

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tản mạn Tết
Chủ đề:
phong tục
Tác giả: Kiêm Đạt

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

GIAO THỪA
– cũ giao lại, mới tiếp lấy. Đúng vào lúc giao tiếp
như thể có lễ Trừ Tịch. Sau lễ giao thừa, gia chủ phải làm lễ
Thổ Công rồi sửa soạn đi lễ Chùa, xông đất, hái lộc, xin xăm.
Khi đi lễ, phải tính giờ xuất hành, tùy theo hạng tuổi, hưởng
xuất hành nào cho thích hợp.
Nguyên Đán: nguyên là bắt
đầu, đán là buổi sớm mai, là Tết bắt đầu cho một năm mới. Trong
3 ngày Tết phải phân chia:
– mồng 1 Tết mừng xuân lễ gia
tiên,
– mồng 2 Chơi Ngõ, mừng tuổi, thăm bà con, lân cận,
– mồng 3 Chơi Đình, liên hoan với làng sớm.
Dân ta khởi
đầu tính toan từ ngày đầu năm, có câu: “Chi kế, khởi ư xuân”.
PHIÊN CHỢ TẾT
Ở miền Bắc nước ta, có nhiều địa
phương, thường tổ chức những phiên chợ Tết như: Chợ Đồng ở tỉnh
Hà Nam, chợ Viềng ở tỉnh Nam Định. Theo quan niệm cổ truyền thì
những phiên chợ như vậy “giúp cho mọi người đến trút hết cái đen
đủi của mình trong năm. Kể cả cái khôn dại, ngược lại, còn tin
tưởng là đón cái hạnh phúc cũng ngoan về với mình” (theo Phạm
Văn Sơn). Thành thử ra, người ta cứ mang đồ vật, hàng hóa ra chợ
bán, bán đắt, bán rẻ gì cũng được. Ở vùng Nghệ Tĩnh, cũng có tục
tương tự như thế. Thường thường các phiên chợ này tổ chức vào
ngày một tháng Giêng, có khi có cả kẹo bánh, họ bán không cần
lãi. Khách thương rao “Ai mua dại thì mua, ai muốn dại thì mua”.
Nếu người bán có sự mê tín như kiểu ấy, thì chính người đi mua
cũng có lối mê tín ngược lại. Mua như thế không phải là hứng lấy
cái dại, mà thật là chọn cái may.
HÁT TRỐNG QUÂN
Chẳng ai biết rõ hát trống quân đã xuất hiện tự bao giờ và hình
thành từ “trống quân” từ đâu mà ra. Sau đây, xin trình bày một
số giả thuyết:
a. Theo cụ Phan Kế Bính, cuốn Việt Nam
Phong Tục, thì hát trống quân ra đời từ cuối thế kỷ thứ 18 vào
thời Tây Sơn.
b. Theo nhạc sĩ Phạm Duy, bài hát Trống
Quân, tạp chí Mới – 1952, có thể dựa vào ba thuyết sau đây:
1. Vào thời vua Quang Trung, cuối thế kỷ thứ 18, trong quân
đội bày ra lối hát trống quân, cho quân sĩ đỡ nhớ nhà. Theo đó
nếu thuyết này đúng, thì lối hát phải xuất hiện trước triều
Quang Trung.
2. Hát trống quân cũng có thể là con đẻ của
lối hát trung quân, một điệu hát trống quân lính của Nguyễn Huệ.
3. Hát trống quân có thể do bài “Nguyệt Xuất” của người
Trung Hoa từ thế kỷ 12.
BÁNH CHƯNG BÁNH DẦY
Dân
chúng ba miền thường làm hai thứ bánh này vào ngày Tết Nguyên
Đán:
1. Bánh chưng: bọc lá xanh, hình vuông tượng trưng
cho đất nước.
2. Bánh dầy: hình tròn, mặt nổi vòng, màu
trắng, tượng trưng cho trời.
Ý nghĩa của 2 loại bánh này
là công ơn ông bà, cha mẹ to lớn như ơn trời đất.
Sử cũ
có chép: Vua Hùng Vương khi chấm giải thưởng về các món ăn cúng
ông bà trong 3 ngày Tết của 12 người con, đã chấp nhận loại bánh
này với ý nghĩa đặc trưng như vừa kể trên, và đã chối bỏ những
cao lương mỹ vị khác như: gân nai, tay gấu, nem công, chả
phượng.
KIÊNG ĐỘNG THỔ
Theo những tập tục dị đoan,
mê tín ngày xưa, dân chúng tin theo thuyết vật thần linh, cho
rằng: các hiện tượng thiên nhiên trong trời đất, mưa, nắng, sấm
sét... đều thuộc uy quyền của các vị thần thánh. Đất có Thổ
Công; sông có Hà Bá, Thủy thần; núi có Sơn thần. Cũng vì vậy, họ
cho rằng mùa đông là lúc mà cỏ cây tiêu sơ, vạn vật gần như
ngưng hẳn mọi hoạt động. Vì vậy phải kiêng động thổ, tránh cày
bừa, cuốc xới, nhất là vào ngày Tết, chính là khoảng thời gian
mà Thần Đất vắng mặt ở hạ giới.
TỤC XÔNG ĐẤT
Theo
tục xưa, thì người xông đất cũng có ảnh hưởng lớn cho mọi sự làm
ăn, may rủi trong suốt một năm. Vậy, những yếu tố cần kiêng cữ
về người đầu tiên bước vào nhà vào ngày mồng một Tết, sau giao
thừa là:
1. Người có đại tang cha mẹ chưa mãn.
2.
Người gặp vận xấu, thất bại liên miên, trên đà xuống dốc.
3.
Những người vốn đức hạnh hèn kém, xấu.
Thành thử ra, phải
vận động người đến xông đất thuộc nhà nào “ăn nên, làm ra” ngay
sau tiếng pháo giao thừa vừa mới dứt là hay nhất.
CÁC THỨ
KIÊNG CỮ
Vào những ngày đầu năm, muốn tạo một nếp sống
mới, dân chúng thường có nhiều phong tục kiêng khem, giữ gìn mực
sống an lành.
– Kiêng cãi cọ nhau: vì họ tin sẽ ảnh hưởng
đến hòa hợp gia đình suốt cả một năm.
– Kiêng làm vỡ chén
bát: vì đó là báo hiệu cho sự đổ vỡ sản nghiệp, tình duyên, công
danh, hùn vốn lập hội.
– Kiêng ăn thịt vịt: vì vịt tiêu
biểu cho sự xui xẻo, dù làm bao nhiêu rồi cũng “cạp cạp” suốt
năm.
– Kiêng tiếng khóc: vì là biểu hiệu cho điềm chẳng
lành.
– Kiêng khăn tang, chết chóc, mất mát.
–
Kiêng mua vôi đầu năm vì dó là biểu hiệu cho sự vong ân bạc
nghĩa, bạc như vôi. Tốt nhất là mua muối vì là tính chất đậm đà,
tình nghĩa tốt lành. Tục ngữ thường có câu: “Đầu năm mua muối,
cuối năm mua vôi”.
HÁI LỘC ĐẦU NĂM
Hái lộc là xin
ơn mưa móc của Trời Đất. Vào giờ đầu năm, nam thanh nữ tú rủ
nhau đến chùa, nhà thờ lễ bái, khi ra về, ai cũng hái lộc. Lộc
là cành non, nhưng có ý nghĩa là của cải, ơn đức, may mắn của vũ
trụ. Hái được nhiều lộc đầu Xuân, có nghĩa là thu hoạch được
nhiều tiền tài, của cải, làm ăn phát đạt thịnh vượng trong năm.
Đi đôi với việc hái lộc, còn xin xăm, để biết số mệnh mình
diễn tiến may rủi ra sao. Sau khi vào đền khấn vái với tấm lòng
thành bày tỏ nỗi ước mong, họ cầm ống xăm lắc. Nếu một cây xăm
văng ra, thì kết quả lời cầu mong đã đạt. Nếu xăm văng ra nhiều
quá, thì phải làm lại. Cây xăm có số để đổi lấy một bài xăm.
Mang bài xăm ra cổng đền, có những thầy “bói sáng” ngồi để phán
đoán, bình luận, khai triển ý thơ trong năm. Họ đoán nghĩa đen,
nghĩa bóng, tiếng lóng, chiết tự, kể cả thành ngữ điển tích cho
câu chuyện thêm hào hứng. Thông thường bài xăm có 2 phần: vận
may sẽ đến và các điều cần tránh trước. Xem xong xăm, hầu như ai
cũng phấn khởi, vì toàn là “số đỏ”. Và các nhà tiên tri cũng khá
khôn ngoan khi luận bàn, lấy lòng thân chủ với nhiều xảo ngữ,
ngôn ngữ tài tình.
BÓI KIỀU
Trong 3,254 câu thơ
Lục Bát của Đoạn Trường Tân Thanh, câu nào cũng phong phú ý
nghĩa, tha hồ cho chúng ta luận bàn. Bói kiều là cầu nguyện
Nguyễn Du, các nhân vật trong Kiều ứng nghiệm cho ý muốn của
mình. Sau đó, lật một trang bất kỳ nào đó, chỉ vào một câu hay
một đoạn mà đọc. Chỉ cần 2 hay 4 câu, mà họ tin là có thể đoán
được vận mạng suốt năm.
Ví dụ như câu: “Dập dìu tài tử
giai nhân, Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”. Vận mạng “ngựa
xe, áo quần” xuênh xoang như thế, quả là điều tốt lành. Còn gặp
phải câu: “Hoa trôi bèo dạt đã đành, Biết thân mình, biết phận
mình là đâu” hay câu “Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi, Nghĩ đồi cơn
lai sụt sùi đôi cơn”. Ôi cái phận “bèo dạt hoa trôi, sóng dồi
lớp lớp”, thì suốt năm nhất định phải “sụt sùi”.
CÂU ĐỐI TẾT
Cái thú sâu sắc nhất của các nhà nho
thuở xưa là làm câu đối. Có nhiều thể thức đối: tứ tự, bát tự,
song quan, cách cú, gối hạc tùy số câu. Và người chọn câu đối
Tết cũng nhiều nhận xét tinh tế cho vừa ý, hợp tính.
“Mỗi năm hoa
đào nở, Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ, Bên phố đông
người qua”. –Vũ Đình Liên
Câu đối Tết cần nói lên
phú quý, vinh hoa, thọ, khương, ninh, phát tài, phát lộc. Nào
là:
“Phúc sinh phú quý gia đình thịnh
Lộc tấn vinh hoa tử
Tôn Hưng
Tho tỷ Nam Sơn tùng bất lão.”
Hay
“Tết
đến nhà nhà thêm hạnh phúc
Xuân về chốn chốn đượm niềm vui.”
Và riêng cho năm Bính Ngọ:
“Bính Ngọ khai xuân
thiên vạn sự
Phúc lộc đáo gia vạn vạn niên.”
Phúc
đến muôn nhà xuân rực rỡ – Lộc về trăm họ Tết an khang.
Kiêm Đạt
nguồn:
blog người phương nam

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by kb chuyển
Đăng ngày thứ
Năm, February 5, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH