

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tuỳ Bút
Chủ đề:
cung đàn xuân
Tác giả:BP

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Lời Tác giả:
Cuối cùng thì “Bà–Già” cũng “đi”! “Đi”, một cách rất bình thản,
nhẹ nhàng. Một “lên đường” mà, tôi nghĩ, tất cả chúng ta đều
mong muốn được như thế. 2h khuya (27/1) khi con gái vào phòng
thăm, bà vẫn còn tỉnh táo nhưng đến 9h khi cô vào thăm thì bà đã
“đi”. “Đi”, trong giấc ngủ, trong căn phòng ấm cúng. “Đi” ngay ở
nhà mình. “Đi” theo cái quy luật của tạo hóa: “sinh lão bệnh
tử”!
Và người “thọ” nhất (?) trong giới Y Khoa Việt Nam
(corps médical) không còn là bà Henriette Bùi quang Chiêu
(8/9/1906–29/4/2012), vị nữ Bác sĩ Việt đầu tiên (Paris 1934).
Mà là “Bà–Già”, “cô đỡ” (sage femme) Nguyễn Thị C.: trên 106
tuổi (31/7/1919–27/1/2026).
Xin gởi lại bài tôi viết năm
2016. Để bạn cùng tôi hướng lòng về “Bà–Già”.
Con cầu
nguyện hương linh Bà–Già sớm về cõi Phật!
BP
02/02/2026

Thích
hay không thích, vui hay buồn, chắc bạn cũng đồng ý với tôi,
rằng đêm 31/12/1999 là một trong những đêm giao thừa “đặc biệt”
của chúng ta? Bởi vì không phải ai cũng được là nhân chứng cho
cái giây phút bàn giao giữa hai thế kỷ! Thế kỷ 20 và 21.
“Đất nước chúng ta có 4000 năm văn hiến”. Không biết ai là người
đã viết ra câu đó, nói ra câu đó, trong thế kỷ 20 (cụ Trần trọng
Kim chăng?). Nhưng văn hiến không phải là văn hóa.
Dựa
theo định nghĩa của học giả Đỗ Trọng Huề “Văn hiến là trình độ
văn hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử
để bước vào ánh sáng thời kỳ lịch sử”, ký giả Mặc Giao (nguyên
dân biểu VNCH), cho rằng văn hiến Việt Nam, mà chứng tích là một
bài từ của thiền sư Khuông Việt, bắt đầu, trễ nhất, là năm 986.
Có nghĩa là chỉ “mới” 1030 năm (986–2016). Chính văn hóa
(culture) mới được 4000 (5000?) năm.
Tuy có một nội lực
thượng thừa là 4000 năm nhưng câu văn ta đọc hôm nay, khúc ca ta
hát hôm này, bức tranh trong phòng khách, câu thơ mới vừa ngâm,
vân vân. Nhất nhất những cái “văn hóa” đó, chỉ đều được khai
sinh trong thế kỷ vừa qua. Cái thế kỷ mà Vũ Hoàng Chương (sinh
1916) đã than thở “đầu thai lầm”, mà Nguyên Sa (sinh 1932) đã
chua chát “dăm bảy nụ cười không xóa hết ưu tư”! Tôi muốn nói
đến câu văn Đông Dương, Nam Phong của cụ Vĩnh, cụ Quỳnh, đến nốt
nhạc “Con thuyền không bến” của cụ Đặng, đến vần điệu “Tình Già”
của cụ Phan, đến những nét họa của cụ Vân, cụ Trí, v.v. Những
“khai sinh” đó, trừ tờ Đông Dương (ra đời 1913), đến nay, vẫn
chưa được trăm tuổi! Nên thế kỷ 20, với tôi, là thế kỷ đánh dấu
sự hội nhập của văn chương, nghệ thuật Việt nam vào văn chương,
nghệ thuật quốc tế. Chưa nói đến thế kỷ 20 là thế kỷ duy nhất
trong lịch sử (tôi hy vọng vậy) mà mấy triệu người Việt đã liều
chết, bỏ nước ra đi tìm Tự Do. Nên, chào thế kỷ 21, có lẻ không
một người Việt nào, nhất là những người tị nạn CS, mà không lễ
mễ mang hy vọng chất đầy “trước thềm năm mới” với mong ước ngày
“hẹn một ngày về” (Lê Hữu Mục) sẽ không còn xa lắm.
Bằng
những rộn ràng đó, mong mỏi đó, chúng tôi đã tổ chức đêm “Chào
đón năm mới. Mừng thế kỷ mới”, vừa ăn Tết (tây) vừa ăn “tân gia”
(sau hơn một năm lao động phờ người!).
Vui tết thì phải
vui với bạn, mới vui! Trong 40 “quan khách” thân tình, có một vị
đặc biệt. Đặc biệt là vì dù không được thiệp mời, vẫn khăng
khăng đòi tới. Đó là một nữ lưu... 81 tuổi (sinh 1918), thân mẫu
của Nguyễn, ông bạn thân nhất của tôi ngày đó. Theo Nguyễn, tôi
gọi bà cụ là “Bà–Già”.
Ông già, Bà–Già là người Huế. Ông
Cụ có “cabinet” ở Đà Lạt. Sang Pháp định cư sau tết Mậu Thân.
Thân với Nguyễn, tôi được cả gia đình bạn ta xem như “con cháu
trong nhà”. Nhất là “Bà–Già”. Nhờ Nguyễn, thỉnh thoảng chúng tôi
“trúng số”, được bà làm các món Huế, gởi cho Nguyễn đãi chúng
tôi. Bà vui tánh và rất mê văn nghệ. Lần đầu tôi đệm cho bà
“Đoàn Chuẩn Từ Linh”, vừa đệm vừa nhắc tuồng, nhờ thế mà được
lọt vào mắt xanh bà Cụ. Mỗi lần gặp, bà đều giơ hai tay ôm mặt
tôi nựng “Hổm rày mi đi đâu mà Bà–Già không gặp?”.
Năm
1999, hay tin chúng tôi tổ chức “réveillon” với chương trình “50
năm âm nhạc VN”, bà đòi tới tham gia. Sau cùng, bị mấy đứa con
“bắt” phải ở nhà ăn Tết với “ông già”, nên bà so dây, nắn phím
cây đàn tranh (từ lâu không đụng tới) dạo vài khúc “tủ”, thu
băng, gởi chúng tôi. Xem như một đóng góp vào chương trình đêm
không ngủ với đám “trẻ”. Nhận được băng nhạc sau tết, khi Nguyễn
thực hiện cuốn băng kỷ niệm, tôi nhờ anh lấy đó làm nhạc đệm cho
bài thơ tôi viết tặng “Bà–Già”!
Cuốn băng vẫn nằm trong
thư viện nhà tôi. Thú thật là tôi không còn nhớ cái (đàn)
tranh–khúc nhưng cái cảm giác khi một mình ngồi trong phòng
khách đầy bóng tối, nghe réo rắt tiếng đàn, thì vẫn nhớ như in.
Đó là cái cảm giác của một người đi xa, 20 năm chưa quay về cố
lý, chợt một hôm tình cờ nghe lại tiếng róc rách, nhỏ đều, tiếng
ào ào, tuôn chảy. Như suối của Đà Lạt. Như mưa ở Huế. Như đêm
bão rừng lộng gió năm xưa. Lòng ly hương muốn tru dài những
tiếng hú sói hoang.
Bây giờ, tôi vẫn gặp “Bà–Già”, trong
những đêm đón giao thừa ở Phật Đường (mà bà và các con đã đóng
góp rât nhiều trong việc thành lập chùa) thành phố tôi ở. Mới
hôm tết rồi, ở tuổi 98 mà trông bà vẫn tráng kiện, mạnh khỏe,
trí nhớ vẫn tốt, da mặt vẫn mịn màng. Gặp mẹ nhưng không gặp
con: Nguyễn, đứa con trai út của bà, người bạn thân của tôi.
Giản dị là Nguyễn đã đi xa, đi thật xa, trong một ngày hè năm
2008!
Tôi ghi lại bài thơ dưới đây như một tưởng niệm.
Về người bạn Huế hiền lành, dễ mến của tôi.
Như một lời
cám ơn gởi đến “Bà–Già” của chúng tôi, lần nữa.
BP

Nghe “Ðàn Huế”
Kính gởi “Bà–Già”
“Ðàn buồn, đàn
lặng, ôi, đàn chậm
Mỗi giọt rơi, tàn như lệ ngân.” –Xuân Diệu
Này là tiếng đàn
Khởi đi từ Huế mưa giăng
Bay lên mù
sương Ðà Lạt
Tiếng đàn không tiếng hát
Nghe như suối nhỏ
trên ngàn!
Ðàn của cung tần kêu Chúa Thượng
Loan
phòng: gối lạnh đùa chăn!
Ðàn của đêm nào say ngất ngưỡng
Trầm mình, Lý Bạch ôm trăng
Ðàn của thiếu thời cơn gió cuốn
Mộng tàn theo ánh sao băng!
Này, từng nhịp rời
Ngậm
ngùi, xa vắng, chơi vơi
Nhớ đêm mới sóng thuyền xa bãi
Đã
thấy thiên thu một góc trời!
Thì thôi, một đời cô độc
(Ðã đành mây trắng lang thang...)
Thì thôi, bắt đầu mái tóc
Sợi dài bạc gốc cưu mang
Ðàn khua tận cùng đáy cốc
Những
hình bóng cũ trôi ngang
Người đi dưới trời sao mọc
Ngập
hồn cả một Việt Nam!
Chân run, cuối cùng con dốc
Ðứng im,
nước mắt hai hàng!
Này là cung Thương
Này là cung Oán
Này là con thuyền neo trên bến vắng
Sóng vỗ về, mê mõi kiếp
ly hương
Thấy rồi, đôi tay ngón nhỏ!
Khoan thai nhấn
phím tơ chùng
Ðà Lạt, đêm nào bỏ ngỏ
Mắt người, đẫm một
màu trăng
Những cành thông và những đồi thông
Những
cơn đau còn đó chập chùng
Căn nhà cũ gói lòng thiếu phụ
Nhạc sầu khơi động cả không trung!
Ðàn ơi, Hương Giang
ơi!
Ðàn ơi, Cam Ly ơi!
Quê nhà, mây trắng bay không tới
Kỷ niệm đùn lên một góc đời
Ðàn kéo buồn len theo hớp
rượu
Vỡ lòng như sói hú đồng hoang!
10/03/2000
BP

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by bp chuyển
Đăng ngày thứ
Hai, February 2, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH