

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự Truyện
Chủ đề:
lính tâm sự
Tác giả:Nguyễn Quốc Đống/K13-VBQGVN


bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Tháng 1, 2026
Tháng
1 đầu năm dương lịch là thời điểm người Việt khắp nơi đang chuẩn
bị đón tết âm lịch, riêng người Việt trong các cộng đồng tỵ nạn
cộng sản trên thế giới cũng đã bắt đầu chuẩn bị cho lễ kỷ niệm
Ngày Quốc Hận 30–4, tính đến nay đã là 51 năm.
Cả hai
thời điểm này đều là những cột mốc quan trọng, gợi cho chúng ta
nhiều nỗi nhớ. Tết đến, làm sao chúng ta quên được những mùa
Xuân miền Nam thanh bình, vui tươi, êm ấm vào những năm đầu của
nền Đệ nhất Cộng Hòa, khiến chúng ta nhớ hoài những kỷ niệm đẹp
khi cùng gia đình vui Xuân đón Tết. Nhưng cuộc chiến chống bắc
quân cộng sản xâm lược ngày càng khốc liệt. Xuân về trong thời
chiến khiến không khí Tết không còn như xưa. Kỷ niệm đau thương
của những ngày Tết Mậu Thân 1968 mà đồng bào miền Nam, nhất là
đồng bào Huế trải qua vẫn khắc sâu trong ký ức của quân, dân
miền Nam, không thể xóa nhòa. Và hằng năm khi Tháng Tư Đen trở
về, chúng ta lại nhớ đến cảnh dân miền Nam tất tả chạy giặc cộng
như trong một cơn đại hồng thủy vào những ngày tháng cuối cùng
của cuộc chiến; nhớ đến ngày 30 tháng 4, 1975 oan nghiệt với
cảnh “nước mất, nhà tan”; nhớ đến các trại tù cộng sản nơi giam
cầm cả trăm ngàn quân, dân, cán, chính VNCH; nhớ đến hàng trăm
ngàn đồng bào miền Nam chết thảm trong những chuyến vượt biên,
vượt biển hãi hùng sau 1975.
Dòng đời với những kỷ niệm
tôi không quên được lại trở về.
Thời thơ ấu: 1936–1954
Là người sinh trưởng tại miền bắc, và trưởng thành tại miền
Nam, tôi đã sống trọn cuộc đời mình trong cuộc chiến chống cộng
sản: hơn nửa đời sống tại Việt Nam, trong đó có 19 năm với vai
trò một người lính, cầm súng bảo vệ quê hương; rồi non nửa đời
còn lại là một người tỵ nạn cộng sản sống lưu vong tại Hoa Kỳ
(từ tháng 8, 1992). Vào các thời điểm nhiều ý nghĩa này, tôi lại
nhớ đến những chặng đời thăng trầm của mình, để chiêm nghiệm lại
những gì đã trải qua, cảm nhận lại những thành, bại trong đời;
và rút ra những bài học quý giá trong cuộc sống.
Thập
niên 30 của thế kỷ 19, Việt Nam vẫn còn là một thuộc địa của
Pháp, đất nước bị cuốn vào vòng xoáy của nhiều cuộc chiến cả
trong nước lẫn trên thế giới. Trong nước là cuộc kháng chiến lâu
dài của người Việt chống thực dân Pháp giành độc lập, rồi lại
đến cuộc chiến giữa các lực lượng người Việt khác nhau về chính
kiến, về ý thức hệ (quốc gia và cộng sản). Vì vậy đất nước bị
tàn phá không những bởi bom đạn của giặc ngoại xâm, mà còn của
các lực lượng người Việt đối kháng nhau. Trên thế giới, sự xung
đột giữa phe Trục và phe Đồng Minh ngày càng căng thẳng và cuối
cùng đã dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai (1939–1945). Do
sinh ra trong thời chiến tranh phức tạp như vậy, nên tôi không
được hưởng thời thơ ấu êm đềm, phải đi học xa nhà và phải chạy
giặc, lánh nạn từ lúc nhỏ. 1954, năm tôi 18 tuổi, đúng tuổi
trưởng thành thì một biến cố lớn trong đời đã xảy ra: đất nước
Việt bị chia đôi, và tôi đã theo gia đình di cư vào Nam tìm tự
do. Đây là lần thứ nhất tôi rời bỏ quê hương lánh nạn cộng sản.
Nỗi nhớ trong giai đoạn này nổi bật nhất là kỷ niệm về những
ngày Tết đón Xuân hiếm hoi cùng gia đình. Bên cạnh những kỷ niệm
đẹp đó còn là những nỗi buồn, nỗi lo của một thiếu niên phải đi
học xa nhà; cuộc sống thường xuyên bị gián đoạn vì bom đạn của
giặc Pháp, và vì sự khủng bố của Việt Minh (VM tuy chống thực
dân Pháp, nhưng vì theo chủ nghĩa cộng sản nên cũng thẳng tay
tiêu diệt người Việt quốc gia không theo cộng sản).
Thời
trưởng thành, vào đời: 1954–1975
Khi hiệp định Geneve
được ký kết tháng 7, 1954, cuộc chiến tranh quốc–cộng trở nên rõ
nét và quyết liệt: Việt cộng, với sự giúp đỡ của khối cộng sản
quốc tế, đã chiếm được một nửa nước Việt, ở miền bắc, ranh giới
là vĩ tuyến 17 tại miền trung (sông Bến Hải). Tại đây CSBV đã
thành lập một quốc gia mới mang tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa,
theo chủ nghĩa xã hội, tin vào lý thuyết Mác–Lê, rập khuôn theo
các nước cộng sản tại Liên Sô (độc tài, đảng trị, chống chủ
nghĩa tư bản phương tây). Người Việt quốc gia chống cộng di
chuyển vào Nam, thành lập quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, theo chủ
nghĩa tư bản, xây dựng một xã hội tự do, dân chủ, tôn trọng nhân
quyền tại Nam Việt Nam (từ vĩ tuyến 17 đến Mũi Cà Mâu).
Trưởng thành vào lúc đất nước chịu cảnh phân đôi, một lãnh thổ
nhưng hai quốc gia với hai ý thức hệ đối nghịch nhau nên giống
như nhiều thanh niên cùng lứa tuổi, tôi chọn phục vụ đất nước
bằng binh nghiệp, nên đã tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc Gia
Việt Nam để trở thành một sĩ quan hiện dịch trong Quân đội VNCH.
Chương trình học tại trường Võ Bị, thời gian huấn luyện tùy thời
điểm tuy khác nhau, nhưng có cùng mục đích: “đào tạo sinh viên
tốt nghiệp trở thành những cấp chỉ huy tài năng và đức độ, có
học vấn quân sự đầy đủ, tinh thần kỷ luật cao, lý tưởng quốc gia
vững, để đáp ứng nhu cầu của một quân đội quốc gia hùng mạnh
mang sứ mạng bảo quốc, an dân”.
Tốt nghiệp Khoá 13 Thống
Nhất tháng 4, 1958, tôi được chuyển về phục vụ tại Sư Đoàn Khinh
Chiến 15, về sau Sư Đoàn này được tổ chức lại thành Sư Đoàn 23
bộ binh. Suốt 19 năm trong quân đội, tôi đã qua nhiều đơn vị từ
tác chiến trong những năm đầu, đến công việc tham mưu những năm
về sau; và cuối cùng được điều về Bộ Chỉ Huy III Tiếp vận Long
Bình (1972); cấp bậc và chức vụ cuối cùng là thiếu tá Phụ tá
Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị Bộ Chỉ Huy III Tiếp Vận, căn
cứ Long Bình, Biên Hòa (tháng 4, 1975). Sau khi tốt nghiệp, anh
em K. 13 mỗi người mỗi đơn vị, nên tôi cũng ít có cơ hội gặp lại
các bạn đồng khoá, và chỉ còn nhớ lại kỷ niệm với một số anh em
có thời gian ở cùng đơn vị như các anh Nguyễn Xuân Ngải, Trần
Tấn Ngọc, Dương Văn Bằng, Hồ Đắc Trúc.
19 năm trong quân
đội, tôi làm việc dưới quyền của nhiều cấp chỉ huy, nhưng tôi
nhớ nhiều kỷ niệm với Trung tá Võ Văn Cảnh, Chỉ huy trưởng Trung
Đoàn 43, thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Ông rất nghiêm tính, coi
trọng việc giữ kỷ cương của quân đội trong đơn vị ông phụ trách.
Tôi là người kỹ tính, có kỷ luật nên cũng không gặp vấn đề gì
trong thời gian làm việc dưới quyền ông. Đối với các quân nhân
cấp nhỏ trong đơn vị, tôi đối xử với họ công bằng và thân ái,
nên họ cũng quý mến tôi, coi như người thân trong gia đình. Đến
nay tôi vẫn còn nhớ đến chú Nho, một người lính (sau lên cấp bậc
trung sĩ) phục vụ tại đơn vị thời gian tôi phụ trách Trung Tâm
An Dưỡng Sĩ Quan Vũng Tàu. Chú rất tận tuỵ với công việc và rất
kính trọng cấp chỉ huy, một người lính tuy cấp nhỏ, nhưng có tư
cách đáng quý.
Binh nghiệp của tôi, cũng như của các quân
nhân Quân Lực VNCH bất ngờ chấm dứt với biến cố ngày 30 tháng 4,
1975, khi miền Nam rơi vào tay bắc quân cộng sản xâm lược. Một
trang sử đen tối bắt đầu cho cả nước.
Thời mất nước, ở tù
cộng sản: 1975–1984
Tôi ở lại đơn vị đến những ngày cuối
cùng của cuộc chiến (28 tháng 4, 1975). Trong thế cờ tàn, các
chỉ huy cao cấp của đơn vị tôi cũng đành phải ra đi, để các
thuộc cấp phải tự lo cho bản thân và gia đình. Trưa 29 tháng 4,
tôi đưa gia đình gồm vợ và hai con nhỏ (23 tháng và 6 tháng) đến
Trung tâm Hoàn Cầu Khải Tượng (World Vision), một tổ chức thiện
nguyện của Tin Lành, gần tòa đại sứ Hoa Kỳ, tính cùng gia đình
một người bạn là Trung tá Nguyễn Bá Hựu vượt thoát khỏi Sài Gòn
vào những giờ phút cuối cùng. Nhưng đã quá trễ, đường phố Sài
Gòn hỗn loạn với những dòng người tất tả chạy giặc, súng nổ khắp
nơi; tôi lo sợ cho tính mạng của hai con nhỏ, nên đành quay trở
về nhà. Gia đình anh Hựu cũng quay về, và sau này anh Hựu cũng
bị đi tù cs.
15 tháng 6, 1975, tôi phải đi trình diện
“học tập, cải tạo” tại Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, và bắt đầu
cuộc đời tù cộng sản suốt 9 năm, qua nhiều trại tù cả Nam lẫn
Bắc, trước khi được thả về vào tháng 4, 1984. Đây là quãng thời
gian cơ cực nhất trong đời! Cộng sản chỉ muốn giết hết những
người lính trong quân đội miền Nam, nhưng không làm được, nên
chúng đày đoạ, sỉ nhục họ; để đói rét và bệnh hoạn sẽ giết chết
họ từ từ. Cả trăm ngàn tù nhân đã chết trong các trại tù này.
Đây là cách Việt cộng tiêu diệt các tinh hoa, nhân tài của chế
độ miền Nam; để miền đất này không còn cơ hội lật đổ chế độ mới
của chúng! Nhớ lại những chiến hữu, đồng bào xấu số này, tôi
không khỏi ngậm ngùi, và lại càng cảm thấy ghê tởm bọn VC, miệng
nói “khoan hồng, học tập, cải tạo”, nhưng lại giết đồng bào của
mình không gớm tay!
Thời gian trong tù, người tù phải cố
gắng vượt qua nhiều thử thách: với đói, rét, bệnh của thể xác;
với khủng hoảng tinh thần do lũ cán bộ vc gây ra; và nhất là với
nỗi cô đơn triền miên để sinh tồn. Tôi rất nhớ nhà, thương mẹ
già khắc khoải lo âu, vì có ba con trai phải đi tù cs, thương
người vợ trẻ vừa kết hôn chưa tròn 3 năm, thương hai con gái
nhỏ, ngày tôi xa nhà, cháu lớn chưa đầy 2 tuổi, cháu nhỏ ra đời
mới được 6 tháng, còn ngày về thì tôi không còn nghĩ tới nữa!
Tôi đi tù 3 năm (1978), còn trên đất bắc, thì nhận tin dữ
của gia đình, cha tôi (64 tuổi) đột ngột qua đời vì đứt mạch máu
não. Ông bất tỉnh trong lúc ngủ, sáng hôm sau được đưa vào bệnh
viện, nhưng không qua khỏi. Tôi chỉ biết thắp nén hương lòng
tiễn đưa cha, tôi là con trai cả trong gia đình, nên lòng càng
đau xót. Chú em thứ 5 của tôi, cũng đang bị tù, nhưng ở trong
Nam, nên được trại cho về vài ngày chịu tang cha.
Thời
gian trong tù, tôi cũng có vài kỷ niệm vui đáng nhớ. Có lần khi
đang xếp hàng nhập một trại tù mới ở Yên Bái, tôi nghe có tiếng
gọi “Có chú Nguyễn Quốc Đống ở đây không?” Sau này mới biết
người tù bất chấp kỷ luật trại, lên tiếng gọi tôi là anh Nghiêm
(nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, người anh họ đôi con dì). Lại có thời
gian ở một trại tù ngoài bắc, tôi được xếp ngủ cùng lán với hai
nhân vật sau này rất nổi tiếng trong cộng đồng. Lúc đó tôi nằm
giữa, một bên là anh Lê Nghiêm Kính (nhà văn Huy Phương), và một
bên là anh Đinh Thành Tiên (nhà thơ Tô Thùy Yên). Vì vậy tôi có
dịp quen với hai anh. Có lẽ vì cùng có gốc “chiến tranh chính
trị” nên ba chúng tôi đã được xếp ở cùng lán với nhau. Bây giờ
anh Nghiêm, anh Huy Phương, và anh Tô Thùy Yên đều đã trở thành
“Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”....
Nhiều lúc, ngồi ngẫm nghĩ, tôi tự hỏi “vì đâu nên nỗi”, vì sao
cả nước cùng chịu hy sinh, gian khổ suốt 21 năm; cả trăm ngàn
quân, dân, cán, chính đã nằm xuống, biết bao xương máu đổ xuống
mà quê hương lại mất một cách tức tưởi như vậy? Lý tưởng quốc
gia mà Trường Võ Bị hun đúc, chúng tôi có còn giữ được? Nhiệm vụ
“bảo quốc, an dân” mà quân đội giao phó, chúng tôi có hoàn
thành? Một người Việt TNCS từng tự đặt câu hỏi này, và tự thú
“tôi làm tôi mất nước”.
Tôi cũng có dịp đọc câu truyện về
một nhà sư Phật giáo (Tỳ Kheo Thích Không Chiếu, nguyên là Đại
tá Trần Văn Tự, xuất thân K. 5 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt,
cựu Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Ninh Thuận, Phan Rang)
trong tuyển tập truyện ngắn “Thân Tùng Trước Bão Táp” của tác
giả Orchid Thanh Lê. Ông cũng bị đi tù cs 12 năm (1975–1987).
Ông rất tin vào luật nhân quả của nhà Phật.
“Nhận ra
nghiệp của mình để mất miền Nam nên phải vào tù để trả nghiệp,
ông nói với anh em:
Mình tạo nghiệp, vào tù để trả
nghiệp.” –(Thân tùng trước bão táp – Orchid Thanh Lê)
Có
lẽ ông nói đúng, không phải như bọn VC vẫn tuyên truyền láo lếu
“quân, dân, cán, chính VNCH phải đi tù vì có tội với nhân dân,
có nợ máu với nhân dân”.
Nghĩ lại quãng đời tù gian khổ
này, tôi nghĩ mình cũng còn may mắn hơn nhiều chiến hữu cùng
cảnh ngộ. Tôi được sự hỗ trợ của gia đình, của mẹ, và các em,
nhất là của người vợ tào khang, tuy còn trẻ (25 tuổi ngày tôi đi
tù), nhưng tháo vát, hy sinh mọi thứ để lo cho gia đình nhỏ của
chúng tôi, (vợ tôi là một giáo sư trung học VNCH, dạy Anh văn,
nên vẫn còn giữ được việc làm sau 1975). Ngày về, tôi vẫn còn
một gia đình êm ấm để nương tựa.
Thời gian chờ
định cư tại Hoa Kỳ (1984–1992)
Ở trong tù, cũng
như các anh em đồng cảnh ngộ, tôi chỉ bận tâm đến sức khoẻ bản
thân, nhớ nhà; còn những nỗi lo khác ngoài tầm tay, nên tôi
không nghĩ đến. Khi về nhà, tôi mới ý thức được gia đình của
người tù cũng ở trong một “nhà tù lớn”, với nhiều nỗi lo cả vật
chất lẫn tinh thần. Ngoài làm việc vất vả để mưu sinh, gia đình
họ còn chịu nhiều áp lực (từ công an khu vực, từ các ủy ban nhân
dân khóm, phường, quận.... khi cần đến giấy tờ). Đi đâu cũng
phải khai báo, tạm trú, tạm vắng... Đời sống thật ngạt thở. Tôi
càng thấm thía sự giả dối trong khẩu hiệu “độc lập, tự do, hạnh
phúc” của CS, và ý thức rằng sự hy sinh xương máu của quân, dân
miền Nam để đổi lấy cuộc sống tự do 21 năm thời VNCH thật đã
không uổng phí! Tôi nghĩ bản thân mình cũng như cá nằm trên
thớt, không biết sẽ bị bức hại vào lúc nào, rồi cả vợ con cũng
sẽ bị trù dập trong chế độ mới.
Đúng như tôi suy nghĩ, vợ tôi dù tận tuỵ trong
công việc cũng không được xét vào “biên chế” (giáo viên chính
thức); con gái lớn của tôi, dù đậu cao trong kỳ thi tốt nghiệp
trung học cũng không được xét trúng tuyển vào đại học (1991).
Tôi đã nghĩ đến chuyện vượt biên, nhưng không có đủ tiền nên
đành chịu. May sao tin tức về chương trình ODP (Orderly
Departure Program), do chính phủ Mỹ bảo trợ, trong đó có chương
trình định cư tại Hoa Kỳ dành cho các cựu tù nhân chính trị, đã
cho những người cựu tù cs như tôi một nguồn hy vọng lớn.
Vợ tôi đã gửi đơn xin định cư trong chương trình này vào năm
1982, lúc tôi còn đang trong tù, nên đơn xin tỵ nạn của gia đình
tôi sớm được chấp nhận. Tôi biết tương lai sẽ mở rộng cho cả gia
đình, nên yên tâm chờ đợi; nhưng cũng phải mất 8 năm gia đình
tôi mới đặt chân đến Hoa Kỳ (H 13, tháng 8, 1992). Đây là lần
lánh nạn cộng sản thứ hai trong đời tôi.
Thời
gian định cư tại Hoa Kỳ: 1992 đến nay
Thời gian
đầu định cư tại Hoa Kỳ gia đình tôi, cũng như bao gia đình cựu
TNCT khác, phải cố gắng rất nhiều để hội nhập vào cuộc sống mới,
tìm chỗ ở cho gia đình, trường học cho con, học lái xe, tìm việc
làm... Tôi có hai người em ruột đi vượt biên và định cư tại
Minnesota từ 1982, nên mới quyết định chọn ở tiểu bang lạnh giá
miền Midwest này. Nhờ sự giúp đỡ của bà con họ hàng, của các bạn
hữu tại Minnesota cũng như các nơi khác, và nhờ nỗ lực của bản
thân, cuộc sống của gia đình tôi được sớm ổn định. Cả hai vợ
chồng tôi đều đi làm, và không phải sống nhờ vào trợ cấp của
chính phủ, các cháu vẫn tiếp tục đi học.
Là một cựu tù nhân chính trị, một người
tỵ nạn cộng sản tại Hoa Kỳ, so với nhiều anh em trong quân đội,
tôi thấy mình có nhiều may mắn hơn họ: sống sót được sau cuộc
chiến chống cộng sản lâu dài (21 năm), sau thời gian ở tù cộng
sản 9 năm, và cuối cùng đưa được gia đình đến định cư tại Hoa
Kỳ, được hưởng cuộc sống tự do, dân chủ, có phẩm giá. Vì vậy,
tôi đã dành nhiều thì giờ tham gia các sinh hoạt cùng các hội
đoàn tại địa phương, như Hội Võ Bị, Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị,
Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH, Cộng Đồng Việt Nam MN, Cộng Đồng Người
Việt Tỵ Nạn MN (từ 1993 đến 2020).
Sinh hoạt của các hội
đoàn (chỉ dành cho các hội viên), hay các cộng đồng (cho tất cả
người Việt TNCS tại địa phương) ngoài mục đích “ái hữu” giúp
những anh em bước đầu xa lạ dần trở thành bạn hữu, nâng đỡ nhau
trong cuộc sống nơi xứ lạ quê người, còn giúp người Việt TNCS
thể hiện lập trường chính trị của mình: giữ vững lý tưởng tự do,
dân chủ của quốc gia VNCH, bảo vệ cờ vàng ba sọc đỏ là cờ di sản
của người Việt TNCS, bảo vệ cộng đồng chống sự tuyên truyền và
xâm nhập của cộng sản.
Trong tinh thần nói trên, trong
nhiều năm, tôi đã tham gia hoạt động cùng các anh em chiến hữu,
đồng bào thực hiện được một số thành quả đáng kể như vận động
các hội đồng thành phố Saint Paul, Minneapolis, Saint Cloud,
cùng lưỡng viện quốc hội tiểu bang Minnesota thông qua các nghị
quyết công nhận cờ VNCH là cờ đại diện cho người Việt tỵ nạn
cộng sản tại MN (vào các năm 2003, 2004, và 2005). Nhờ các nghị
quyết này người Việt tại MN đã gặp thuận lợi trong việc hạ những
lá cờ cộng sản treo tại các trường học, siêu thị, bệnh viện...
thay cờ máu cs bằng cờ vàng ba sọc đỏ, đem lại niềm vinh dự cho
người Việt TNCS tại MN.
Anh Nguyễn Văn Thiệt K. 14 là
người giới thiệu tôi tham gia sinh hoạt cộng đồng rất sớm, chỉ 1
năm sau ngày gia đình tôi đến Minneapolis, MN; đầu tiên với tính
cách là đại diện cho Hội Võ Bị trong Ban Chấp Hành Cộng Đồng
VN/MN. Niên trưởng Vũ Quang K. 6 cánh chim đầu đàn của VB tại MN
đã ưu ái hướng dẫn các đàn em trong việc hội nhập vào xã hội
mới. Phu nhân của Niên trưởng Quang, giáo sư Nguyễn Thị Bạch
Tuyết là cô giáo môn Pháp văn của nhà tôi tại trường nữ trung
học Gia Long niên khoá 1965–1966, nên chúng tôi được niên trưởng
và phu nhân dành cho những tình cảm đặc biệt, khiến chúng tôi
thấy ấm lòng khi chân ướt chân ráo đến miền đất mới. Rồi với
sáng kiến của anh Điền Minh Xuyến K. 22, Nhóm Hụi Võ Bị và Thân
Hữu được thành lập, mỗi tháng anh em họp mặt một lần, ăn uống,
chuyện trò vui vẻ, người may mắn hốt hụi lại được mượn một số
tiền kha khá để chi tiêu mà không phải trả tiền lời! Nhờ sinh
hoạt đặc biệt này, anh em Võ Bị MN các khoá đã trở nên thân
thiết như một gia đình mở rộng cho đến ngày nay; các chuyện vui,
buồn đều chia sẻ với nhau.
Sinh hoạt của Hội Võ Bị MN trở
nên phong phú hơn nhờ cộng tác với liên Hội VB Bắc Trung Tây Hoa
Kỳ (từ năm 2001). Anh Trịnh Văn Ba K. 18, Anh Lê Văn Hoạt K. 18,
Anh Nguyễn Văn Rong K. 19, anh Ngô Nơi K. 26.... đã giúp cho
liên hội VB/BTT phát triển mạnh. Anh em VB chịu khó về họp mặt
hàng năm, tại nhiều tiểu bang trong vùng như Indiana, Minnesota,
Wisconsin, Illinois, vừa có dịp đi du lịch tại nhiều thành phố
mới, lại có dịp tham dự trại hè, picnic cùng các cháu thanh
thiếu niên Đa Hiệu, giúp các cháu làm quen với sinh hoạt VB, kết
bạn mới. Sau khi các anh Ba, anh Hoạt, anh Rong qua đời thì hoạt
động của liên hội VB/BTT không còn như xưa. Thật là một điều
đáng tiếc.
Cũng nhờ sinh hoạt cộng đồng tôi có dịp quen
biết với nhiều chiến hữu xuất thân từ nhiều quân trường, thuộc
nhiều quân, binh chủng. Nhờ sự hỗ trợ của họ, tôi gặp nhiều
thuận lợi trong sinh hoạt cộng đồng, và đạt được một số thành
tựu trong công việc. Có người đến từ California xa xôi như Trung
tá Nguyễn Ngọc Đa (Khoá 4 Thủ Đức) lại rất gắn bó với Minnesota,
luôn sát cánh cùng anh em Võ Bị MN trong các sinh hoạt cộng
đồng. Sau này do các hội đoàn yêu cầu, ông đã đảm nhận chức chủ
tịch Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn MN (2002–2005) thay cho ông
Nguyễn Xuân Huấn phải di chuyển về Texas. Sự tận tụy với công
việc và tinh thần trách nhiệm cao của ông trong sinh hoạt cộng
đồng là một tấm gương sáng, nên ông được các anh em thân hữu đặc
biệt thương mến, kính trọng.
Các chiến hữu trong cộng
đồng MN không phân biệt khoá lớn, khoá nhỏ, hiện dịch hay trừ
bị, đã kết hợp với đồng bào gồm cả đại diện các cộng đồng và
đồng bào nhiều địa phương, chung tay làm những công việc nhiều ý
nghĩa phục vụ cộng đồng, và làm sáng tỏ chính nghĩa của người
Việt TNCS tại Minnesota, đúng với câu “đoàn kết nên sức mạnh”.
Nhờ sự đoàn kết này, người Việt MN đã hoàn thành Đài Tưởng Niệm
Chiến Sĩ Việt–Mỹ tại Saint Cloud, MN năm 2007 (CSVSQ Nguyễn Kiếm
Hoa K. 23 là người trách nhiệm chính), nhiều lần tổ chức gây quỹ
giúp thương binh VNCH tại quê nhà, nhiều lần tham dự diễn hành
văn hóa ở New York (với sự cộng tác đắc lực của anh Sĩ Nguyễn,
chủ nhiệm tuần báo Sài Gòn Nhỏ MN). Những hoạt động này để lại
cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp trong quãng đời lưu vong TNCS tại Hoa
Kỳ.
Ngoài việc tham gia các sinh hoạt cộng đồng với các
chiến hữu và đồng bào, tôi cũng dành thì giờ viết những bài xã
luận, về các đề tài mà người Việt TNCS quan tâm: lý tưởng quốc
gia, cuộc chiến chống cộng và tay sai VC, tội ác VC đối với đất
nước và người dân... Các bài viết này được phổ biến trên đặc san
Đa Hiệu của Trường Võ Bị, trong đặc san Niềm Tin của Cộng Đồng
Người Việt Ty Nạn MN (do tôi phụ trách), hay trên các trang web
cộng đồng, với mục đích chia sẻ quan điểm trong cộng đồng người
Việt TNCS. Cuộc chiến đấu chống cộng sản 21 năm ở trong nước
(1954–1975), hay kéo dài nhiều năm sau này tại hải ngoại (từ
1975 đến nay) cần đa dạng để đối phó với một kẻ thù rất gian
manh và nhiều thủ đoạn là cộng sản và tay sai.
Người Việt
TNCS hoạt động cộng đồng gặp nhiều khó khăn, một phần vì sự phá
hoại của cộng sản và tay sai nằm vùng, và một phần cũng vì sự
thiếu trách nhiệm, vì ý thức chính trị yếu kém của một số người
Việt trong cộng đồng. Họ có mặt tại hải ngoại do di tản, vượt
biên, được thân nhân bảo lãnh, hay được chính phủ Mỹ cho định cư
tỵ nạn cs... nhưng vì vô tình hay cố ý, vì kiêu ngạo, tự ái, đố
kỵ, hay vì lòng tham (tham tiền, tham danh), đã có những lời nói
hay việc làm gây tổn thương cho chính những người cùng chiến
tuyến với mình. Bản thân tôi đã trải qua những lần bị tổn thương
như vậy. Nếu chọn im lặng có lẽ tôi cũng tránh được nhiều phiền
toái, nhưng tôi phải lên tiếng trước những việc làm sai trái, vô
ý thức của một số người quen biết. Cộng đồng Việt TNCS tại MN
cũng từng mất nhiều thì giờ, công sức, và tiền bạc vì một số vụ
kiện do những thành phần thiếu ý thức gây ra. Vụ kiện năm 2004
xảy ra khi đồng bào TNCS chống việc hạ cờ VNCH tại một trung tâm
sinh hoạt cộng đồng tại Saint Paul, MN. Vụ kiện năm 2015 xảy ra
khi cộng đồng MN chống lại việc văn công cs Đàm Vĩnh Hưng trình
diễn tại một sòng bài ở MN. Cả hai vụ kiện xảy ra vì người Việt
TNCS tại MN kiên quyết bảo vệ cờ VNCH, cũng như quyết bảo vệ
cộng đồng chống sự xâm nhập của cộng sản.
Cả hai vợ chồng
tôi đều tham gia cùng các chiến hữu và đồng bào trong hai cuộc
tranh đấu nói trên. Trong tranh đấu chúng ta phải chấp nhận các
hệ lụy. Tuy nhiên vào lúc khó khăn ta mới thấy được ai là người
còn chung chiến tuyến, ai còn giữ được lý tưởng quốc gia, ai còn
tha thiết với cộng đồng TNCS. Nhìn lại thời gian qua, tôi cảm
thấy rất biết ơn những chiến hữu và đồng bào đã hết lòng giúp đỡ
chúng tôi vượt qua khó khăn, nhất là trong vụ kiện năm 2015
chống văn công VC. Điển hình là ông Đỗ Văn Phúc (Texas), chủ
tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ, cô Trish Nguyễn
(Georgia), nhà thơ Ý Nga (Canada), các anh Bảo Trâm, Phạm Anh
Tuấn, Sĩ Nguyễn, Phạm Văn Yến (MN). Sự nhiệt tình của quý vị là
tấm gương sáng trong cuộc tranh đấu chống cộng sản của người
Việt TNCS tại MN.
Dòng đời là một dòng sông trôi không
ngừng nghỉ, và thời gian đi nhanh như bóng câu qua cửa sổ, nhưng
đã để lại trong tôi những nỗi nhớ, nỗi buồn về những mất mát khó
quên trong đời. Bên cạnh nỗi buồn lớn vì mất quê hương, và tôi
vẫn chưa thể trở về thăm cố quốc, còn là nỗi buồn mất những
chiến hữu trong cuộc tranh đấu chống cộng để bảo vệ chiến tuyến
của người Việt TNCS tại MN. Tôi đã tiễn đưa họ lần cuối và không
bao giờ còn gặp lại họ, như Anh Vũ Đức Thỏa K. 28, Anh Hoàng
Thanh Tùng K. 29, Bác Kiều Thế Đức, Bác Nguyễn Ngọc Đa, Anh
Nguyễn Toại, Anh Đinh Nguyên Mạnh K. 13, Anh Nguyễn Huy Tư, Anh
Phạm Anh Tuấn, Anh Huỳnh Long Hải, Anh Bùi Đình Giao K. 24, Anh
Nguyễn Văn Chài, Anh Nguyễn Bá Sấm.... Hôm nay tôi thắp nén
hương lòng tưởng nhớ những chiến hữu, những người bạn quý này.
Nhìn lại cuộc đời thăng trầm của bản thân, tôi đã chiêm
nghiệm được nhiều điều. Những giá trị nhân văn và đạo đức của
nền giáo dục VNCH; lý tưởng quốc gia, dân tộc được vun bồi tại
quân trường Võ Bị; lý tưởng tự do, dân chủ được cổ súy tại đất
nước Hoa Kỳ, là những hành trang quý giá của một người Việt quốc
gia. Nếu xem lý tưởng tự do, dân chủ là kim chỉ nam cho đời
mình, chúng ta không thể nào chấp nhận lý thuyết Mác–Lê, và chủ
nghĩa cộng sản, vì đây là hai hệ tư tưởng đối nghịch nhau như
nước với lửa. Người yêu tự do, dân chủ không thể sống trong xã
hội cộng sản, nơi con người chỉ là công cụ giúp đảng cộng sản
thực hiện chính sách:
“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
Nhân dân làm chủ”.
Họ mị dân bằng hai chữ “làm chủ”, thực
ra nhân dân chỉ là “đầy tớ”, làm việc nhưng không được trả công
xứng đáng; giai cấp lãnh đạo đảng cộng sản mới là chủ thật sự.
Sống trong xã hội cộng sản, tất cả chỉ là công cụ phục vụ
cho bộ máy cầm quyền, nền “giáo dục xã hội chủ nghĩa” có nhiệm
vụ nhồi sọ giới trẻ, để họ tin tưởng và hết lòng phục vụ đảng;
quân đội cs cũng phải trung thành với đảng; đảng viên vô đạo
đức, nhưng nếu phục vụ tuyệt đối cho đảng, cũng được bao che.
Thử hỏi một người quen sống trong môi trường tự do, dân chủ, tôn
trọng nhân quyền có sống nổi trong môi trường độc hại của xã hội
cộng sản hay không? Chính vì vậy tôi đã vào quân đội, trực tiếp
tham gia cuộc chiến chống cộng sản để bảo vệ miền Nam tự do; và
khi trở thành người tỵ nạn cộng sản tại Hoa Kỳ (từ 1992), tôi
vẫn tiếp tục chống cộng sản và tay sai; giữ vững lập trường quốc
gia, không thỏa hiệp với cộng sản dưới bất cứ hình thức nào (đây
cũng là tôn chỉ của trường Võ Bị). Suốt 33 năm định cư tại Hoa
Kỳ, tôi chưa hề trở về Việt Nam. Tại sao đã nhận mình là người
“tỵ nạn cộng sản”; để tránh nạn cs đã phải lưu vong; và trong
khi Việt Nam vẫn là một nước cộng sản, vẫn còn độc tài, đảng
trị, vẫn còn gieo tai hoạ cho người dân mà mình lại vui vẻ trở
về?! Không gì có thể biện minh cho những chuyến trở về Việt Nam
của những cựu quân nhân mang danh “tỵ nạn cộng sản”!
Cuộc
chiến chống cộng của người Việt yêu tự do chưa đạt được kết quả
mong muốn; chúng ta chưa giải thể được chế độ cộng sản, quê
hương còn dưới ách thống trị của đảng cộng sản tham tàn, và
người dân thường còn sống trong nghèo đói. Tuy nhiên, trong lịch
sử Việt có thời đất nước bị bắc thuộc kéo dài cả ngàn năm rồi
mới đánh đuổi được giặc ngoại xâm. Đất nước ta gặp nạn cộng sản
chưa tới 100 năm (1930–2026), nên chúng ta vẫn hy vọng sẽ có
ngày quang phục được quê hương. Thế hệ trực tiếp tham gia cuộc
chiến quốc–cộng (1954–1975) nay đã bước vào độ tuổi 70, 80, 90;
không còn kham nổi gánh nặng trên vai. Chúng ta đặt nhiều hy
vọng vào các thế hệ hậu duệ. Mong rằng các cháu hãy nhớ một số
điều quan trọng: đừng quên trau dồi tiếng Việt, đừng quên văn
hóa Việt, đừng quên mình là con cháu người Việt tỵ nạn cộng sản.
Các cháu được nuôi dưỡng và trưởng thành trong môi trường tự do
tại hải ngoại hãy tiếp bước cha anh; giúp giới trẻ trong nước ý
thức được sứ mạng của mình, và cùng họ thực hiện cuộc cách mạng
dân chủ thực sự, để mở một trang mới cho lịch sử nước nhà.
Nguyễn Quốc Đống/TVBQGVN/K. 13

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Những tài liệu v/v trường VBQGVN/Đà Lạt đăng ở website này
tiểu sử trường vbqgvn/đl
tiểu sử khoá 3 vbqgvn/đl
tiểu sử khoá 28 vbqgvn/đl
đại hội vbqgvn/đl toàn cầu kỳ 22
thanh thiếu niên đa hiệu, hậu duệ vbqgvn/đl
võ bị không chia hai
gts:
trường vbqgvn/đl theo dòng lịch sử
đà lạt trường võ bị và dấu binh lửa
những kỷ niệm sau cùng tại trường vbqgvn/đl...


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by nqđ chuyển
Đăng ngày thứ Ba, April 21, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH