống xa nhau như Thiên Đàng–Địa
Ngục. Tai tôi hững hờ với những sáo ngữ rỗng tuếch đang phát ra
từ cái miệng bôi mỡ. Rồi giây phút định mệnh cũng đến. Tên người
đầu tiên được xướng lên. Kẻ diễm phúc đứng phắt dậy mặt mũi ngơ
ngác tái mét. Tôi bấm đốt ngón tay đếm từng tên. Ngón tay cái
chạy gần hết bốn ngón tay kia thì tên tôi được đọc lên. Tôi đứng
phắt dậy. Có phải chân tôi đang chạm đất đây không? Đầu tôi lỏng
le như chẳng có gì ở trong. Mặt mũi tôi tê rần. Tai tôi lùng
bùng nghe tiếng quản giáo hỏi: “Anh ở nhà này à? Sao tôi ít thấy
mặt anh?”. Lạy trời đừng có gì trục trặc. Môi tôi như gắn hàm
thiếc không nói năng được gì. Tai tôi lại lùng bùng nghe: “Anh
ngồi xuống!”. Tôi ngồi phịch xuống. Chiều nay mình sẽ ở nhà
mình. Tôi cố làm quen với ý nghĩ mới mẻ này. Những khuôn mặt
quanh tôi nhũn ra khi cán bộ gấp tờ giấy lại. Tôi nhìn thấy nét
bàng hoàng hoảng hốt, tôi nhìn thấy những giọt nước mắt vội vã,
tôi nhìn thấy những khuôn mặt nặng nề cố nuốt nỗi thất vọng. Và
tôi cũng nhìn thấy nỗi mừng vui cố giấu kín của những người có
tên.
Tết đến với tôi, tết đến với nhiều anh em khác trại,
khác thời gian. Nhưng có đang là mùa hè nóng cháy, được kêu tên
ra về vẫn... tết! Tác giả Phạm Đăng Quỳnh kể lại về ngày “tết”
của người cha. Ba nói sáng đó vẫn đi làm bình thường thì ba bất
ngờ được tách ra, cho nên anh em bạn tù ai cũng không biết ba
được về mà tâm sự hay gửi nhắn gì cho gia đình. Các chỉ huy trại
bỗng dưng nhỏ nhẹ lạ thường:
“Anh đã biết lao động sản
xuất. Lao động là vinh quang anh có biết không? Bác Hồ kính yêu
đã dạy như thế. Từ một người chỉ biết ăn bơ thừa sữa cặn của đế
quốc, lười biếng lao động, có nợ máu với nhân dân, nhờ cách mạng
khoan hồng, giáo dục, bây giờ anh đã được trở về với nhân dân.
Hãy nhớ hăng say lao động sản xuất để đền đáp công ơn của cách
mạng. Những gì anh đã trải qua mấy năm nay ở đây, khi về anh
không được kể lại với bất cứ ai. Đã có nhiều người không làm như
vậy phải quay lại trại. Chính quyền cách mạng sẽ đưa họ trở lại
đây cho chúng tôi. Anh phải nhớ là chúng tôi không muốn gặp lại
anh ở đây một lần nữa, anh nhé! Anh nhớ đấy!”.
Ba nói, dù
đã quen với cuộc sống tù tội ở đây, nhưng khi nghe các nhà quản
giáo nói đến chuyện quay trở lại “địa ngục trần gian” này ba
không khỏi nổi da gà. Đó là lý do ba tôi và hầu hết những “con
trời khác khi thoát nạn, trở về ai hỏi gì cũng không dám kể lại.
Họ chỉ tập trung làm lụng nuôi sống gia đình, im lặng, khép kín,
có vài người còn trầm cảm”.
Một trường hợp được tha về
khác, cũng đúng vào dịp Tết Nguyên Đán, do một tác giả không ghi
tên kể lại:
“Mọi bữa, sắp hàng xong là ra cổng. Bữa nay
sao lại dềnh dàng? Hóa ra đợi nghe đích thân trại trưởng tuyên
đọc ‘lệnh tha’ nhân dịp Tết Nguyên Đán sắp tới! Cả mười mấy đội,
sáu bảy trăm nhân mạng đều nhốn nháo. Tiếng là thiếu tá mà coi
bộ trại trưởng đọc chữ không rành. Trong khi thiên hạ nhấp nha,
nhấp nhổm, ông ê a đánh vần thật là sốt ruột. Tiếng ông thì nhỏ
mà gã tù tui thì điếc lác sợ không nghe được nên mới nhờ anh bạn
đứng kế bên nhắc chừng dùm. Quả nhiên lát sau bỗng thấy anh bạn
nắm áo vừa giật vừa hô: có tên rồi kìa! Tôi nghe rồi ngẩn ngơ
như lạc vào trong mơ! Ngơ ngẩn hồi lâu mới giật mình, tỉnh lại
bèn chạy u về phòng giam lo thu xếp đồ đạc. Bao nhiêu đồ dồn vô
sac marin, chiếc thùng sắt để lại cho thiếu tá Huấn, chánh sở
tạo tác NQS như đã hứa. Thiếu tá Tú, thường trực thi đua mới
hướng dẫn qua Khu B tạm trú qua đêm. Buổi cơm chiều mới thật là
hào hứng. Trại khoản đãi giã biệt bằng cơm trắng thay sắn dui.
Lại gặp anh Nguyễn Mỹ, trưởng ty thuế vụ Biên Hòa cùng được thả.
Hai anh em chén cơm trắng thịt kho thả cửa. Nôn nao, không sao
ngủ được bèn làm đêm không ngủ. Bịch thuốc lào tới sáng đã
khuyết một phần tư! Đêm dài rồi cũng trôi qua. Sáng lại đã thấy
cán bộ tới làm thủ tục ra tù. Lần cuối cùng lăn tay, nhận lãnh
giấy ra tù. Cầm tấm giấy vàng úa mà nâng niu như lịnh thiên tào
tha mạng!”.
Bà Thanh Minh, một vợ tù cải tạo, mòn mỏi
trông chờ chồng về. Như có sự sắp đặt của trời đất, một bữa bà
thấy ông lù lù xuất hiện ở cửa nhà:
“Buổi tối, ngày
30/4/1980, tôi và đứa con đang ngồi ăn cơm, thì chồng tôi bước
vô nhà... Trông chồng tôi gầy ốm, đen đúa, quần áo lếch thếch,
lưng đeo ba lô. Đâu còn phong độ của thời huy hoàng ngày xưa.
Tôi sững sờ, đánh rơi đũa chén, líu lưỡi, không nói nên lời.
Chồng tôi cho biết, anh ấy đã được trả tự do vài ngày trước đây.
Ra trại Vĩnh Phú, anh ấy về Hà Nội, ngủ ngoài trời một đêm tại
sân ga xe lửa. Ngay khi tới Hà Nội, anh ấy đã đến bưu điện, gởi
điện tín báo tin mừng, một ngày trước lên xe lửa về Nam. Xe chạy
từ Hà Nội vô Sài Gòn mất thêm hai ngày nữa. Thế mà, điện tín lại
đi chậm hơn xe lửa. Do đó, sự xuất hiện của chồng tôi đã đem lại
cho tôi một sự mừng rỡ, một hạnh phúc bất ngờ, tưởng chỉ có
trong giấc mơ mà thôi. Tôi đề nghị hai đứa ra phố ăn cơm tiệm để
mừng ngày thoát cảnh tù đày. Chồng tôi nói: ‘Thôi! Ăn cơm tù
nhiều năm quen rồi, bây giờ có ăn cơm nguội cũng sướng như tiên
rồi’. Đúng là bị méo mó nghề nghiệp ở tù.”
Đường về có
năm bảy lối, lối nào cũng là... tết. Tùy theo những năm tháng ở
tù dài hay ngắn, những người về như lạc về cõi thiên thai. Những
ngày trong tù, chúng tôi sống như thời tiền sử. Quần áo vá chằng
vá đụp, thân hình mốc thếch ghẻ lở trơ xương. Chỉ vài tháng
trong trại đã biến những sĩ quan hào hoa, những cấp chỉ huy quần
dài áo rộng trong các công sở thành những vật–người. Chúng tôi
lượm từng mảnh kim khí, tấm cạc tông, chiếc đinh rỉ hay những
thứ ngày xưa chúng tôi coi là rác rưởi. Bất cứ thứ gì cũng có
lúc dùng tới. Những chiếc dép cao su ngày đi mới tinh, qua ngày
tháng, đứt quai, mòn đế, chúng tôi buộc lại bằng những sợi ni
lông đủ màu, trông cứ như phường chèo tất cả. Về lại chốn phố
phường, chúng tôi trông chẳng giống con giáp nào.
Vĩnh biệt ta–mười–năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng
nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành
vượn cổ sơ... –(Tô Thùy Yên)
Ngày về, ngày tết của
riêng chúng tôi, lòng chúng tôi như mềm đi vì tình nghĩa đồng
bào. Những người dân miền Nam, quen hay không quen, đã đón chúng
tôi như những người thân từ địa ngục trần gian trở về. Một đoạn
trong nhật ký của ông Vương Văn Ba kể lại ngày về:
“Hôm nay là một
trong những ngày vui nhất của đời mình: ngày ra Trại, ngày được
phóng thích. Có phải chăng đây là một sự ngẫu nhiên hay sự an
bài của đấng thiêng liêng: 15/6/1975 ngày đi học tập cải tạo,
15/6/1983 ngày bước ra khỏi trại, đúng 8 năm tròn không thiếu
hay dư một ngày nào. Hôm ấy, 14/6/1983, tức trước một ngày ra
Trại, đang ngồi ăn cơm trưa thì anh Oanh làm nhà bếp kề tai nói
nhỏ: ‘Anh Ba hãy bình tĩnh nghe tôi nói, anh có tên trong danh
sách về’. Mình yên lặng nhìn anh ấy xem coi có nói chơi hay
thật, và nói cám ơn. Buổi chiều cả Trại ra sân tập hợp để đi
làm. Trước khi đi làm có lệnh đọc danh sách tha. Đợt phóng thích
này có tất cả 30 người về: bọn này 22 người, có 1 chính trị địa
phương và 7 người trại khác. Ngay chiều hôm đó lên trên cơ quan
làm thủ tục về, sáng hôm sau có xe của Trại đưa ra huyện Tân Kỳ,
tại đây đáp xe đò ra Vinh. Vinh là thị xã tỉnh Nghệ Tĩnh, chiều
ngày 15/6/1983 có mặt tại ga Vinh, nhờ một số các em trẻ tuổi từ
Huế ra đây ký hợp đồng với chính phủ xây cất nhà ga giúp đỡ.
Các em này hầu hết có gia đình đi cải tạo, nên các em rất
thông cảm bọn này, dành chỗ cho nghỉ ngơi để đợi tàu hỏa. Đêm ấy
tại Vinh mình ăn ở uống tợn quá, gặp gì ăn nấy, ăn từ 19:00g đến
21:00g. Lúc 21:30g loa phóng thanh báo tàu Thống Nhất từ Hà Nội
đi Sài Gòn đến. Các bạn trẻ người Huế hướng dẫn cả bọn 22 người
đi chui ngõ ngách đặc biệt để vào chỗ tàu đậu, xong họ lên năn
nỉ với các anh em Kiểm soát viên vé tàu để cho đi. May mắn thay,
bọn này gặp các Kiểm soát vé người trong Nam nên họ cho đi tàu
khỏi mua vé, dĩ nhiên bọn này phải ngồi nhờ hai đầu lên xuống
của toa và chia ra mỗi toa vài người... Tàu chạy đến Quảng Trị
thì trời đã sáng, từ đó trở đi mình ăn uống lu bù, gặp ga lớn ăn
theo ga lớn, ngừng ga nhỏ ăn theo ga nhỏ. Thật là khủng khiếp
cho kiếp tù đày: đói và thèm. Đến ga Nha Trang lúc 23:00g ngày
16/6/1983, xuống ga tôi và bạn Tuệ, hai người thuê một chiếc
xích lô về nhà mẹ Khoa ở đường Nguyễn Thái Học.”
Tác
giả Phạm Đăng Quỳnh kể chuyện về của người cha:
“Mãn hạn
tù cải tạo, ba được ban chỉ huy trại dặn dò cả buổi, rồi phát
cho ít tiền. Số tiền ít ỏi này không đủ để đón xe từ trại về
nhà, nhưng không sao. Dù cơ thể chỉ còn bộ xương dính da, nhưng
niềm vui bất ngờ được ra tù như liều thuốc kích thích, làm cho
con người ba hưng phấn hẳn, ba cảm thấy khỏe như thanh niên,
xách tay nải ba rời trại. Bước ra đường, ba nghĩ mình đủ sức đi
bộ về tới nhà, dù đoạn đường gần vài trăm cây số. Hoặc đi bộ đến
khi nào kiệt sức thì sẽ đón xe đò, nhưng không, không bao giờ
mình kiệt sức. Chắc chắn vậy. Hoặc chỉ đón xe đi hết địa phận
tỉnh Bình Định thôi, rồi xin đi nhờ xe về Quảng Ngãi. Không
được, đời mình có lúc như đã tận cùng có thèm xin xỏ ai đâu.
Thôi cứ đi bộ. Rồi một chiếc xe đò đột ngột dừng lại phía trước.
Anh lơ xe nhảy xuống: ‘Mời ông con trời lên xe’. ‘Chú đi bộ được
rồi em ơi’. ‘Ông cứ lên xe, tụi tui không lấy tiền đâu. Chưa kịp
suy nghĩ, chú thanh niên to khỏe ôm ba bỏ lên chiếc xe cũ kỹ, ba
như chưa kịp định thần, cảm giác vừa vui vui vừa buồn buồn pha
chút xấu hổ. Ba hỏi: ‘Sao mấy em gọi tui là con trời?’. Ông nhìn
cái lưng áo của ông có hai chữ CT tổ bố, không phải con trời thì
là cái gì? Tụi tui chở nhiều rồi, không lấy tiền ai hết, mà có
lấy thì mấy ông tiền đâu đưa? Ông yên tâm, lát nữa tụi tui gửi
xe quen cho ông về tận Quảng Ngãi luôn. Mà ông có tự đón xe thì
cũng không ai lấy tiền của ông đâu, đừng lo.”
Tôi về
từ Long Thành, xe tải bộ đội chạy thẳng về Sài Gòn, đổ xuống
vườn Tao Đàn. Xe vừa vào tới thành phố, đồng bào chạy theo reo
hò. Cứ như đoàn quân chiến thắng trở về. Chúng tôi chỉ là những
tên chiến bại nhưng được chào đón như những người thân yêu về
lại quê hương. Chỉ có tình người của những người cùng chia nhau
chiến bại mới òa lên được niềm vui rộng rãi như vậy.
“Đoàn xe bộ đội đưa chúng tôi về bò ra khỏi con đường đất
bụi mịt mù gặp Quốc lộ 15 quẹo mặt. Đường về Sài Gòn. Nỗi bàng
hoàng chưa rời khỏi chúng tôi. Ôm nỗi vui mừng quá lớn lao mà
chúng tôi ngồi im thin thít không dám nói năng gì. Gió lồng lộng
tung hồn tôi lên cao. Tôi nhắm mắt tận hưởng nỗi sung sướng
tưởng chừng như nổ tung người ra. Cầu Xa Lộ. Ngã tư Hàng Xanh.
Sài Gòn đây rồi. Đoàn xe chạy qua chợ Bến Thành, vào vườn Tao
Đàn. Dân chúng đổ xô chạy theo. Khi xe ngừng cho chúng tôi xuống
thì con đường nhựa giữa vườn nối liền hai cổng đường Nguyễn Du
và đường Hồng Thập Tự đã đầy nhóc người. Những câu hỏi tíu tít
trả lời không kịp. Mọi người, nhất là các bà có chồng đi học
tập, muốn níu chúng tôi lại hỏi chuyện. Chúng tôi thì muốn bay
về nhà ngay. Tôi vất vả luồn lách ra được tới đường Hồng Thập
Tự. Một anh xe ôm trờ tới: ‘Thầy lên xe em chở về’. Tôi leo lên
xe. Anh xe ôm vui tính bắt chuyện suốt đoạn đường về tới Thị
Nghè. Tới nhà tôi bước xuống bảo chờ tôi vào lấy tiền ra trả.
Anh khoát tay: ‘Tiền nong gì thầy! Em là lính cũ. Các thầy về là
mừng rồi. Thôi, chào thầy em đi’”...
Người dân miền
Nam cùng chung một tấm lòng với những người trở về nhưng mỗi
chúng tôi gặp một cách đón mừng riêng. Cách nào cũng làm chúng
tôi rớt nước mắt. Vị tác giả vô danh ghi lại một cách đón khác
khi hỏi mua thuốc lá của một cô gái trên lề đường:
“Hắn sực nhớ lúc nãy
cô gái có liếc mắt xuống đôi chân hắn. Hắn chợt thoáng ‘lý đoán’
ra nguyên nhân. Nhìn thẳng vào mặt cô bán thuốc, với vẻ nghiêm
trang, hắn nói: ‘Anh vừa từ trại cải tạo ra, đang trên đường về,
nên đành phải mang đôi dép này’. Khi hắn vừa mới nói đến ‘Anh
vừa từ trại cải tạo ra’, cặp mắt cô gái sáng lên và đôi má cô
ửng hồng, nhếch lên để lộ ra cái lúm đồng tiền. Hình như cô muốn
nói điều gì mà không cất lên được. Cô luống cuống lấy trong hộc
ra gói thuốc Hoa Mai còn nguyên rồi bằng hai tay đưa lên sát
ngực hắn, với ánh mắt thương cảm trìu mến: ‘Anh cầm lấy, em biếu
anh. Rất tiếc bây giờ không còn thuốc trước 75’”.
Tác giả Nguyễn Minh Châu, trong hồi ký “Cuộc Đời Đổi Thay”,
cũng nhận được những yêu thương của đồng bào khi từ Yên Bái trở
về Nam. Khi xe ghé Huế để ăn trưa, anh được đồng bào o bế nồng
hậu:
“Ðến thành phố Huế, hai anh bộ đội cho chúng tôi
xuống xe để ăn trưa. Ðồng bào hay tin tù cải tạo được về Nam từ
các trại tù miền Bắc đã đổ xô tới bao vây chúng tôi... Các bà cụ
già và các phụ nữ nhìn thấy chúng tôi mặt mày xanh xao hốc hác,
bơ phờ, và ốm gầy nên động lòng khóc nức nở. Chúng tôi bị cấm
không cho tiếp xúc với đồng bào, nhưng khi nhìn qua ánh mắt của
mấy bà tôi hiểu là các bà rất thương cảm chúng tôi và họ hình
dung bóng dáng chồng con hay anh em của họ cũng tiêu điều như
chúng tôi vậy, nên họ mủi lòng không cầm được nước mắt. Có một
bà cụ chửi khe khẽ rằng: ‘Ðồ quân khốn nạn! Chúng bay đày đọa
mấy người cải tạo ra nông nỗi này!’. Một điều làm cho tôi luyến
tiếc là phố Huế ngày xưa thanh bình thơ mộng, nay sao tôi thấy
tiêu điều buồn tênh! Có lẽ phố Huế cũng buồn theo vận nước? Anh
em chúng tôi chia ra từng toán vào các quán ăn cạnh nhau trên
một đường phố. Các người chủ quán đều không tính tiền và còn cho
uống beer và nước ngọt thật ngon lành vì mấy năm nay đâu được có
những thứ này.”
Ông bạn nhà thơ Quan Dương được ra
về vào năm 1981, đu theo xe đò tới Ninh Hòa thì nhảy xuống, cuốc
bộ hai cây số về nhà:
Chiếc xe đò rùng mình nín thở
Quẳng xuống
đường một nhúm xương khô
Gã lính “ngụy” lưu đày ngơ ngác
Chưa dám tin mình đã trở về.
Những người về từ ngục
tù cộng sản chúng tôi ấm lòng khi được đồng bào miền Nam đón
tiếp nồng hậu. Hình như họ nhìn thấy chính họ trong cái tiều tụy
của chúng tôi. Đồng bào, hai chữ thật thân thương. Nhưng cũng
thật rắc rối. Chúng tôi vừa thoát khỏi bàn tay nghiệt ngã của
một thứ “đồng bào”, để được đón nhận thân tình từ một thứ “đồng
bào” khác. Vận nước tới lúc như vậy, vận nước cũng sẽ tới lúc
khác vậy. Để cho hai chữ “đồng bào” trở về đúng nghĩa của nó. Dù
sao, những con người rách nát cả thể xác lẫn tinh thần chúng tôi
cũng lê được cái thân tàn về với đồng bào miền Nam thân yêu...
Và chúng tôi đã được đón nhận như những đứa con hẩm hiu tìm về
được căn nhà cũ. Vậy là vui rồi. Vui như tết!
Song Thao
nguồn:
blog người phương nam

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by kb chuyển
Đăng ngày thứ Bảy, February 7, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH