

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Phiếm đầu Xuân
Chủ đề:
tiếng lóng
Tác giả: Song Thao

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Lời giới
thiệu: hắn đọc được một
bài nghiên cứu ngôn ngữ của nhà văn Song Thao với chủ đề “tiếng
lóng Sài Gòn” là nói riêng của ngôn ngữ “lóng”
nói chung, bác Song Thao ngay những câu mở đầu bác đã đánh tiếng
rằng “chỉ nói về tiếng lóng Sài Gòn khi Sài Gòn còn tên,
khi mất tên thì Sài Gòn đâu còn là Sài Gòn nữa” có
nghĩa là bác không nói đến tiếng lóng trong xã hội ở Sài Gòn
ngày hôm nay, sau ngày Sài Gòn mất tên... chậm rãi đọc để ngấm
từng câu chữ của tiếng lóng Sài Gòn mà bác nói đến thì tất cả
chúng ta đã nghe đầy tai, dùng đã mỏi miệng... những chữ thông
dụng như “bỏ đi Tám, Sức mấy mà buồn”, mỗi khi
hắn nói “bố già” hắn ban đầu cũng không hài
lòng, nhưng rồi cụ nghe những thanh niên, nhân viên làm chung
phòng với cụ nói những chữ không hiểu được nghĩa đen mà có một ý
nghĩa tượng trưng về nghĩa bóng... những chữ như “tám
chuyện, tầy quầy, xảnh xẹ, mình ên, cà nhổng...” và còn
nhiều chữ khác nếu giải thích theo nghĩa đen thì chẳng đâu ra
đâu cả.
Tự Điển Việt Nam của Ban Tu Thư Khai Trí (Sài
Gòn, 1971) giải thích tiếng lóng: Thứ tiếng dùng riêng với nhau
trong một bọn, một hạng người cùng nghề. Từ Điển Le Petit
Larousse Illustré (Paris, 1993) viết “tiếng lóng”:
Từ vựng riêng biệt của một nhóm, một nghề, hoặc một giai
tầng xã hội.
Nhiều tài liệu của một số nhà
nghiên cứu như cụ Nguyễn văn Tố cũng đã công bố nhiều tiếng lóng
ở Hà Nội có khảo luận L’argot Annamite de Hanoi – Tiếng Lóng
Việt Nam ở Hà Nội công bố năm 1925 được thấy nhiều trong các tác
phẩm của Vũ Trọng Phụng trong Cạm Bẫy Người
(1933), Kỹ Nghệ Lấy Tây (1934), Số Đỏ
(1936), Làm Đĩ (1936), Lục Xì
(1937) tiếng lóng ẩn ngữ giang hồ: chạy làng,
chánh, chúa... nhà văn Nguyên
Hồng (1918–1982) dùng nhiều tiếng lóng trong giới lưu manh trộm
cắp. Vỏ lỏi: ăn cắp còn nhỏ tuổi. Chạy
vỏ: ăn cắp (chỉ chung những ăn cắp đường, ăn cắp chợ)
trong tác phẩm “Bỉ Vỏ”, có nghĩa là người đàn
bà ăn cắp (bỉ là đàn bà).
Ta hay Tây gì cũng đều có tiếng
lóng như Victor Hugo nhận định tiếng lóng là hiện tượng văn học,
vừa là một kết quả xã hội, tiếng lóng là quốc gia đồng thời cũng
là quốc âm.
Sống trong một xã hội sẽ có
phát sinh những từ ngữ mới là từ ngữ của người trong nước dần dà
trở thành chữ nói ra ai cũng hiểu dù là hiểu theo nghĩa bóng như
ngày trước hắn mắng người khác là “cà chớn”, bố
hắn không hiểu nhăn mặt khó chịu rầy hắn nhưng lâu dần sau đó
hắn dùng chữ này cụ có nghe cũng bỏ qua vì đó cũng là một sản
phẩm của xã hội... và như bây giờ nhiều người khó chịu với chữ “đi
bão” hay “chém gió” trong nước, đúng
là chẳng có nghĩa gì cả trên phương diện ngữ vựng nhưng nghe nó
được hiểu theo nghĩa bóng, những ai không sống trong xã hội ấy
ngày hôm nay chấp nhận, thích hay không là quyền của từng cá
nhân.
Bác Song Thao viết bài này có giá trị rõ ràng về
ngữ vựng (hình như ngày nay được gọi là từ vựng), hắn mời các
bác xem.
–ARA

Bài này chỉ nói về tiếng lóng Sài Gòn khi Sài
Gòn còn tên, khi mất tên thì Sài Gòn đâu còn là Sài Gòn nữa.
Tiếng lóng là một hình thức phương ngữ xã hội không chính thức
của một ngôn ngữ, thường được sử dụng trong giao tiếp thường
ngày bởi một nhóm người. Tiếng lóng thường không mang ý nghĩa
trực tiếp, nghĩa đen, mà mang ý nghĩa tượng trưng, nghĩa bóng.
Nhạc sĩ Phạm Duy gọi tiếng lóng là ngôn ngữ vỉa hè. Năm
1968, ông định sáng tác một loạt vỉa hè ca nhưng khựng lại sau
khi cho xuất bản hai bài “Sức Mấy Mà Buồn” và “Nghèo Mà Không
Ham”, ông tiết lộ:
“Hai bài ca vui đùa này được in ra và
bán rất chạy. Nhưng lập tức có sự phê bình gay gắt đến từ nhiều
phía. Tôi định soạn thêm bài Ô Kê Salem, Ô Kê Nước Mắm thì cụt
hứng! Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn chưa chịu thua... Rồi tôi
phản ứng lại bằng cách soạn những bài ngỗ nghịch hơn vỉa hè ca.
Và phải có qui mô hơn. Đó là mười bài tục ca, bài thì tục về
chữ, bài thì tục về ý, bài thì tục về chuyện”.
Ông trần
tình tiếp về lý do có những vỉa hè ca và tục ca:
“Tôi
soạn vỉa hè ca và tục ca trước và sau khi đi Mỹ. Lúc đó sự có
mặt của người Mỹ tại nước ta là một điều rất trầm trọng, mọi
người đều sợ bị ngoại xâm xâm lăng bằng văn hóa. Người ta không
thích cộng sản nhưng người ta cũng không thích văn hóa Mỹ, nhất
là không muốn lối sống Mỹ xâm nhập vào Việt Nam”.
Đảo qua
tục ca trước. Phải nói đây là những bài ca dùng những từ tục
thiệt tục. Những bộ phận L..., C... được hát thoải mái. Không
biết có phải vì không có ca sĩ nào dám hát hay không mà ông tự
hát lấy và chỉ phổ biến hạn chế trong vòng thân hữu. Vẫn lời
Phạm Duy:
– “Hai vị viết sách, viết báo về tôi là Tạ
Tỵ và Georges Gauthier đều cho rằng cái vui, cái tếu không phải
là chất liệu Phạm Duy, cho nên tục ca không thành công. Chưa kể
có người chê tôi đi tới chỗ nhảm nhí trong nghệ thuật. Tôi cũng
hiểu được vì sao có những người chống đối tục ca dù họ không
biết cặn kẽ nội dung của nó. Tôi không hề tung tục ca ra quần
chúng. Tôi chỉ tặng vài người bạn thân một băng cassette ghi lại
buổi hát chơi ở Vũng Tầu và còn dặn dò đừng phổ biến!. Trong tủ
nhạc của tôi vẫn giữ cuốn cassette tục ca này do nhạc sĩ Trường
Kỳ tặng.
Mười bài tục ca đó có tên như sau:
– Em Như Cục Cứt
Trôi Sông,
– Tình Hôi,
– Gái Lội Qua Khe,
– Úm Ba La Ba
Ta Cùng Khỏi,
– Bà Già Khỉ Đột Giao Hoan,
– Mạo Hóa,
–
Nhìn L...,
– Em Đ...,
– Chửi Đổng, và
– Cầm C...”
Vỉa hè ca có nhan đề là những tiếng lóng. Phạm Duy cho biết:
– “Lúc tôi soạn vỉa hè ca là lúc quân đội ngoại quốc đổ
bộ ào ạt vào Việt Nam. Trước sự xâm nhập của nền văn minh vật
chất, một số người mình quả thật có chạy theo lối sống Âu Mỹ! Sự
ham muốn những gì quá tầm tay của mình, chẳng hạn già như tôi mà
còn mê gái sẽ bị gái nguýt cho một cái: ‘Xí! Già mà ham!’”.
Già mà ham, tiếng lóng này ai cũng rõ nghĩa. Chỉ có
anh Yamaha của Nhật loạng quạng vướng phải khiến dơ đầu chịu
tiếng thế cho chữ tiếng lóng Việt Nam.
Sức Mấy Mà Buồn,
đây là tiếng lóng xuất hiện vào thập niên 60 của thế kỷ trước.
Sức mấy có nghĩa là bất lực hay chuyện không thể làm được. Nó
phổ biến đến nỗi từ tổng thống, phó tổng thống, tướng tá, nhà
văn, nhà thơ, nhà báo tới các em bé đánh giầy trên vỉa hè đều
dùng thoải mái trong văn viết cũng như văn nói. Thông thường
tiếng lóng chỉ được nói chứ ít khi được viết ra trên báo chí
sách vở. Vậy mà ông ký giả Đinh Từ Thức của các nhật báo đứng
đắn như Tự Do, Sống, Hòa Bình, Chính Luận còn dùng bút hiệu Sức
Mấy để viết “phim” trên báo.
“Phim”
trên báo không phải là phim ảnh mà là mục... phiếm phải
có trên các nhật báo Sài Gòn ngày đó. Mục “phim” nổi tiếng nhất
là Ao Thả Vịt của Chu Tử trên báo Sống. Ngày đó báo chí còn nói
tới tiếng lóng “khều mặt trời” nhưng chắc ít người còn nhớ.
Chuyện như vầy: Sau khi dinh Độc Lập bị hai phi công Phạm Phú
Quốc và Nguyễn văn Cử bỏ bom làm hư hại, kiến trúc sư giải Khôi
Nguyên La Mã Ngô Viết Thụ được mời thiết kế dự án tái thiết
dinh. Trong buổi lễ khai mạc dinh mới, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ
đã giải thích về kết cấu dinh. Khi nói về những tấm rèm đá hình
cây trúc, quốc huy của Việt Nam thời Tổng thống Ngô Đình Diệm,
nằm khắp mặt dinh, ông nói những tấm màn đá này được thiết kế để
có thể đón ánh sáng mặt trời ùa vào hành lang. Báo chí thời đó
nhạo việc đón ánh sáng mặt trời này là “khều mặt trời”. Thời
gian đó, tôi được nhật báo Dân Ý mời viết mục phim trên trang
nhất mỗi ngày, tôi đặt tên mục phim đó là “Khều Mặt Trời” và ký
tên “Thầy Khều”. Sau này, khi đứt phim, kiến trúc sư Ngô Viết
Thụ và tôi đều bị lùa vào trại học tập Long Thành, cùng ở chung
nhà số 2. Tôi nằm trong “tổ trang hoàng” chuyên vẽ bích họa trên
tường và trồng cây cho trại, tổ trưởng là Kiến trúc sư Ngô Viết
Thụ. Khi đó, nghĩ tới chuyện khều mặt trời, tôi cười một mình,
chẳng dại chi mà khai với ông kiến trúc sư. Khi cả hai chúng tôi
được thả về, tôi vẫn lui tới chơi với ông tại nhà riêng trên
đường Đoàn Thị Điểm (?), gần vườn Tao Đàn.
Trong vỉa hè
ca của Phạm Duy có câu: “Sức mấy mà buồn, buồn ơi bỏ
đi Tám”. “Bỏ đi Tám” cũng là một tiếng lóng của
dân Sài Gòn. Sao không Bảy hay Chín mà lại Tám? Tiếng
lóng này xuất hiện tại Sài Gòn vào khoảng đầu thế kỷ 20. Thời đó
chuyện xưng hô thứ bậc trong xã hội được phân chia theo giai cấp
rất cứng nhắc:
– Thứ nhất là các ông tây hay các
vị quan lại người Việt, giới quyền quý ăn trên ngồi
trốc trong xã hội.
– Thứ hai là các công chức làm
việc cho nhà nước. Họ là dân có học, được gọi là các
thầy Hai thông ngôn hay thày Hai ký lục, thày Hai thư ký.
– Thứ ba là các thương gia Hoa Kiều, có
tiền và có truyền thống bang hội tương trợ liên kết với nhau. Họ
không có quyền nhưng gần với giới cầm quyền nên các “chú Ba”
đương nhiên là một thế lực đáng vị nể của giới bình dân Sài Gòn.
– Thứ tư là các đại ca giang hồ chuyên sống
bằng nghề đâm chém nhưng có tình nghĩa. Các “anh Tư dao búa” vừa
là hung thần khiến dân chúng sợ sệt, vừa được sự ngưỡng mộ của
giới bình dân cũng như các tiểu thư khuê các.
–
Thứ năm là giới lưu manh hạ cấp, các “anh Năm” đá cá
lăn dưa, móc túi giật đồ, cò mồi mãi dâm mà dân chúng khinh
nhưng sợ.
– Thứ sáu là các “thày sáu mã tà” tức
các cảnh sát phú lít có nhiệm vụ giữ trật tự bị dân
buôn gánh bán bưng ghét vì chuyên đạp đổ nồi cơm của họ, bị dân
chúng khinh vì ăn hối lộ tạp nhạp lấy tiền nhẩm xà nhưng cũng
được dân sợ vì có uy có quyền.
– Thứ bảy là các
“anh Bảy Chà Và” chuyên cho vay nặng lãi, lại có thể
dùng tiền tùng phùng với giới chức người Pháp bị dân chúng ghét
nhưng vẫn sợ, nhất là những người buôn gánh bán bưng phải vay
vốn nặng lãi.
– Thứ tám là giới bình dân nghèo
khó, dân ngu khu đen, đổi sức kiếm miếng ăn như phu bốc
vác, chị ở đợ, gánh nước bồng em hoặc các phu kéo xe. Tuy giới
này có số đông nhưng yếu thế nhất vì thất học, không có quyền,
và có tiền như thày Hai, anh Ba, không bặm trợn như các “anh
Tư”, “anh Năm” nên bị bắt nạt, áp bức từ mọi phía. Muốn yên thân
phải cắn răng chịu thiệt, nhẫn nhục sống, chuyện chi cũng “bỏ
đi Tám”!
Thành phần thứ ba kể trên là các chú Ba.
Đây là một lực lượng đông đảo, đoàn kết. Chẳng thế mà họ có cả
khu vực Chợ Lớn to đùng. Dân ta không ưa nhưng vẫn nể phục họ,
gọi họ bằng nhiều chữ: Ba Tàu, Các Chú, Khách, Chệt
hoặc Chệc.
Gia Định Báo
phát hành ngày 16/2/1870 giải thích như sau: “An–nam
ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây,
lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu,
hàng Tàu, đồ Tàu v.v.”
Từ Ba–Tàu có cách giải thích
như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép
người Hoa làm ăn và sinh sống:
– Vùng Cù Lao Phố (Đồng
Nai),
– Sài Gòn–Chợ Lớn,
– Hà Tiên.
Từ “Tàu”
bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam,
nhưng dần từ “Ba Tàu” lại mang nghĩa
miệt thị, gây ảnh hưởng xấu. Kêu “Các–chú”
là bởi người Minh–hương mà ra; mẹ An–nam cha Khách nên nhìn
người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với
cha mình, nên mới kêu là Các–chú nghĩa là anh em với cha
mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm
vậy. Còn kêu là “Chệc” là tại tiếng
Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ
phép, cũng như An–nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú,
bác thì kêu tâng là chú là cậu, vân vân. Người An–nam ta nghe
vậy vịn theo mà kêu các ảnh là “Chệc”. Dân ta còn kêu họ là
Khựa, thím Xẩm hoặc Chú Ba.

Thành phần thứ tư là các đại ca trong giới giang hồ. Tiếng
lóng gọi là dân chơi, chúng ta có “dân chơi cầu Ba Cẳng”. Nghe
tới “dân chơi cầu Ba Cẳng” chúng ta dễ nghĩ là những tay giang
hồ nghĩa hiệp trừ gian diệt bạo nhưng không phải. Cầu Ba Cẳng là
một cây cầu chỉ dành cho người đi bộ, được thiết lập từ khi Sài
Gòn mới hình thành. Tên chính thức của cầu là “Pont des Trois
Arches” (Cầu Ba Vòm), sau dân gian gọi là cầu Ba Miệng, cầu Ba
Chưn rồi Cầu Ba Cẳng, cái tên còn tồn tại đến ngày nay. Cầu nằm
ở ngã ba của con kênh Hàng Bàng đổ ra rạch Tàu Hủ. Ba chân cầu
đáp xuống bến Bãi Sậy, bến Nguyễn văn Thành, và bến Vạn Tượng.
Nhiều người, trong đó có tôi, không rành địa thế khu vực Chợ Lớn
nên nghe mà bù trất. Chỉ cần biết cầu Ba Cẳng chỉ cách chợ Kim
Biên vài trăm thước là đủ. Ông Năm Nghị, cư dân địa phương, 75
tuổi, kể lại:
“Thời ấy dân giang hồ chia nhau cát cứ
những khu vực làm ăn đông đúc để bảo kê thu lợi. Nhóm giang hồ ở
cầu Ba Cẳng chuyên lừa đảo để kiếm tiền, kiếm tình nhưng dám làm
mà không dám chịu, luôn tránh né khi gặp chuyện. Nổi bật nhất
trong giới giang hồ cầu Ba Cẳng là Mã Ban, không chịu học hành,
lao vào ăn chơi. Bị mẹ la mắng, Mã Ban bỏ học, thu thập đàn em,
làm bảo kê cho các cửa hàng trong khu vực nên có tiền ăn chơi
phủ phê. Vợ Mã Ban là con một thương gia người Hoa giầu có. Khi
Ban tới tuổi quân dịch, cha vợ dùng tiền lo cho Ban trở thành
cảnh sát. Có tiền, có thế, Ban tha hồ ăn chơi.” Ông Năm
Nghị nói:
“Giới giang hồ và cảnh sát như mặt trời với
mặt trăng, thế mà Mã Ban chấp nhận trở thành cảnh sát khiến đàn
em không phục. Từ đó tiếng lóng ‘dân chơi cầu Ba Cẳng’ ra đời
nhằm phân biệt với giới giang hồ thứ thiệt như Đại Cathay chẳng
hạn”.
Giang hồ Đại Cathay chắc nhiều người đã nghe
danh. Chuyện kể thời đó tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Cảnh
Sát, rất chịu chơi, quyết thực hiện chiến dịch bài trừ du đãng.
Ông lập ra biệt đội hình cảnh để hành động. Ông chiêu dụ Đại
Cathay nếu từ bỏ làm đại ca nhóm giang hồ, giúp ông dẹp được du
đãng Sài Gòn, ông sẽ mời gia nhập lực lượng cảnh sát với chức
Đại uý, Cảnh Sát Trưởng một quận ở Sài Gòn. Đại Cathay khảng
khái trả lời: “Tôi không thể làm hài lòng Chuẩn
tướng được. Tôi chấp nhận như thế thì còn mặt mũi nào nhìn ai ở
đời này”.
Đại Cathay chính là hình mẫu của
nhân vật Trần Đại trong cuốn truyện “Điệu Rơi Nước Mắt” của
Duyên Anh. Theo tác giả Duy Chính, cuộc hội ngộ giữa Duyên Anh
và Đại Cathay xảy ra khi Duyên Anh nhờ một đàn em của Đại Cathay
là Hùng Đầu Bò dàn xếp cuộc gặp gỡ. “Nhà văn Duyên Anh (tên thật
là Vũ Mộng Long) từ Bắc di cư vào Nam, lúc này đã nổi tiếng với
nhiều tác phẩm cho thanh thiếu niên, đang là chủ bút tờ Tuổi
Ngọc, quen Hùng ‘đầu bò’, nghe kể, tỏ ra thích thú. Hùng ‘đầu
bò’ xin ý kiến Đại Cathay. Để tỏ ra là người biết trọng nghệ
thuật, Đại cho mời nhà văn Duyên Anh đến đàm đạo trong tiệm hút
thuốc phiện Đông Kinh trên đường Ngô Tùng Châu, nay là đường Lê
Thị Riêng, quận 1...” Nhà văn Duyên Anh nói:
– “Anh giống
như nhân vật bước ra từ trang sách của Francoise Sagan!”.
Nghe đến đây, dù chẳng biết nhà văn Francoise Sagan là ai
nhưng cũng khiến Đại Cathay sung sướng muốn rụng rời chân tay.
Hắn quay lại hỏi đàn em một câu khiến ông nhà văn cụt hứng:
– “Sagan... là ông nào vậy?”.
– Lâm chín ngón phải kề
tai nói nhỏ là nữ văn sĩ Pháp, chuyên viết về bụi đời, được giải
Nobel...
Đại càng thích hơn, mời nhà văn nhậu mấy chập.
Một thời gian sau Duyên Anh cho xuất bản tiểu thuyết “Điệu ru
nước mắt” rất nổi tiếng. Nhân vật chính là Trần Đại, lấy nguyên
mẫu từ Đại Cathay. Có khác chăng nhân vật Trần Đại trong “Điệu
ru nước mắt” xuất thân là con nhà giàu, học giỏi nhưng chán ghét
thời cuộc, bỏ nhà theo tiếng gọi giang hồ, làm đại ca nhưng vô
cùng nghĩa hiệp, cứu giúp kẻ thân cô thế cô, dám đánh cảnh sát
ăn hối lộ. Cuối cùng, vì chung thủy với mối tình vô cùng lãng
mạn, đã chết trên hàng rào kẽm gai một cách lâm li bi tráng...
Hùng “đầu bò” tìm mua quyển tiểu thuyết, mừng lắm, đem về
cho đại ca. Những phần đầu Đại Cathay đọc sướng lịm ngất ngây,
lim dim thưởng thức. Tuy nhiên, ở phần kết, Đại Cathay nổi khùng
lên khi đọc tới đoạn nhân vật Trần Đại nằm vắt trên hàng rào mà
chết.
Hắn thét lên:
– “Thằng Duyên Anh đáng chết, dám
chơi xỏ tao. Tao thế này mà phải lụy đàn bà đến khô cả xác à?
Tụi bay tìm cắt gân chân cho tao!”.
Mấy tên đàn em “có
chữ” như Hùng “đầu bò”, Hoàng ghi ta xúm lại can ngăn, rằng đó
là hư cấu, “chết rất đẹp” chứ không phải “lụy đàn bà”.
Đại nhất quyết phải “luộc” Duyên Anh cho bằng được.
Hùng
“đầu bò” vốn quen biết nhà văn Duyên Anh, lại hiểu rõ tại đại ca
“dốt” chữ chứ không phải nhà văn chơi xỏ nên lo cho nhà văn, mật
báo tin dữ. Duyên Anh nghe tin báo, rụng rời chân tay, không kịp
lấy quần áo, vội vàng dông thẳng lên Đà Lạt trốn đòn thù. May
cho Duyên Anh là cuối năm ấy (1966), Đại Cathay bị cảnh sát tống
ra đảo Phú Quốc, mới dám trở về Sài Gòn.
Tiếc cho cuộc
đời Đại Cathay, y không kịp sống để xem bộ phim “Điệu
ru nước mắt” do hai diễn viên nổi tiếng thời bấy
giờ là Trần Quang và Thanh Nga đóng. Cái chết của Trần Đại trong
phim và giọt nước mắt của người yêu tên Loan đã làm xúc động thế
hệ khán giả thời bấy giờ vì đẹp như cái chết của “Romeo và
Juliet!”
Không biết có bao nhiêu phần sự thật trong
chuyện kể của tác giả Duy Chính này nhưng nghe thấy khoái lỗ
tai. Tháng 8/1966 Đại Cathay bị bắt. Ngày 28/11/1966, một chiếc
máy bay C47 chở Đại Cathay và nhiều du đãng khác ra giam ở Phú
Quốc. Không chịu khuất phục, tay giang hồ khét tiếng liên lạc
với vợ gửi 60 cây vàng ra lo lót cho cai ngục để đào thoát. Kế
hoạch bị Tướng Loan biết và cho cảnh sát mai phục bắn chết. Khi
đó Đại Cathay vừa tròn 26 tuổi.
Tiếng lóng Sài Gòn nổi
tiếng nhất có lẽ là “OK Salem”. Tôi
chắc là tới ngày nay mọi người vẫn chưa quên từ “OK
Salem”. Có điều vui vui là ngay chữ OK đã là một
tiếng lóng của Mỹ. Có nhiều giả thuyết về tiếng lóng ngày nay
được dùng khắp nơi trên thế giới này. Một số người cho chữ này
bắt nguồn từ chữ “okeh” của bộ lạc da đỏ Choctaws ở châu Mỹ.
Nghĩa của “okeh” là... OK. Theo nhà ngôn ngữ học Allen Waiker
Read, OK là dạng viết tắt của cụm từ “All Correct”. Lại có người
cho OK là chữ viết tắt bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp. Giả thuyết sau
đây có vẻ bài bản hơn. Vào thập niên 1830, những nhà trí thức
trẻ ở Boston muốn có một cách giao tiếp đặc biệt nên quyết định
tạo ra những mật mã ngôn ngữ riêng nội bộ. Công thức tạo từ của
họ là: cố tình viết sai chính tả những cụm từ phổ biến để tạo ra
từ đồng âm vô nghĩa, sau đó thì lấy hai chữ cái đầu tiên dùng
làm mật mã. Điều này dẫn tới xu hướng tạo ra những từ viết tắt
như KC là “Knuff Ced” (enough said – nói đủ rồi) và OW là “oll
wright” (alright – tốt). Trong đó từ viết tắt nổi tiếng hơn cả
chính là OK: “oll korrect” tức “all correct” – “tất cả đều
đúng”. “All correct” đã được sử dụng thường xuyên ở cuối các văn
bản với mục đích xác nhận những thứ nêu trên đều chính xác. Cách
viết tắt “OK” chỉ thật sự trở nên thông dụng khi được báo Boston
sử dụng lần đầu tiên vào thứ Bảy ngày 23/3/1839. Những tờ báo
khác cũng dần sử dụng “OK”, biến nó thành một từ được hiểu biết
rộng rãi chứ không còn là ngôn ngữ riêng của giới trẻ Boston
nữa.
Tổng thống thứ 8 của Hoa Kỳ Martin Van Buren đã
quyết định sử dụng “OK” làm biệt danh tại các cuộc vận động tái
tranh cử vào năm 1840. Ông đến từ Kinderhook, New York và đã áp
dụng khẩu hiệu: Old Kinderhook was “oll korrect” (Người đàn ông
già đến từ Kinderhook luôn luôn đúng), viết tắt cực kì bắt mắt:
OK was OK. Những người ủng hộ Martin còn lập ra những “Câu lạc
bộ OK”, còn những kẻ phản đối sẽ áp dụng công thức ban đầu của
các nhà tri thức trẻ Boston để tạo nghĩa mới cho OK như “Orful
Katastrophe” (awful catastrophe – thảm họa tệ hại) để làm nhục
tổng thống. Martin sau đó đã thua cuộc tranh cử này nhưng những
hoạt động tranh cử của ông đã đủ làm từ “OK” nổi tiếng khắp nước
Mỹ. Khi KC hay OW dần đi vào quên lãng, “OK” ngày càng phổ biến.
Năm 1844, máy điện báo được phát minh và mọi người cần một cách
ngắn gọn và hiệu quả để xác minh đã nhận được tin nhắn. “OK” đã
được chọn và các hướng dẫn sử dụng điện báo ghi rõ rằng tất cả
tin điện báo phải được hồi âm với tín hiệu “OK” khi nhận.
Ngày 8/3/1965, những quân nhân đầu tiên của
Tiểu Đoàn 3, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, đổ bộ xuống Đà Nẵng, tiếng
lóng OK đã theo chân các chú G.I. du nhập vào Việt Nam. OK lập
tức được Việt hóa thành “OK Salem” khi
dân đạp xích lô, trẻ đánh giầy chạy theo lính Mỹ chìa tay xin
thuốc lá hay kẹo cao su. Càng ngày số lính Mỹ tại Việt Nam càng
gia tăng. Họ có mặt trên nhiều tỉnh thành. Các quán snack bar
mọc lên như nấm để phục vụ nhu cầu giải trí của họ. Khác với các
snack bar bên Mỹ là những cửa hàng bán thức ăn nhẹ, xì–nách–ba ở
Việt Nam là nơi uống rượu giải sầu của đám thanh niên trai tráng
xa nhà. Giải sầu phải có các cô gái ngồi bên cùng uống mới có
ép–phê nên một loạt các cô gái bán bar với áo quần cũn cỡn, đổ
xô nhau hành nghề. Họ không uống rượu mà mè nheo lính Mỹ mua “Saigon
tea” với giá khoảng 1 đến 2 đô một ly cho họ uống.
“Saigon Tea” trở thành một tiếng
lóng mà anh lính Mỹ nào cũng nằm lòng. Các cô gái bán ba thường
ít học, không biết tiếng Mỹ nên sáng chế ra các tiếng lóng giả
cầy mà anh lính Mỹ nào cũng hiểu như :
– “No star
where” (Không sao đâu),
– “Buy me Saigon tea”
(Mua Saigontea cho em).
Tiếng Mỹ giả cầy còn có từ “number
one” mà ta gọi là “số dzách”. Thành phần bình dân
giao dịch với lính Mỹ muốn khen anh G.I. chi xộp chỉ cần giơ một
ngón tay: “You number one”. Vậy là hai bên đều hiểu là
một câu khen. Trái ngược lại “number ten” là câu chê.
Thậm tệ hơn là câu chê “năm–bơ–ten tháo giường”. Đó là
phiên âm của “number ten thousand”!
Sài Gòn là
thành phố rất sinh động nên thời nào cũng phát sinh ra tiếng
lóng của thời đó. Thời Pháp thuộc, nhà bưu điện gọi là “nhà
dây thép”, con tem gọi là “con cò”, cảnh sát
trưởng một quận được gọi là “ông cò”, nhân viên sửa
morasse tại các tòa báo là “thầy cò”, tay môi giới chạy
việc là “cò mồi”, tiền môi giới chạy việc gọi là “tiền
cò”. Không biết có còn những “cò” nào khác không?
Khi kinh tế phát triển:
– xe hơi có
tiếng lóng là “xế hộp”,
– xe ngựa là “ôtô hí”,
– xe đạp là “xế độp”,
– đi nhảy đầm là “đi bum”,
– đi tán gái là “chim gái” hoặc “cua gái” hay
“o mèo”,
– cua gái với ý đồ xấu là “bắt bò lạc”,
– đi ngắm gái là “đi nghễ”,
– quần là “quởn”,
– quần áo xịn diện đi chơi là “đồ vía”,
– chơi tứ
sắc là “đi xòe”,
– đánh chắn là “múa quạt”,
– chơi mạt chược là “đi xoa”,
– đi uống rượu là “đi
nhậu”,
– tiền bạc gọi là “địa”,
– nhiều tiền
là “đông địa”,
– làm tiền người khác là “bắt địa”,
– ăn cắp là “chôm chỉa” hay “nhám tay” hoặc “cầm
nhầm”,
– tuyệt vời là “hết sảy”,
– không giữ lời hứa
là “xù”,
– bố mẹ là “ông bà via” hoặc “khứa
lão”.
Cái chết thường bị kiêng kỵ, ít được
nhắc tới. Vậy mà tiếng lóng Sài Gòn có tới 7 tiếng lóng chỉ cái
chết:
– tịch,
– hai năm mươi,
– mặc sơ–mi
gỗ,
– đi ô tô bương,
– chầu Diêm vương,
– đi bán muối,
– hui nhị tỳ.
Kể cũng... can đảm.
Dân làng
báo chúng tôi hồi đó cũng là vua tiếng lóng:
–
Báo hàng ngày gọi là “nhật trình”. Nhật trình ra hàng
ngày nên những giờ trước khi báo ra tòa soạn nhộn nhịp như đánh
vật. Kẻ chạy ra, kẻ đi vô,
– Cột báo thiếu mấy phân cần
trám vô, vậy là “tin kho tiêu” được moi ra. Tin kho
tiêu là tin không cần thời gian, cứ vứt đó, khi nào có một
khoảng trống cần ráp vô là moi ra xài.
– Các nhật báo
ngày đó thường có mục “Xe Cán Chó, Chó Cán Xe” đăng
những tin hạng nhì, vậy mà cột báo này lại ăn khách. Hầu như
trong mỗi người chúng ta đều có tính tò mò nằm vùng. Tin loại
“chó cán xe” đáp ứng được cái tính đó.
– Những tin quan
trọng được gọi là “tin vơ–đét”, nhại từ chữ tây
vedette, được bưng lên trang nhất.
– Tóm tắt tài liệu
thành một bài tóm gọn gọi là “luộc bài”,
– Chắp
nhiều nguồn vào thành một bài gọi là “xào bài”.
– Tin tung ra để thăm dò dư luận là “tin ba–lông”. Đây
là một thứ tin có thể có thật chưa được tiết lộ, tung ra để coi
phản ứng của độc giả. Tin ba–lông khác với “tin phịa” là tin
hoàn toàn bịa đặt. Điển hình là phóng sự “Con Ma Vú Dài tại Khám
Chí Hòa” của báo Trắng Đen vào đầu thập niên 1960.
Báo
hàng ngày hồi xưa đều phải có truyện dài hàng ngày, gọi lả
“feuilleton”, để giữ độc giả. Đây là chiêu cạnh tranh nhau khốc
liệt nhất. Đầu tiên chỉ một truyện, rồi leo thang lên dần tới cả
chục truyện. Có lúc ông Thứ Trường Bộ Thông Tin Trần Ngọc Huyến
phải ra lệnh giới hạn mỗi báo chỉ được đăng một truyện
feuilleton thôi. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, khi ông Phạm
Thái nắm bộ Thông Tin đã cởi trói cho đăng thả giàn. Các nhà văn
Mai Thảo, Văn Quang, Nguyễn Thụy Long, Duyên Anh, và nhiều nhà
văn nổi tiếng khác đều đã cầm tiền feuilleton. Mấy ông nhà văn
thường lười, viết truyện feuilleton thì không lười được, mỗi
ngày phải trám đủ mấy cột báo. Nhờ vậy mà các ông có tác phẩm
xuất bản sau khi đăng báo. Phần lớn tiểu thuyết của Mai Thảo đều
là sản phẩm mì ăn liền từ feuilleton. Nhưng rầm rộ nhất của
truyện feuilleton là ông nhà văn Kim Dung sống ở Hồng Kông.
Truyện của ông được đăng hàng ngày trên báo Hồng Kông bằng tiếng
Hoa, nhiều báo Việt Nam đăng lại.
Người tiên phong dịch
truyện Kim Dung là Tiền Phong Từ Khánh Phụng. Ông này người Minh
Hương, thường được gọi tên là “Sìn Phoóng”, đọc chữ Hoa nhanh
như chớp. Truyện đầu tiên ông dịch là Bích Huyết Kiếm đăng trên
báo Đồng Nai. Một dịch giả trẻ thông thạo chữ Hán là Tam Khôi
“cạnh tranh” dịch bộ Anh Hùng Xạ Điêu cũng của Kim Dung đăng
trên tờ Dân Việt. Từ đó báo chí Sài Gòn rộ lên truyện Kim Dung.
Một loạt các dịch giả truyện Kim Dung từ đó nổi lên
được các báo trải chiếu hoa đón chào:
– Hàn
Giang Nhạn,
– Từ Khánh Vân,
– Phan Cảnh Trung,
– Đà
Giang Tử,
– Tường Anh,
– Lã Phi Khanh,
– Vũ Ngọc,
–
Dương Quân,
– Khưu Văn,
– Cao Tự Thanh,
– Lê Khánh
trường,
– Đông Hải,
– Hoàng Ngọc (Huỳnh Ngọc Chiến),
–
Vũ Đức Sao Biển,
– Ngọc Thạch Hữu Nùng,
– Phạm Tú Châu.
Truyện Kim Dung đăng trên Minh Báo ở Hong Kong, mỗi ngày chỉ
vài ngàn chữ. Nhưng vài ngàn chữ này là vàng ròng được gửi theo
máy bay đi khắp nơi trong đó có Việt Nam. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa,
Sài Gòn chỉ có 9 nhật báo. Tháng 12/1963, sau đảo chánh, có tới
44 tờ. Tất cả đều có đăng truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Có khi
máy bay từ Hồng Kông qua chậm, các dịch giả, các chủ báo, và các
độc giả vò đầu bứt tai như đỉa phải vôi. Hàn Giang Nhạn là dịch
giả được các chủ báo o bế nhất. Ông dịch cho cả chục tờ báo. Khi
nhận được tờ Minh Báo, ông nửa nằm nửa ngồi trên ghế trường kỷ,
mắt đọc, miệng dịch cho người thư ký ngồi bên cạnh ghi lại,
chung quanh là các tay chạy bài của các báo có hợp đồng ngồi
chờ. Người thư ký ghi trên một sấp giấy có kẹp giấy than để viết
thành nhiều bản. Ngưởi thư ký đó là ông Nguyễn văn Tầm sau này
kể lại:
“Nhà của Hàn Giang Nhạn tiên sinh ngày ấy ở
Bàn Cờ. Buổi sáng, tiên sinh vừa uống cà phê xong là đã có 12
anh tùy phái của các nhật báo tới chờ. Tiên sinh mở tờ Minh Báo
ra và cứ thế mà dịch và đọc cho tôi viết bằng tay. Tôi phải lấy
12 tờ giấy pelure loại mỏng, lót 11 tờ carbon, cố gắng ấn đầu
bút Bic xuống thật mạnh để ‘lực đạo’ có thể in qua 12 tờ giấy.
Hễ tùy phái nào đến trước thì được bản ở trên, ai tới sau phải
chịu lấy bản ở dưới. Cho nên chữ nghĩa lộn xộn, cùng một dịch
giả mà báo này in khác báo kia”.
Mấy ông sắp chữ ở
các tòa báo hẩm hiu nhận phải bản mờ căng mắt lên vừa đọc vừa
đoán, có khi chữ tác đánh ra chữ tộ, nên bản dịch do cùng một
người dịch mà mỗi báo in một phách! Cũng từ truyện chưởng Kim
Dung, các nhà văn thứ thiệt khi viết phim đã dùng tên các nhân
vật trong truyện làm bút danh như:
– Kiều Phong (Lê Tất
Điều),
– Hư Trúc (Nguyên Sa),
– Kha Trấn Ác (Chu Tử).
Truyện chưởng Kim Dung phổ biến như vậy nên có nhiều tiếng
lóng ăn theo. Như “Nhạc Bất Quần” chỉ người ngụy quân tử, “Đoàn
Chính Thuần” chỉ đàn ông đa tình nhiều vợ. Ngôn ngữ vỉa hè còn
có “tẩu hỏa nhập ma”, “cho một chưởng”, “nhất dương chỉ”.
Cuối cùng tôi không thể bỏ qua một tiếng lóng thời thượng
còn sống lay lắt tới tận bi chừ: “xưa rồi Diễm”. Ai cũng biết
chữ lóng này bắt nguồn từ bản nhạc Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn.
Bản nhạc này là một trong những bài nổi tiếng nhất của nhạc sĩ
họ Trịnh, không chỉ ở Việt Nam. Tại hội chợ Osaka năm 1970, ca
sĩ Khánh Ly đã hát lời Nhật của Diễm Xưa dưới nhan đề:
Utsukushii mukashi. Dân Nhật kết bài hát này liền. Họ đã chọn
Diễm Xưa Utsukushii mukashi là một trong 10 tình ca hay nhất mọi
thời đại tại Nhật. Ca sĩ Nhật Yoshimi Tendo đã hát lời Nhật bản
Diễm Xưa và được xếp hạng 11 trong 20 ca khúc hay nhất trên
truyền hình. Đài truyền hình Nhật NHK đã chọn bản Diễm Xưa làm
nhạc chính cho một bộ phim nói về cuộc hôn nhân của một ông Nhật
lấy vợ Việt Nam. Năm 2004, Đại học Kansai Gakuin đã xuất bản một
cuốn sách viết về bản Diễm Xưa có kèm theo DVD khi đưa bản nhạc
này vào chương trình học môn “Văn Hóa và Âm Nhạc” của trường.
Nhân vật của bản nhạc, Ngô Vũ Bích Diễm, sau khi tốt nghiệp
ban Đốc sự trường Quốc Gia Hành Chánh, đã về làm việc với tôi
tại Bộ Xã Hội. Trong những lần chuyện trò tâm sự, cô cho biết
hồi đó còn nhỏ, ở gần nhà Trịnh Công Sơn tại Huế, thường đi
ngang qua nhà Trịnh Công Sơn, khiến người nhạc sĩ đa tình cảm
hứng viết thành nhạc. Khi tới tuổi, cô “tỉnh bơ” đi lấy chồng!
Tôi không sanh trưởng ở Sài Gòn nhưng là dân Sài Gòn. Mỗi
lần có dịp viết về những chuyện Sài Gòn tôi lan man không dứt ra
được. Từ khi bị đổi tên, thành phố làm mặt lạ với dân Sài Gòn
xưa. Sài Gòn của tôi, trong tôi vẫn là những kỷ niệm không bao
giờ phai, trong đó có tiếng lóng của Sài Gòn.
Song Thao
nguồn:
song thao đót com

Phụ lục
Phần ý kiến của độc giả.
06/2025
Sài Gòn vào thời đại nào cũng có tiếng
lóng, các quốc gia khác cũng vậy, ngôn ngữ dân gian mà, phần lớn
tiếng lóng là tiếng xuất phát từ trong giới lê la ngoài đường
phố, hàng quán... Mọi người trong sinh hoạt cộng đồng nghe nói
hoài riết rồi quen tai nên không thấy khó chịu nữa. Ở đâu quen
đó, mình không còn ở trong nước nữa thì thắc mắc, khó chịu làm
gì? Trái lại tôi thấy vui khi nghe người trong nước dùng những
từ thời đại ngộ nghĩnh. Tôi không phân tích họ nói như vậy là
đúng hay sai vì nhận định của tôi sẽ không vô tư mà có thành
kiến.
Tiếng Việt của tôi hiện giờ là tiếng Việt cổ xưa
tôi mang theo từ nửa thế kỷ trước, đã thành “xưa quá rồi
Diễm” so với tiếng Việt trong nước bây giờ. –Chả Quế

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày thứ
Bảy, February 21, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH