
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Truyện ngắn
Chủ đề:
lương y như từ mẫu
Tác giả:
Nguyễn Thị Kim Thoa

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)

Tôi
đến thị xã Ban Mê Thuột vào một buổi chiều đầu mùa khô năm
1977. Gió bụi của miền cao nguyên đất đỏ làm tôi tối mắt sau
một chuyến đi dài trên chiếc xe đò cọc cạch... Để mặc cho
anh Chu Sơn – chồng tôi – loay hoay với mấy túi áo quần,
sách vở. Bước xuống xe, tôi chỉ còn đủ sức ngồi bệt trên đám
cỏ bên vệ đường. Đất đỏ, cỏ úa, và bầu trời buổi chiều xám
xịt. Đất trời Ban Mê Thuột buổi đầu giao tiếp đối với tôi
chẳng thú vị gì.
Nơi tôi làm việc là khoa nhi Bệnh
viện tỉnh Daklak. Đây là một đấu trường quá sức với tôi. Cảm
nhận lúc đầu là như thế. Khoa có 50 giường bệnh, bệnh nhân
nằm la liệt hai ba em trên một giường. Những chiếc giường
sắt tây cũ rích, cái mất song, cái gãy chân kê đóng khập
khễnh. Mền chiếu đen đúa, tả tơi, rách nát. Nhân viên của
khoa vỏn vẹn có 10 người. Một trưởng khoa, một bác sĩ điều
trị, sáu y tá, và hai hộ lý (y công). Trưởng khoa là chị
Liên, y sĩ từ chiến khu về. Bác sĩ điều trị là một đại úy
quân y lưu dụng, ông Nguyễn Hữu Thới. Sáu chị y tá là các
chị: Hoa, Hà, Toan, Ri, Kính, và H’Băm làm nhiệm vụ điều
dưỡng. Hai y công là chị Thái và chị Bé.
Bệnh viện
tỉnh DakLak trước 1975 nguyên là một bệnh viện dã chiến quân
dân y. Sau 1975 phần quân y tách riêng để hình thành nên
bệnh viện quân đội. Cơ sở hạ tầng của bệnh viện dã chiến
quân dân y này trở thành cái vỏ của một bệnh viện đa khoa
dành cho dân các huyện nông thôn của tỉnh Daklak (thị xã Ban
Mê Thuột có một bệnh viên riêng: bệnh viện thị xã).
Ban Mê Thuột “giải phóng” từ tháng 3 năm 1975. Tôi lên nhận
việc cuối tháng 3/1977. Hai năm “giải phóng”, vừa đủ để
những dãy phòng cấp bốn trở thành cái vỏ chật chội, loang
lổ, xập xệ tối tăm của một cơ sở gọi là bệnh viện. Khoa nhi
chiếm hai phòng cách nhau một hành lang hẹp. Mỗi phòng có
một bóng đèn huỳnh quang ở giữa, hai đầu là hai bóng đèn
tròn 100 watts tù mù vàng vọt khi có điện. Khi không có điện
thì bà con người dân tộc thiểu số, người kinh tế mới thắp
sáng bằng bất cứ thứ gì kiếm được. Nước thì khi có khi
không. Bà con người dân tộc thiểu số đun nhét cả vỏ, cùi
bắp, lá lảy, giẻ rách xuống miệng cầu xí. Hai chị y công làm
việc đầu tắt, mặt tối mà không khí của khoa phòng vẫn nặng
nề khó chịu.
Y cụ thì không có gì ngoài hai bình oxy
rỉ sét, mấy cái máy đo huyết áp xì hơi, kim tiêm thì phải
mài đi mài lại trên các viên đá, khi chích các em khóc thét
lên và lòng chúng tôi thì như bị cứa bởi lưỡi dao cùn.
Bệnh nhân của chúng tôi đa phần đến từ các buôn làng
người dân tộc thiểu số, các khu dinh điền cũ (được thành lập
thời TT Ngô Đình Diệm), và vùng kinh tế mới. Hầu hết các em
bị suy dinh dưỡng và mắc các bệnh lây nhiễm. Da các em bủng
beo, xanh tái, lớp mỡ dưới da hầu như không còn, trên da đầy
mụt nhọt, chốc lở, và vết cắn thâm tím của muỗi mòng, vắt,
đỉa.
Theo sự sắp xếp của lãnh đạo bệnh viện, tôi đến
khoa nhi để thay thế Bác sĩ Nguyễn Hữu Thới. Bác sĩ Thới sẽ
chuyển đến trạm chống lao. Một tuần lễ làm việc dưới sự
hướng dẫn của người bác sĩ tiền nhiệm đối với tôi là một
cuộc chuyển giao tận tụy giữa hai thầy trò. Ông sợ tôi không
đủ sức để đương đầu với một nhiệm vụ quá ư nặng nề. Ông bảo
tôi nhanh chóng học tiếng và phong tục tập quán của người
dân tộc thiểu số. Qua ông tôi còn học được tính kiên nhẫn,
khiêm tốn, lòng yêu nghề, tinh thần lạc quan, tình yêu con
người, và cuộc sống. Ông đã rời khoa nhi đúng một tuần lễ
sau khi tôi đến, nhưng trừ những ngày nghỉ theo qui định
hành chánh, những lúc ốm đau hay những trường hợp bất
thường, ngày nào ông cũng trở lại khoa nhi suốt ba năm tôi
làm việc tại đó... Vợ ông – chị cán sự Bê đang làm việc tại
khoa lây (khoa truyền nhiễm). Buổi sáng ông chở vợ đi làm,
buổi chiều ông đến đón vợ trên chiếc xe đạp. Ông không chờ
vợ ở khoa lây mà chờ vợ ở khoa nhi. Mục đích của ông là để
xem tôi có hỏi gì không, và mặc nhiên ông trở thành người cố
vấn tự nguyện cho tôi suốt hơn ba năm tôi ở khoa nhi Bệnh
viện tỉnh Daklak. Đối với ông làm việc ở trạm chống lao là
một hình phạt nặng nề. Ở trạm chống lao ông trở nên người
nhàn hạ. Ông và cả tôi nữa không hiểu vì lý do gì một bác sĩ
chuyên nhi như ông lại bị trói tay trói chân ở trạm chống
lao trước tình trạng khoa nhi và cả Bệnh viện tỉnh Daklak la
liệt bệnh nhân mà bác sĩ chỉ đếm được chưa hết mười ngón tay
trên hai bàn tay...
Mỗi buổi chiều khi chị Bê vợ ông
xong việc ở khoa lây, đến khoa nhi để ông chở về, tôi nhận
ra niềm hân hoan trong mắt họ. Như thế là họ đã qua được một
ngày bình yên để trở về với bốn đứa con đang chờ ở nhà.
*
Tôi rời khoa nhi Bệnh viện tỉnh Daklak cuối năm
1980 khi không còn đủ sức để cầm cự. Tôi bị sốt rét, sinh
con trai đầu, không có sữa. Chồng tôi, anh Chu Sơn, bị lao
phổi nặng, Bác sĩ Thới điều trị. Chính ông đã khuyên chúng
tôi nên nhanh chóng về đồng bằng để có điều kiện cách ly và
có thêm dinh dưỡng là những điều kiện tối thiểu để chúng tôi
tồn tại.
Chúng tôi về Đà Nẵng, không còn gặp Bác sĩ
Thới mỗi ngày tại khoa nhi, nhưng tin tức về ông tôi vẫn
nhận được.
Ông trụ lại Ban Mê Thuột mặc dầu ông có
điều kiện làm lại cuộc đời ở một nơi chốn khác. Tôi nhớ có
lần ông đã tâm sự:
– “Mình con địa chủ, học trường
Tây, lại là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, hơn thế nữa
là trí thức. Địa chủ cộng với Tây, cộng với sĩ quan ngụy
quân, cộng với trí thức, cộng với Ê–Đê, cộng với giải phóng,
cộng với Xã hội Chủ nghĩa để trở thành người Việt Nam. Làm
người Việt Nam mà không đói khát, không đau thương, không
khổ nhục, chưa thực sự là người Việt Nam”.
Ôi, cái
công thức, cái con đường gì mà đắng cay đến thế. Có đi hết
những chặng đường như thế mới là người Việt Nam sao? Đối với
riêng tôi, những lời của Nguyễn Hữu Thới là một liệu pháp
giúp tôi vượt qua được những bi quan khiếp sợ trong những
ngày đối đầu với bệnh tật và môi trường sống xã hội chủ
nghĩa tại Ban Mê Thuột. Ông đích thực là người thầy thuốc
mẫu mực, một con người lương thiện mà bất cứ một nền y tế,
một đất nước bình thường nào cũng nhất thiết không nên rẻ
rúng.
Mấy tháng sau khi về Đà Nẵng chồng tôi một lần
trở lại Ban Mê Thuột, gặp lại Bác sĩ Nguyễn Hữu Thới – người
thầy thuốc đồng thời là người tri ngộ trong một đêm cùng
nhau trăn trở, đã biết thêm một thông tin ngẫu nhĩ rằng:
Nguyễn Hữu Thới là hậu duệ đời thứ mười hai của Nguyễn Hữu
Cảnh, người mà 300 năm trước vâng mệnh của chúa Nguyễn đến
lập đồn biên phòng ở Mố Xoài, nay thuộc tỉnh Đồng Nai.
Thông tin cuối cùng chúng tôi nhận trễ tại Đà Nẵng vào
cuối năm 1994 rằng là Bác sĩ Nguyễn Hữu Thới bị đột quỵ,
cương quyết không chịu đi bệnh viện, đã qua đời ở cái tuổi
chưa đến 60. Ông không còn đủ sức để đi tiếp con đường khổ
nạn làm người Việt Nam mà ông đã vạch cho chính mình.
Rời Ban Mê Thuột tôi mang tâm trạng một người bỏ cuộc,
chạy trốn. Nhẹ nhàng hơn, tôi xem mình như người lính bị
loại khỏi cuộc chiến mà mình đã dấn thân. Ba năm hai tháng
bảy ngày ở khoa nhi Bệnh viện tỉnh Daklak quả là một quãng
thời gian đáng nhớ của một người thầy thuốc đến đúng cái nơi
cần phải đến.
*
Nhưng điều đáng nhớ nhất của
tôi chưa phải là “liệu pháp Nguyễn Hữu Thới” mà là “liệu
pháp Hoàng Ngọc Châu”.
Hoàng Ngọc Châu đến bệnh viện
vào một buổi chiều áp tết năm Mậu Ngọ (1978) trong tình
trạng cấp cứu: mặt mày Châu như một tàu lá héo, em khó thở,
da xanh mướt, môi nhợt nhạt, mũi hếch, cánh mũi phập phồng,
mắt lồi, đầu ngón tay ngón chân bè ra và tím tái... Việc
chẩn đoán bệnh cho Châu không khó lắm vì các triệu chứng lâm
sàng đã rõ ràng và khá đầy đủ. Em bị tim bẩm sinh: một
trường hợp thông liên thất đã đổi shunt và có biến chứng
tăng áp phổi [1].
Chúng tôi nhanh chóng làm các thủ pháp cấp cứu, các thủ
tục nhập viện, và nói với người nhà (mẹ em) chuẩn bị tinh
thần để em ở lại bệnh viện dài ngày.
Những ngày áp
tết bệnh viện và khoa nhi giảm dần quang cảnh tấp nập. Các
bệnh nhân nhẹ hay đã ổn định lần lượt cùng với thân nhân về
quê lo Tết và ăn Tết. Nhân viên bệnh viện một số cũng “tranh
thủ” về nhà để làm cái gì đó chuẩn bị các thứ...
Tôi
lần đầu tiên đón tết xa nhà. Những thứ phân phối nhận được
từ ban “đời sống” bệnh viện nhiều và khác lạ hơn ngày thường
nhưng chúng tôi không đủ sức “lo Tết”. Ăn uống cũng rất cần
cho tình trạng thiếu thốn dinh dưỡng như chúng tôi, nhưng
nghỉ ngơi đối với riêng tôi lại cần thiết hơn rất nhiều.
Trang hoàng nhà cửa, cúng kiếng, nội ngoại, bạn bè nay đã xa
không cần phải thăm hoặc tiếp bất cứ ai. Căn phòng nhỏ hẹp
và tối do nhà nước cho ở hoàn toàn không thích hợp với một
giò lan rừng do người cha của một bệnh nhân tặng.
Ba
ngày Tết của hai vợ chồng “côi cút” chúng tôi là những lần
đèo nhau trên chiếc xe đạp đi quanh các nơi cần mà chưa đến
được trong thị xã. Chúng tôi không đủ sức đi xa hơn. Kết quả
là được thở thoải mái hơn là thăm ngắm cảnh quan. Mỗi lần đi
ra khỏi “phòng tiêu chuẩn” chúng tôi đều ghé khoa nhi. Hoàng
Ngọc Châu và những em bệnh nặng khác trở thành đối tượng để
tôi thăm Tết.
Đặc biệt mẹ con Hoàng Ngọc Châu là hai
người nói tiếng Huế duy nhất trong số bệnh nhân của tôi lúc
này. Châu đã qua cơn nguy cấp, tỏ ra liến thoắng, sinh động,
và ưa bắt chuyện... Qua câu chuyện ba ngày tết tôi biết quê
cha của Châu là Hải Lăng, Quảng Trị, quê mẹ em là Huế, gia
đình theo đạo Chúa, nghèo, và đơn chiếc. Cha em là quân nhân
của chế độ cũ, mẹ em là thợ may có một bàn máy đặt tại nhà
với khách hàng là bà con quanh xóm.
*
Năm
1972, Châu 3 tuổi, gầy yếu xanh xao theo mẹ vào Huế trong
“mùa hè đỏ lửa”. Hai mẹ con em trú tại nhà bà ngoại ở thôn
Lịch Đợi, phía sau nhà ga Huế. Ba em là quân nhân, thường
xuyên vắng nhà, theo đơn vị nay đây mai đó... Mẹ em bày một
cái bàn nhỏ bán nước chè cho khách qua lại tại một góc trước
sân ga để sống qua ngày.
Chiến tranh chấm dứt, ba em
thôi làm lính, gia đình bé nhỏ của em rời nhà bà ngoại trở
lại Hải Lăng sinh sống bằng nghề nông. Gia đình sum họp chưa
được bao lâu, chính quyền địa phương đưa ba em đi học tập
cải tạo ở Cồn Tiên, mẹ em tham gia hợp tác xã nông nghiệp.
Do em bị đau ốm thường xuyên, mẹ phải ở nhà chăm sóc nên
công điểm ở hợp tác xã chẳng được bao nhiêu, cuộc sống hai
mẹ con trở nên cùng quẫn phải bồng bế nhau vào lại Huế nương
nhờ bà ngoại. Việc bán nước chè ở trước ga Huế thu nhập
không đủ để đóng góp cùng bà ngoại trong các nhu cầu đơn
giản mà cấp thiết của ba người, một già yếu, một trẻ bệnh,
và một phụ nữ chân yếu tay mềm hết đường bươn chải. Họ quyết
định đi kinh tế mới theo chủ trương của nhà nước.
Phú
Xuân, xã kinh tế mới cách quận lỵ Buôn Hồ 30 cây số, cách
Ban Mê Thuột 70 cây số về phía Đông–Bắc là quê hương bất đắc
dĩ sau cùng của họ. Bởi phía sau họ còn có ba nơi để nghĩ
tưởng và nhớ thương về, bà con đồng đạo, nhà thờ xứ, và đặc
biệt người đàn ông là cha, là chồng, là rể đang đi học tập
cải tạo.
Ở xã kinh tế mới Phú Xuân bệnh tình của Châu
ngày một nặng thêm. Bà ngoại trông nom cháu và đảm trách
công việc: bếp núc, heo gà. Mẹ cháu, chị Sửu – một mình ra
đồng giữa hai thời kiểng với hợp tác xã và đầu tắt mặt tối
với mảnh đất vườn 1,000m² bao quanh nhà.
Châu phát
bệnh nặng giữa đêm, không đợi được đến sáng để theo chuyến
xe công nông duy nhất trong ngày ra huyện, chị Sửu phải gọi
nhờ mấy người trong đội sản xuất thay nhau võng Châu đi suốt
sáu bảy tiếng đồng hồ đường rừng ra bệnh viện Huyện. Bệnh
viên Huyện Buôn Hồ điều trị mấy ngày không thuyên giảm, họ
giới thiệu Châu lên Bệnh viện tỉnh Daklak.
*
Ở
khoa nhi Bệnh viện tỉnh Daklak, qua giai đoạn cấp cứu, Châu
có vẻ khỏe hơn, ăn uống được tí chút. Một tuần sau em đi lại
được, nói năng hoạt bát, ưa bắt chuyện, quan tâm nhiều thứ,
thắc mắc nhiều điều, tỏ ra là một đứa trẻ thông minh. Tôi
phải nhắc nhở cả hai mẹ con là nói nhiều không có lợi cho
việc điều trị bệnh, em vâng lời nhưng chóng quên. Em chờ
những lúc tôi rỗi tay là lân la hỏi hết chuyện này đến
chuyện nọ. Có lần em hỏi tôi:
– Bác biết tiếng Tây
phải không?
Tôi nhìn em thật lâu và hỏi lại:
–
Con thắc mắc như thế để làm gì? Con cần biết điều gì phải
không?
– Hôm trước con thấy bác nói chuyện với Bác sĩ
Thới toàn tiếng Tây không à
[2].
– Ừ mà chuyện bác biết hay không biết tiếng Tây, con hỏi
để làm gì.
– Ở với bà ngoại, con hay nghe bà hay nhắc
đến Thánh Đường, Thánh Lễ La Vang. La Vang đối với ngoại và
cả mẹ nữa vô cùng tôn kính và thiêng liêng. Con không hiểu
hai từ La Vang là gì. Con đã hỏi mẹ và ngoại nhiều lần nhưng
cũng chỉ được trả lời: đó là một nhà thờ rất to, rất thiêng.
Một lần nào đó hồi xa xưa Đức Mẹ đã hiện ra che chở cho
người có đạo trước sự truy đuổi chém giết của người ngoại
đạo. Ba con đi học tập. Mẹ và ngoại muốn đến đó để cầu xin
Đức Mẹ cứu giúp cho Ba mau được thả về. Không đi được, đêm
nào mẹ và ngoại cũng cầu nguyện, van xin Đức Mẹ La Vang cho
ba được về, cho cháu được lành bệnh. Con không hiểu từ La
Vang là gì? Có phải kêu to và vang xa hay la lối vang núi
đồi như mấy người lớn ở quê mới giải thích không? Hay La
Vang là tiếng Tây mà người mình vì dốt mà không hiểu được?
Bác biết tiếng Tây, bác giảng cho con, con rất muốn nghe.
Tôi phân vân không biết giải thích thế nào cho em, đây
là một vấn đề tôi đã trao đổi nhiều lần với cha Petitjean
[3],
người dạy Pháp văn cho tôi. Tôi cố tóm tắt sao cho thật dễ
hiểu.
– Theo bác, La Vang không phải là tiếng Tây
cũng không là tiếng Việt. Gốc của La Vang là lá vằng. Lá
Vằng là loại cây mọc hoang trên núi đồi Quảng Trị, lá vằng
là một loại cây thuốc mà ngày xưa các bà mẹ khi mang thai
thường uống để sinh con có nước da hồng hào không viêm
nhiễm. Lá vằng cũng dành cho các bà mẹ sau khi sinh uống để
có sữa nhiều. Vì thương con nên các bà mẹ đã chịu khó uống
thứ nước lá rất đắng này trong suốt một thời gian dài từ khi
mang thai đến hết thời kỳ cho con bú. Thời vua Cảnh Thịnh
nhà Tây Sơn cách đây khoảng 220 năm, đạo Thiên Chúa bị đàn
áp. Dân xứ đạo Cổ Vưu (một xứ đạo cách thị xã Quảng Trị 4
cây số về phía tây, cách thành phố Huế 50 cây số về phía
bắc) đã chạy trốn ở một ngôi chùa hay đình miếu gì đó đã
hoang tàn giữa một đồi chung quanh có nhiều cây lá vằng.
Cuộc sống khó khăn, đói khổ, bệnh tật, một đêm nào đó họ
thấy Đức Mẹ Maria hiện ra ban phép lành và che chở họ. Nhờ
vậy họ vượt qua hiểm nguy, bệnh tật, và tuyệt vọng. Từ sau
sự kiện Đức Mẹ hiện ra trên đồi lá vằng, địa danh này trở
nên nổi tiếng trong cộng đồng người công giáo. Nhiều người,
nhiều gia đình gặp tai ương hoạn nạn đã lên đó cầu xin để
được tai qua nạn khỏi. Nhà thờ trên đồi lá vằng được xây
dựng, sửa chữa, xây mới ngày một to lớn và đẹp đẽ.
Tôi nói chưa xong thì Hoàng Ngọc Châu nóng vội hỏi:
–
Nhưng tại sao nhà thờ trên đồi lá vằng lại gọi là La Vang?
Tôi lấy một đơn thuốc lật mặt sau viết lớn cùng trên một
hàng bốn chữ: Lá Vằng – La Vang đưa cho Châu và bảo:
– Con hãy quan sát và nói cho bác nghe có gì giống nhau và
khác nhau trong bốn chữ này.
Hoàng Ngọc Châu cầm tờ
giấy nhìn và ngẫm nghĩ một lúc và trả lời:
– Lá Vằng
có dấu sắc, dấu á, dấu huyền. La Vang không có dấu nào cả.
Tôi giải thích tiếp cho Châu:
– Tiếng Tây và chữ
Tây không có các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng, chữ Tây
cũng không có các âm ă, â. Người Tây quen nói và viết tiếng
nước họ, khi họ nói và viết tiếng Việt họ thường nói sai và
viết sai. Ví dụ chữ lá vằng họ nói và viết thành la vang.
Tên con là Hoàng Ngọc Châu, họ viết và đọc là Hoang Ngoc
Chau. Tên mẹ con là Sửu họ viết và đọc là Suu. Trong số
những người dân Đạo chạy nạn Tây Sơn lên trốn trên đồi lá
vằng chắc chắn có một ông cố đạo người Tây. Ông này nói
không chuẩn tiếng Việt, lá vằng ông nói thành la vang. Dân
có đạo mình rất kính phục, vâng lời tuyệt đối và hay bắt
chước bất cứ thứ gì có thể bắt chước được từ các ông cố đạo
suốt mấy trăm năm. La Vang hay Hoang Ngoc Chau hay Suu là ba
trong rất nhiều ví dụ.
Hoàng Ngọc Châu chăm chú nghe
ra vẻ bằng lòng với những lời giải đáp của tôi.
Tôi
hỏi tiếp em:
– Thế con thích gọi nhà thờ La Vang hay
nhà thờ Lá Vằng?
Châu trả lời nhanh và gọn:
–
La Vang thì dễ nói hơn, Lá Vằng thì hay hơn.
Tôi
chưng hửng trước nhận xét dứt khoát của em. Đằng sau ánh mắt
mệt mỏi, làn da xanh tái, những nhịp thở ngắn thiếu khí ấy
tôi cảm nhận được những nét tinh anh, thánh thiện tồn tại
như những tia nắng le lói đang tắt dần giữa bầu trời tối
đen.
*
Sau Tết khoảng 10 ngày, thấy chị Sửu,
mẹ Châu, đang loay hoay nấu nướng gì đó ở khu bếp dành riêng
cho người nhà bệnh nhân, trở lại phòng, tôi bảo Châu:
– Mẹ con nấu nướng vất vả lắm, con gắng ăn nhiều cho mẹ
vui. Châu cúi mặt, đưa tay chùi nước mắt và nói:
–
Bác không biết mẹ con và bà ngoại cực khổ và thương con như
thế nào đâu. Trước khi đi bệnh viện, con nghe được câu
chuyện giữa mẹ và bà ngoại. Ba con đi học tập chưa về, con
không biết hỏi ai để biết sự thật. Con nói với bác nhưng bác
đừng nói lại với ai.
Châu vừa nói đến đó, thấy mẹ
bưng cháo vào, em dừng lại, làm ra vui vẻ, nhận tô cháo từ
tay chị Sửu, vừa thổi vừa ăn một cách ngon lành. Nét mặt
người mẹ tươi hẳn lên, trông chị tràn đầy hạnh phúc và hy
vọng.
Mấy hôm sau chị Sửu gởi Châu lại cho người nuôi
bệnh bên cạnh để về Phú Xuân lấy thêm gạo củi. Châu chờ lúc
tôi không bận việc, em vội đến bên tôi không ấp úng như bữa
trước, trái lại em tỏ ra chững chạc tự tin:
– Hôm
trước con định kể chuyện con cho bác nghe, nhưng mẹ vào, con
vội thôi. Hôm nay bác có rảnh và muốn nghe con nói không?
Tôi bảo:
– Con cứ nói, bác nghe đây.
Châu buồn
bã, khóc rưng rức rồi nói trong nước mắt:
– Con
không... không... phải... là... con... đẻ... của mẹ. Mẹ
Sửu... không phải... là... mẹ đẻ... của con.
Tôi bối
rối không hiểu chuyện gì, tôi hỏi lại Châu:
– Tại sao
con nói thế?
Châu bảo:
– Trước khi đi Bệnh
viện Buôn Hồ con nghe bà và mẹ nói nhỏ với nhau rằng: “bệnh
con thấy tăng không thấy giảm. Phải đưa đi nhà thương thôi.
Cả bà và mẹ đều khóc và nói: Dù không phải là con đẻ, là
cháu ruột nhưng không thể không thương. Khó khăn thế nào
cũng phải cố thôi. Phải bán con heo lấy tiền, mượn thêm
thúng lúa xay gạo để đem nó đi chữa bệnh”.
– Bác ơi!
Châu tiếp tục nói, con rất nhớ ba, thương mẹ, thương bà. Bác
ơi! con có sống được không? Ba con có về kịp không? Bác
ơi... Châu vừa nói liên hồi vừa thở hổn hển, rồi òa khóc.
Tôi đau điếng trong lòng, muốn khóc nhưng cố gắng tỏ ra
bình thường và nói:
– Con sẽ không sao đâu, ăn nhiều
và đừng nghĩ đến chuyện buồn. Ba con sẽ về thôi... Con có mẹ
và bà thật tuyệt vời. Tôi lau nước mắt cho em, xoa đầu an ủi
để em bớt xúc động. Được một lúc lâu, hết khóc, Châu nói:
– Bác ơi! con có điều nhờ bác, bác phải hứa giúp con.
– Ừ bác sẽ giúp, làm gì được trong sức của bác, bác sẽ
làm.
– Con biết không sống được đến ngày ba về, con
nhờ bác viết cho ba con một cái thư. Viết rằng con nhớ
thương ba, mẹ, và bà ngoại hết lòng thương yêu chạy chữa và
chăm sóc cho con. Con cũng rất thương bà và mẹ. Con chết vì
bệnh nặng không chữa được, mai tê ba về đừng la trách mẹ tội
nghiệp.
Tôi bàng hoàng, bao tử thắt từng cơn, không
cầm được lòng, nước mắt chảy dài. Cố gắng trấn tĩnh, tôi nói
với Châu:
– Con cũng có thể viết thư cho ba kia mà.
Châu bảo:
– Bác viết thì ba tin hơn. Con viết ba
không tin bằng bác viết.
Nói được với tôi câu đó,
Châu bớt xúc động, em có vẻ thanh thản hơn. Em đến giường,
nằm xuống mắt lim dim muốn ngủ.
*
Một ngày
tháng giêng, Ban Mê Thuột gió nổi từng cơn, bụi đỏ mù trời.
Các cửa kính bệnh viện cũ kỹ tù mù, bụi phủ hết lớp này đến
lớp khác mặc dù các chị y công sáng nào cũng lau chùi. Từ
trong phòng làm việc thỉnh thoảng tôi ngước nhìn qua cửa sổ:
cây lá lay động tả tơi, vật vờ trong gió cát. Tôi linh cảm
một điều gì đó chẳng lành sẽ đến. Hoàng Ngọc Châu, bệnh nhân
bé nhỏ tội nghiệp của tôi, thiên thần của tôi ra đi chăng?
Nhớ lời em gởi gắm. Tôi liên tưởng đến tiếng chim hót
trong bụi mận gai. Tiếng hót thật hay thoát ra từ trái tim
đang rỉ máu.
Hoàng Ngọc Châu ra đi. Không có vị linh
mục nào làm thánh lễ cho em. Chỉ có chị Sửu, mẹ em, và tôi –
kẻ ngoại đạo đồng thời là người thầy thuốc bất lực – ở bên
em những giây phút cuối cùng. Tôi vuốt mắt, chị Sửu cài lại
cúc áo, làm dấu thánh cho em và vỡ òa một cơn khóc mà chị cố
kìm nén bấy lâu. Chị gào lên:
– Con ơi, mẹ biết ăn
nói với ba con sao đây?
– Anh ơi! Sao giờ này lại
không có anh. Thằng Châu đã bỏ chúng ta rồi...
Tôi
lại bàn làm việc, định thần một lúc, viết giấy khai tử cho
em. Nhớ lời em nhờ, tôi lật mặt sau tờ giấy khai tử viết mấy
dòng sau đây:
“Tôi:
Bác sĩ Nguyễn thị Kim Thoa, đã tiếp nhận và điều trị tích
cực bệnh nhi Hoàng Ngọc Châu. Bệnh em Châu nặng, khả năng
bệnh viện và cá nhân tôi không đủ để duy trì sự sống cho em.
Trước khi qua đời, em Hoàng Ngọc Châu nhờ tôi viết lại mấy
lời gởi cho người cha đang đi học tập cải tạo: ‘Ba ơi! con
rất nhớ ba. Ở nhà cũng như ở bệnh viện mẹ và bà ngoại đã
thương yêu nuôi nấng và chăm sóc con đầy đủ, chu đáo. Con
thương mẹ, ba, cũng như thương bà. Con của Ba: Hoàng Ngọc
Châu’”.
Tôi
đưa tờ khai tử cho chị y tá Ri lên khu hành chánh để đóng
dấu. Tôi dặn chị Ri nhớ đóng dấu cả mặt sau nơi tôi ghi mấy
dòng di ngôn theo yêu cầu của Hoàng Ngọc Châu. Chị Ri lau
vội nước mắt bước ra.
Ngồi lại một mình, nước mắt vẫn
giàn giụa, lòng xúc động nhưng không còn quặn thắt đau như
trước đó mấy phút. Tôi nghĩ về Hoàng Ngọc Châu với lòng quí
trọng và biết ơn. Tôi đã nhận được từ em, cậu bé tám tuổi
trước khi lìa khỏi cuộc đời tàn ác vô tình này, một ý chỉ,
một thông điệp về tình yêu thương, lòng vị tha, và ý thức
trách nhiệm đối với người còn ở lại, không chỉ với cha mẹ,
bà ngoại mà còn với tất cả chúng ta, những kẻ đang nhân danh
hay mạo danh đủ mọi thứ giữa cuộc tồn tại hai mặt này.
Những lời đơn sơ mộc mạc mà Hoàng Ngọc Châu đã thều thào
thốt ra trước lúc lâm chung và cả những điều em đã nói với
tôi qua những cuộc trao đổi trong những ngày sau Tết đã làm
thay đổi mối giao tiếp giữa tôi và em. Tôi không còn là một
bác sĩ với “sứ mệnh” cứu chữa bệnh tật cho em nữa, bởi tôi
đã bó tay bất lực để cho cái cậu bé vô cùng thánh thiện ấy
ra đi. Còn em mặc dù rất muốn sống để chờ người cha đi học
tập về để yêu thương và được yêu thương trong mái ấm gia
đình, trong cộng đồng làng nước, nhưng em đành chấp nhận
cuộc ly biệt chẳng đặng đừng. Có điều em chẳng hề oán trách
bất cứ ai, bất cứ thế lực nào, trần gian hay thiên giới, đặc
biệt em không muốn cái chết của chính mình sẽ để lại bất cứ
một ngộ nhận nào có thể nảy sinh từ một sự thật em tình cờ
nghe biết được trước khi đi bệnh viện rằng hai phụ nữ đã cúc
cung tận tụy nuôi nấng chăm sóc chạy chữa cho em suốt tám
năm trời trong tình yêu thương vô hạn không phải là mẹ, là
bà ngoại ruột.
Những lời trăng trối em gởi gắm cho
người cha mong đợi mà tôi đã ghi lại ở mặt sau tờ khai tử
của Hoàng Ngọc Châu đã chuyển hóa tôi từ một người thầy
thuốc thất bại thành người thư ký khiêm tốn của một thiên
thần.
Nguyễn Thị Kim Thoa

Tác giả ghi chú:
[1]
thông liên thất, tăng áp phổi: communication
interventriculaire, hypertention pulmonaire: syndrome
Exeimeiger...
[2]
Bác sĩ Thới như tôi đã giới thiệu
ở trên, ông có thói quen dùng tiếng Pháp để diễn đạt các
khái niệm chuyên môn. Gần như ông không biết các danh từ y
khoa tiếng Việt. Tôi nói Thông Liên Thất ông không hiểu. Tôi
phải nói communication interventriculaire. Tôi nói tăng áp
phổi ông càng tò te. Tôi phải nói hypertention pulmonaire
thì ông nhanh chóng ừ ừ gật gật. Tôi xin mở một ngoặc đơn để
nói rõ hơn về vấn đề chuyên ngữ tại Đại học Y khoa Huế. Tôi
biết thêm một số từ ngữ y khoa tiếng Việt nhờ môt năm học
tập chính trị sau giải phóng. Thời gian này sinh viên khoá
10 Đại học Y khoa Huế, phải thực tập thêm một năm với tư
cách là sinh viên nội trú tại Bệnh viện Trung ương Huế. Tại
đây chúng tôi nhận sự hướng dẫn bởi các bác sĩ chuyên nhi từ
miền Bắc vào. Các vị này bắt buộc chúng tôi phải sử dụng
tiếng Việt hoàn toàn trong tất cả mọi trường hợp từ làm bệnh
án đến giao tiếp với đồng nghiệp, với bệnh nhân. Tôi biết
chủ trương lấy tiếng Việt làm chuyển ngữ đã được một số nhà
chuyên môn, nhà văn hóa, nhà báo ở miền Nam cổ vũ từ nhiều
năm trước. Tại Huế, Bác sĩ Lê Khắc Quyến, nguyên khoa trưởng
Đại Học Y khoa Huế đã biên soạn cuốn tự điển danh từ y khoa
Pháp–Việt và hô hào mạnh mẽ cho hành động có tính cách chính
trị và văn hóa này trên tạp chí Lành Mạnh do ông chủ trương.
Nhưng thực tế kết quả chẳng được bao nhiêu. Tại Đại học Y
khoa Huế từ các giáo sư người ngoại quốc, các giáo sư, giảng
sư người Việt, đến bác sĩ trợ giảng, chế nghiệm viên, và
sinh viên đều dùng các thuật ngữ y khoa bằng tiếng Anh,
tiếng Pháp, và cả tiếng Đức. Thậm chí có giáo sư người Việt
vẫn soạn giáo trình và giảng hoàn toàn bằng ngoại ngữ. Có
nhiều sinh viên phải rời trường Đại Học Y vì trình độ ngoại
ngữ không đủ để đáp ứng yêu cầu của một số môn học.
Có điều cần làm rõ là việc sử dụng ngôn ngữ Việt trong giảng
dạy và học tập tại tất cả các chuyên ngành khác nhau ở bậc
đại học hoàn toàn không đồng nghĩa với việc sinh viên và cả
rất nhiều giáo sư tiến sĩ tại các đại học Việt Nam không
biết ngoại ngữ. Ngoại ngữ theo tôi là cầu nối ốc đảo trí tuệ
và học thuật Việt Nam với các đại lục trí tuệ và học thuật
thế giới.
[3]
Petitjean tên đầy đủ là Henri
Petitjean, linh mục thừa sai thuộc Giáo hội
Pháp quốc hải ngoại. Trước 1954 hành đạo ở Hải Phòng. Sau
1954 chuyển vào miền Nam, cư trú và hành đạo tại Huế. Bị
trục xuất khỏi Việt Nam ngày 4 tháng 9 năm 1975. Tôi quen
ông ở lớp học Pháp văn do ông phụ trách, đồng thời tôi cũng
giúp ông hiểu thêm về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Câu
chuyện lá vằng và La Vang là một trong những vấn đề chúng
tôi đã thảo luận.
[4] Tôi ghi chú thêm về câu
chuyện trên: Châu mất mẹ khi lọt lòng. Chị Sửu
về làm mẹ Châu sau đó không lâu. Tôi biết được điều này
trong một dịp đi công tác tuyến ở xã kinh tế mới Phú Xuân.
Tôi đã tìm thăm hai người phụ nữ lương thiện và đáng kính
này. –Nguyễn Thị Kim Thoa



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by lt chuyển
Đăng ngày Thứ Sáu, September 26, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH