Gia
Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Truyện
ngắn
Chủ đề:
tình đồng đội
Tác giả:
Lưu Hoàng Kỳ
bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

Ngày
mới ra tù đi gặp ông Ký chủ lò gạch ở Núi Hùm để xin việc
làm. Tôi lo dữ lắm. Tôi dựng xe đạp bên gốc cây trước lò
gạch, ngồi lên khúc củi chờ, vì nghe nói ông chủ đi đâu đó.
Mặt trời lên cao, nắng chói chang đổ xuống lò gạch, nhìn lao
công nhễ nhại mồ hôi công việc nặng nề, tôi cảm giác sợ
nhưng vẫn thầm mong ông chủ chấp nhận để có được việc làm.
Đang suy nghĩ lan man, người lao công tôi làm quen lúc mới
đến đi ngang qua:
– Ê... Ông Ký đến rồi, em vô gặp để
ông đi lại đợi nữa.
Tôi theo hướng chỉ của người lao
công. Ông Ký cao lớn có bộ ria mép đen rậm. Cảm nhận đầu
tiên là từ vóc dáng đến gương mặt trông rất giống Nguyễn Cao
Kỳ. Tôi thầm nghĩ: “Sao lại có người giống nhau quá vậy
trời”!
Ông đang cắm cúi ghi chép gì đó, tôi đến đối
diện nở nụ cười, lễ phép:
– Dạ... em chào anh.
– Có gì không em? Ông ngước lên.
Tôi trình bày
xin việc làm bốc gạch. Ông lại nhìn vào quyển sổ:
–
“Nhà em ở đâu?”.
Sau khi nghe tôi trả lời, ông hỏi
tiếp có biết người này người kia không? Ông hỏi đúng tên ông
“thân sinh” của tôi và một vài người khác. Nghe tôi nói ông
nhìn lên ngạc nhiên:
– A... vậy à, vậy là lúc bác...
còn sống với gia đình anh là chỗ thâm tình có lạ gì đâu?
Ông Ký là con một gia đình giàu có tiếng tăm ở Tư
Nguyên. Cha mẹ ông là thông gia với ông thông gia của cha
tôi, nhờ vậy mà được hưởng lây cái “dư hương” dù cha tôi đã
không còn trên cõi đời. Khi biết tôi mới ra tù lâm cảnh khốn
khó, ông nhìn từ đầu đến chân thái độ thân thiện cười:
– “Công tử” mà đi vác gạch, liệu có làm được không em?
Công việc nặng nề, lấm láp như em thấy đó.
– Dạ
được... “công tử” gì đâu anh! Em làm được hết.
Ông Ký
vui vẻ hỏi tôi về gia đình, chuyện quân đội, chuyện ở tù,
thái độ thân thiện. Tuy nhiên tôi vẫn dè dặt vì thời thế
thay đổi, lòng người có thể cũng đổi thay nên tôi e dè. Nói
chuyện chừng nửa tiếng, sau cùng ông gật đầu đồng ý bảo sáng
mai đi làm.
Tôi xin phép về, ông theo ra sân. Lúc
thấy tôi dắt chiếc xe đạp trần trụi chỉ có hai bánh, không
gạc, không thắng, không bàn đạp. Ông kêu lên:
– Trời
đất! xe như vầy làm sao em đi, nguy hiểm quá!
– Em đi
rất chậm, của ông Nhạc cho chứ em chả có gì hết, vô sản mà
anh! Tôi cười.
Ông nhìn theo khi tôi đạp xe ra ngõ.
Ngày ra tù, tôi thuộc loại vô sản đúng nghĩa, ngôi nhà
của cha mẹ để lại bị trưng dụng làm cơ quan. “Cách mạng” cho
gia đình tôi được “ưu tiên” tạm lưu trú ở chỗ trước đây làm
nơi nhốt gà và bếp nấu ăn.
Trước ngày “đổi đời” tôi
còn quá trẻ, chưa bao giờ nghĩ đời mình thê thảm tận cùng
thế này. Cơn hồng thủy đã quét sạch những ước mơ, khép chặt
cánh cửa vào tương lai. Chúng tôi bất ngờ bị nhậm chìm xuống
tận cùng đáy vực.
Ra tù tôi làm việc gì để sống cũng
gặp trở ngại vì bị “quản chế”. Ra khỏi nhà phải báo cáo với
ông tổ trưởng, xin ông công an cho phép chứ không phải muốn
đi đâu tùy ý, mà tôi thì không bao giờ muốn gặp “họ”. Người
chung quanh không ai dám đến gần làm như tôi mắc bệnh phong
cùi. Bà con bạn bè gặp nhau ngó lơ làm như không quen.
Mỗi thứ hai đầu tuần tôi phải trình diện công an, ngồi
viết tường trình trong tuần qua làm gì? Đi đâu? Gặp ai? Thấy
gì? Nghe gì? Chuyện viết báo cáo hàng tuần với tôi là một
khổ hình, “ớn” tận óc, vì chưa bao giờ viết một lần là được
“họ” chấp nhận, phải viết đi viết lại không biết bao nhiêu
lần. Nhiều hôm mặt trời đứng bóng tôi mới lê bước rã rời ra
khỏi cơ quan với nỗi chán chường.
Tôi đói meo, nhà
không có cơm. Đến bữa, tôi xách cuốc ra vườn đào ít củ lang,
hoặc nhổ bụi khoai môn, chà rửa sạch sẽ bỏ vào nồi, cho nắm
muối... vậy là xong một bữa. Ngày này qua ngày khác “thực
đơn” không thay đổi. Nghĩa là củ lang và khoai môn “bám trụ”
vững chắc không có thứ gì khác được phép “thay thế” trong dạ
dày của tôi.
Làm mướn thì không ai thuê. Nhà nhà đều
xác xơ, công việc phần ai nấy làm. Lại thêm dưới mắt mọi
người thì tôi vẫn thuộc loại “công tử”, nên ra tù về đã một
tháng, đói gần chết mà chẳng có “ma” nào thèm mướn làm thử
một ngày, chỉ mong kiếm được bữa ăn. Lại thêm mỗi khi cần đi
đâu tôi phải mượn xe đạp của người hàng xóm, mà việc này thì
không phải dễ dàng.
Hôm có người mách mối công việc
làm gạch ở Núi Hùm, trở ngại đầu tiên là chuyện làm đơn xin
công an cho phép ra khỏi nhà. Tôi phải mất cả tuần lễ đi tới
đi lui vì đơn bị bác lên bác xuống, khi ông thôn đồng ý thì
ông xã lại lắc đầu, làm tôi ngất ngư muốn bỏ cuộc.
Vừa xong chuyện đơn trương, tiếp theo lại lo phương tiện di
chuyển. Thấy tôi bí đường lúng túng nghĩ suy, ông “Nhạc”
thương tình đi góp nhặt ở đâu mấy cái phụ tùng cũ phế thải
ráp cho chiếc xe đạp vừa đủ để di chuyển tạm thời.
Hôm trao xe ông “Nhạc” nhìn tôi cười cười:
– “Hồi
trước đi xe jeep bây giờ chịu khó đạp xe này nghe con”.
Tôi dạ, nụ cười của tôi chắc tang thương lắm khi nhìn
thấy “dung nhan” chiếc xe, “người bạn” sẽ đồng hành cùng tôi
trên con đường thiên lý.
Trời ơi! Chiếc xe mà ông
Nhạc trao tặng mới thê thảm làm sao! Nó đơn giản tới mức
không còn thể nào đơn giản hơn được, trần trụi chỉ có ghi
đông, cái sườn cũ móp méo tứ tung, có hai bánh xe, không gạt
bùn, không dây phanh, bàn đạp chỉ là hai cây sắt mòn nhẵn.
Sợi dây xích sét lỏng le, bắt vào cái dĩa cũng già lão răng
cưa nhọn hoắc.
Khi tôi đạp một đoạn, nó trật xích,
qua ổ gà rung nhẹ là nó rớt liền tù tì, phải xuống xe móc
lại dây xích liên tục. Có khi vừa đặt mông lên yên xe, đạp
chưa giáp một vòng lại rớt, cứ nhảy lên nhảy xuống hoài, đôi
khi mệt quá tôi dắt bộ luôn cho khỏe.
Mỗi lần ra khỏi
nhà phải chuẩn bị một nùi giẻ nhét dưới yên, vì khi đến nơi
hai bàn tay tôi lúc nào cũng đen thui dầu nhớt. Bởi không có
phanh nên muốn dừng lại phải rà bàn chân vào bánh sau làm
đôi dép nhựa mòn te tua, mà dép của tôi thì rách từa lưa,
phải cột khâu bằng dây kẽm chứ có lành lặn gì đâu! Vậy mà
chiếc xe độc đáo đó cũng đã đồng hành cùng tôi đi sớm về
tối, đã chia sẻ những nhọc nhằn suốt một thời gian dài, cho
đến ngày tôi rời bỏ quê nhà ra đi.
Trở lại chuyện đi
làm ở lò gạch. Ngày nào tôi cũng dậy sớm nấu cơm bỏ vào lon
guigoz, gọi là cơm cho oai chơi vậy thôi, nhưng chỉ một phần
gạo trộn với bốn phần bắp xay, nhìn lon cơm thấy toàn bắp
đỏ, có hôm thay bắp bằng củ lang khô, một ít mắm đựng trong
hũ chao treo tòn ten vào ghi đông đạp cộc cạch lên lò gạch.
Tôi phải đi sớm khi trời chưa sáng mới kịp giờ làm, vì
chiếc xe nó vui buồn bất thường, phải nhảy lên nhảy xuống để
bắt xích hoài nên đi chậm như rùa. Hôm nào cũng mệt gần
chết, khi đến nơi người ta đã làm việc từ đời nào, báo hại
tôi vội vàng vừa làm vừa thở muốn đứt hơi.
Công việc
của tôi là bốc gạch chín từ trong lò đem xếp thành cây ngoài
sân, rồi bốc gạch sống ngoài sân xếp vào một lò khác để
nung. Ngày đầu tiên mỗi khi đặt hai chồng gạch lên vai,
xương như gãy rời ra, tôi chịu đựng cả tuần lễ mới quen. Dù
đã có tấm bao bố trùm từ đầu xuống hai vai nhưng mặt mũi tóc
tai đầy tro bụi, nó phủ kín biến dạng không còn nhận ra
người.
Nhà tôi ở quê nên hồi còn đi học trung học ở
trường Trần Quốc Tuấn, mỗi cuối tuần về thăm nhà chạy xe
ngang qua lò gạch này, thấy lao công trùm bao bố từ đầu
xuống vai, hai chồng gạch cao, tay giữ thăng bằng đi thoăn
thoắt, nể họ quá! Không ngờ sau mười lăm năm đèn sách để trở
thành bác sĩ, kỹ sư. Bây giờ cũng lò gạch này tôi đang làm
cái công việc mà ngày đó nghĩ không liên quan đến đời mình.
Buổi trưa tôi mang cơm ra gốc cây ngồi ăn, vì không muốn
ai nhìn thấy cơm “đặc biệt” của mình toàn bắp đỏ lòm, hay củ
lang khô đen thui xám xịt, trong khi cơm người ta bắp không
nhiều, có thức ăn. Còn tôi thì duy nhất một hũ nước mắm, mà
mắm của tôi cũng đã ba phần tư là nước muối, nên tốt nhất là
không để họ biết mình ăn thứ gì.
Làm được ba ngày.
Một buổi trưa tôi vừa ngồi xuống gốc cây để lon cơm và hũ
mắm xuống đất, lấy chiếc nón vải lau mồ hôi, chuẩn bị mở nắp
lon guigoz thì có tiếng gọi nhỏ:
– Thiếu uý.
Tôi ngước lên. Dù mặt mày tóc tai người đứng trước mặt lấm
lem đầy tro bụi tôi vẫn nhận ra:
– “Xuân”. Tôi đứng
dậy, Xuân bước tới kêu:
– “Trời”, cả hai ôm vai nhau,
một giây yên lặng hai đứa ngồi bệt xuống đất mắt hai thằng
đều đỏ. Tôi nói nhỏ:
– “Uý Tá” gì nữa Xuân ơi!... họ
để ý mệt lắm... ủa... Xuân cũng làm gạch hả? Mấy hôm nay
mình không thấy?
Xuân chỉ lò gạch phía dưới cách nơi
tôi đang làm hơn trăm mét:
– Em làm ở lò bên kia.
Chiều hôm qua lúc về đi ngang qua thấy anh đang vác gạch, em
ngờ ngợ không lẽ Thiếu uý Tiến, thấy giống giống mà nhìn anh
te tua lấm lem xơ xác quá. Trên đường về em nghi ngờ, nhất
định hôm nay phải gặp để xác nhận có đúng là anh không?
– Mình mới làm có ba hôm. Còn Xuân làm lâu chưa? Tôi
hỏi.
– Em làm hơn một năm rồi. Anh ra tù bao giờ?
– Mới được một tháng, khó khăn quá không có việc gì làm,
trước mắt mình phải có tiền rồi tính sau.
Xuân nhìn
tôi:
– Sao anh không đi? Em nghĩ là anh đã đi rồi. Từ
ngày nghe anh chuyển về Pháo Binh Diện Địa Quảng Ngãi rồi
mất tin luôn. Không ngờ bây giờ lại gặp ở đây.
Tôi
tóm tắt ngày cuối Trung Đội pháo binh đóng ở Bình Sơn, tình
hình chung xảy đến quá nhanh, bất ngờ bị bắt không xoay trở
kịp.
Xuân thở dài:
– Số mệnh cả... gia đình em
cũng quyết đi, em và mẹ suýt bị sóng cuốn chìm ở bến cảng
Chu Lai... nếu một mình thì em đã lên tàu được.
– Sao
không để mẹ ở lại, Xuân đi trước rồi tính sau. Tôi nói.
Xuân lắc đầu:
– Thấy hỗn loạn chết nhiều quá mẹ
buộc em lo thoát thân một mình, nhưng thà cùng chết chứ em
không thể bỏ mẹ ở lại.
Ngưng một giây Xuân cúi xuống
nói chậm rãi:
– Khi mất Tam Kỳ, tin đồn bỏ Quảng Ngãi
lan rất nhanh, Mẹ nhắn ông chú ra Chu Lai nói là bằng mọi
giá em phải đi, chết cũng phải đi không được ở lại, đừng lo
gì cho mẹ. Anh nghĩ làm sao em bỏ mẹ? Ngày 24 em từ Chu Lai
chạy về Quảng Ngãi đưa mẹ đi, nhưng lại thất lạc bà chị dâu
và hai thằng cháu.
Tôi cắt lời:
– Xuân đưa mẹ
ra bằng cách nào?
– “Xe Honda, nhưng ra tới Bình Liên
bị việt cộng chận đánh, ai chết bỏ lại, xe cán lên người,
người giẵm lên người. Em bỏ xe dắt mẹ chạy bộ. Ra khỏi Bình
Sơn gặp anh Châu con bà Dì ruột làm ban Quân Xa lái chiếc
GMC đầy người, bám cả trên cabin, em nhét mẹ lên rồi bu
theo. Ra tới Nước Mặn đánh nhau phía trước, lại bỏ xe chạy
bộ. Em đưa mẹ ra được Chu Lai. Nhưng đêm 25 không thể lên
tàu, bến tàu người đông như kiến, chen lấn xô đẩy nhau rơi
xuống biển sóng cuốn đầy xác người bập bềnh. Mẹ không chịu
đi cứ hối thúc em lo thoát thân. Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng
chết sống tính từng giây, em đành xốc mẹ lên lưng lội ra
biển, hy vọng bám được lên tàu. Nhưng sóng lớn quá, sóng
nhồi lên cao đánh văng mẹ ra xa, em thất kinh quơ tìm xung
quanh xác người dập dềnh. Em hối hận quá! Mẹ bị sóng cuốn đi
rồi! Em kiệt sức tuyệt vọng buông xuôi theo sóng xô vào bờ.
Như một phép lạ mẹ bị sóng đánh giạt vào bờ nằm cạnh nhiều
xác người. Mẹ còn sống nhưng kiệt sức uống quá nhiều nước
biển”.
Xuân quay qua nhìn tôi:
– “Vậy là còn
mẹ, em không cần gì nữa... Tàu ra khơi, người ta nháo nhào
tìm thuê ghe đánh cá chạy ra biển. Đạn pháo kích ầm ầm tóe
lửa, Chu lai rực cháy sáng trời. Hai ngày sau mới đưa mẹ về
đến nhà thì không còn gì hết, nhà bị hôi của anh à”.
Xuân đăm chiêu buồn quá, hai đứa yên lặng không nói lời nào
như cùng chia chung nỗi kinh hoàng vừa trải qua. Chặp lâu
tôi hỏi:
– Thời gian đầu Xuân có bị làm khó dễ gì
không?
– Em lính trơn nên “học tập” tại địa phương
một tháng rồi công tác lao động liên miên.
– Lúc mình
chuyển đi khỏi Tiểu Đoàn 20, Xuân vẫn ở pháo đội Chỉ Huy
Công Vụ cho tới ngày cuối cùng hả? Tôi hỏi.
– Dạ, Đại
uý Quả làm Pháo đội trưởng Chỉ Huy Công Vụ, vẫn giữ em ở lại
trong đội banh của Tiểu Đoàn.
Ánh mắt buồn nhìn vào
cõi xa xôi, Xuân tiếp:
– “Một thời gian lâu không
thấy anh ở Tiểu Đoàn. Hôm gặp Trung uý Nghiệp ở câu lạc bộ
hỏi thăm, mới biết anh đã chuyển về pháo binh diện địa Quảng
Ngãi”.
Cuộn phim quá vãng hiện về như mới hôm nào:
Tôi gặp Xuân ở Tiểu Đoàn 20 pháo binh, trong lần đầu tiên
tăng phái đi đề–lô cho Tiểu Đoàn 77 Biệt Động Quân biên
phòng ở Duy Xuyên, Xuân và Thọ là hai người lính được Ban 3
cắt theo mang máy truyền tin PRC–25 và phụ giúp tôi trong
cuộc hành quân.
Sau khi nhận sự vụ lệnh ở Ban 3 qua
Ban 2 nhận bản đồ, tôi dẫn Xuân và Thọ về phòng ngủ sĩ quan
sắp xếp đồ đạc chuẩn bị ra Hương An đổ quân. Ba đứa vừa bước
vào phòng, Chuẩn uý Sơn (Sơn ù) khoá 1/70 Thủ Đức (dân Quảng
Nam khoá đàn anh của tôi), đang ngồi đánh giày, nhìn bọn tôi
hỏi:
– Nghe nói mi đi với 77 hả Tiến, vùng mô biết
không?
– Dạ, nhận bản đồ vùng Quế Sơn, Duy Xuyên với
Hiệp Đức, anh đi vùng đó lần nào chưa?
Sơn nhìn bọn
tôi nheo mắt cười:
– Rồi! Hiệp Đức, Hậu Đức tau nhảy
xuống mấy lần cực bỏ mẹ nhưng vui. Mi coi chừng vô mấy buôn
làng thấy thầy trò mi trẻ tuổi đẹp trai, con gái thượng hắn
bắt giữ lại ở rể luôn đó nghe mi.
Tôi xếp đồ đạc bỏ
vào ba–lô vừa cười:
– Nếu được vậy thì tôi tình
nguyện ở lại luôn.
– Rứa hả? Rứa thì bàn giao con
“bồ” của mi ở Quảng Ngãi cho tau. Nghe Thiếu uý Hanh nói con
bồ mi đẹp lắm mà? Hứa với mi tau chăm sóc kỹ. Sơn cười.
Tôi xếp mấy tấm bản đồ, gom địa bàn, ống nhòm bỏ vào
ba–lô. Xuân đến cạnh hỏi:
– Đồ Chuẩn uý đâu đưa em
mang luôn cho.
– Thôi, đồ cá nhân của ai người đó
mang, Xuân mang máy nặng rồi, cứ để tôi lo. Ra Hương An còn
nhận lương thực hành quân nữa.
Chuẩn uý Sơn cười hì
hì châm chọc:
– Ê, cái “bình sữa” bỏ theo chưa? Xuân
nhớ Chuẩn uý Tiến còn “bú sữa” đó mi nghe.
– Xuân
cười: “Dạ”.
Vì mới hai mươi mốt tuổi, ra trường có
mấy tháng, vừa trẻ lại là đàn em nhỏ nhất trong nhóm sĩ quan
đề–lô, cả phòng hay trêu chọc, gọi tôi là “Tiến sữa”. Sơn,
Hanh, Công, Thắng, Vĩnh, toàn sĩ quan đàn anh thích nghịch
đùa, khi tập trung lại bịa chuyện để cười:
Một lần
Thiếu uý Vĩnh oang oang:
– “Bọn mi đừng rủ thằng Tiến
ra cà phê Hương, mấy em chẳng tiếp mô, tụi hắn sợ mắc tội dụ
dỗ trai vị thành niên ra tòa như chơi”. Hoặc Chuẩn uý Công
cười ha hả bảo tôi đi đề–lô nửa đêm nhớ mẹ khóc làm lộ điểm
đóng quân, khiến ông Tiểu đoàn trưởng bộ binh đòi trả về,
làm công điện xin đổi đề–lô khác.
Còn Thiếu uý Hanh
thì cười cười:
– “Hôm trước ngủ chung giường mới biết
nó còn đái dầm ướt tao luôn”.
Mấy đàn anh hay phịa
chuyện như vậy để cười mỗi khi tập trung ở phòng ngủ.
Xuân cũng bằng tuổi tôi, đẹp trai trắng trẻo nho nhã như
học sinh trung học. Hiền lành vui vẻ, siêng năng vô cùng,
dừng quân là lo đào hầm, cột võng, nhóm lửa nấu ăn. Mùa mưa
ở miền trung mà lại hành quân trên rừng, chuyện lửa củi rất
khó, nhưng Xuân cứ phải nấu nước sôi để chế cơm sấy, dù tôi
bảo đổ nước lạnh vì không thể nhóm lửa dưới mưa rừng. Hay
bữa ăn nào cũng có canh thịt hộp nấu với lá giang hoặc rau
rừng hái dọc đường.
Suốt ba tháng hành quân trong
rừng vùng Tây–Bắc thung lũng Quế Sơn, nơi chiến trường mịt
mù lửa đạn, đánh đấm tưng bừng, sự sống mong manh cận kề cái
chết, chúng tôi đã bên nhau trong tình đồng đội, gắn bó
thương nhau như anh em ruột thịt.
Xuân bắt việc rất
nhanh, đêm khuya bất kỳ lúc nào quân bạn chạm địch tôi thức
dậy gởi điện văn tác xạ là có Xuân bên cạnh, rọi pin cho tôi
xoay bản đồ, xác định phương giác, đọc tọa độ ghi chép phụ
giúp tận tình, ngồi chờ đến khi nào tác xạ xong hết nhiệm vụ
mới cùng nhau chui vào lều.
Ngày đó tuổi mới đôi mươi
bọn tôi đều còn quá trẻ nên dễ hòa đồng, đùa nghịch với nhau
không phân biệt quan lính. Mỗi khi dừng quân lúc Xuân và Thọ
đào hầm, tôi dành phần cột võng cho ba đứa, hay phụ căng
poncho, mỗi người một việc.
Có những đêm đóng quân
trên đồi tranh không cột võng, phải căng lều trải poncho
dưới đất, mây trời bập bềnh như khói giăng lạnh tê người,
lúc nào Xuân cũng để tôi nằm giữa cho ấm, nghe Xuân và Thọ
nói chuyện tếu rồi cười.
Những đêm nằm cạnh nhau Xuân
kể chuyện gia đình:
– “Cha em theo đạo Cao Đài bị
Việt minh giết khi em còn trong bụng mẹ, bà ở vậy nuôi hai
đứa con. Anh Hiệp vào Võ Bị Đà Lạt, về Thủy Quân Lục Chiến
đã có vợ.”
Biết Xuân cũng học Trần Quốc Tuấn sau tôi
một năm, thi rớt Tú Tài bán phần, tôi hỏi sao không vào Đồng
Đế? Xuân nói sợ đi xa bỏ mẹ một mình. Có người quen ở Bộ Chỉ
Huy pháo binh Sư Đoàn 2 xin cho về Tiểu Đoàn 20 để thỉnh
thoảng về với mẹ.
Như duyên nợ một năm sau, trong
chuyến đề–lô với Trinh Sát 2, Xuân lại được Ban 3 cắt đi với
tôi một lần nữa. Khi đơn vị bạn dưỡng quân Xuân hay đưa tôi
về nhà chơi. Nhà Xuân ở Gò Quán đối diện với ngôi trường
tiểu học, trong một xóm đông người. Mẹ Xuân là người lanh lẹ
và giỏi giang được học hành tử tế, nói chuyện rất mạch lạc
và sự hiểu biết có chiều sâu. Bà có cơ sở dạy may thêu lớn.
Bà kể tôi nghe về cái chết của cha Xuân và những người
trong gia đình, trong phong trào giết Cao Đài của Việt minh
ở Quảng Ngãi trước năm 1954. Những biến cố kinh hoàng đó như
vết chém hằn sâu trong ký ức đã mấy mươi năm chưa bao giờ
phôi phai. Bà lắc đầu: Bác rất sợ việt cộng.
Sự sống
của bà là anh Hiệp và Xuân, bà thường than thở khi bọn tôi
về thăm:
– “Bao giờ không còn cộng sản được hòa bình,
để bọn cháu hết đi lính. Bác lo cho thằng Hiệp quá, trận nào
cũng chết sống như chơi. Nay trên núi mai xuống biển, mới
nghe nó đánh trong Nam, hôm sau đã ra Quảng trị. Nó đi lung
tung.”
Bà hay ân cần dặn dò. Tôi nói:
– “Đạn
nó tránh người, chết sống có số mà bác”. Khi đi thế nào bà
cũng nhét cho Xuân ít tiền nói để nó uống nước.
Thời
gian sau tôi rời Tiểu Đoàn 20 pháo binh, thuyên chuyển về
Tiểu khu Quảng Ngãi làm Trung đội trưởng 109 pháo binh Diện
Địa. Rồi tình hình chiến trường và nhiệm vụ mới, nên tôi và
Xuân không còn gặp nhau nữa.
Bây giờ bất ngờ gặp lại
Xuân ở hoàn cảnh này, trong nỗi mừng hội ngộ có mùi cay
đắng, cả thầy lẫn trò đều là hai thằng cu–li cùng rách nát
như nhau.
Từ hôm đó cứ đến trưa Xuân mang cơm qua gốc
cây cùng ăn với tôi, rồi nằm ngửa mặt nhìn trời nói chuyện
cũ, nhắc lại những kỷ niệm xưa. Tôi nhận ra Xuân lúc nào
cũng buồn không còn vui đùa như ngày còn ở lính.
Tôi
hỏi sao chưa lấy vợ, Xuân cười buồn:
– Một thân lo
chưa xong mà vợ con gì anh, mẹ em đã mù bây giờ lại mất trí
nhớ nữa!
Tôi nhìn Xuân:
– Ủa, Bác bệnh từ bao
giờ, hồi Xuân dẫn về nhà chơi mình thấy bà dạy may thêu cơ
sở lớn quá mà?
– Từ ngày anh Hiệp chết trận ở Quảng
Trị, mẹ em khóc mắt bị nhiễm trùng. Năm bảy lăm cơ sở làm ăn
tiêu tán. Suốt ngày bà chép miệng: “Thôi hết rồi.” Những
biến cố dồn dập làm mẹ suy sụp, bệnh mẹ có thuốc men gì đâu
bà mù luôn. Gần đây lại mất trí nhớ, có hôm nửa đêm mẹ mò đi
ra ngoài đâm vào bụi rậm rơi xuống hố, ba chú cháu bưng đèn
đi tìm. Em đi làm hai cháu phải ở nhà canh chừng bà nội,
nhưng bọn nó nhỏ quá không giữ được nên bà cứ đi. “Chắc em
phải bỏ làm thôi anh à!...”
Xuân nhìn vào cõi trời xa
xăm: “Anh Hiệp Trung uý Thủy Quân Lục Chiến tử trận bỏ lại
hai đứa con. Ngày Quảng Ngãi di tản, bà chị dâu dắt hai đứa
nhỏ chạy ra Chu Lai, đến Bình Liên chị bị mảnh cối vào đầu,
chỉ còn hai thằng bé sống sót. Mấy năm nay em phải nuôi bà
mẹ mù và hai đứa cháu, bữa cháo bữa rau mà vợ con gì đâu
anh!”
Tôi chết lặng trong lòng trách ông trời bất
công! Sao thế hệ bọn tôi lại gánh chịu những oan nghiệt?
Thương Xuân quá! Cứ tưởng mình khốn khó nhất trên đời, thì
ra Xuân cũng không hơn gì, mỗi người một cảnh mà cảnh nào
cũng tối tăm mịt mù.
Cái cà–mèn cơm của Xuân cũng
thập cẩm không thua gì lon cơm của tôi, cũng toàn bắp lại có
thêm mấy củ lang, một gói muối trắng giã ớt, bọn tôi ăn
chung với nhau.
Mỗi buổi chiều trước khi về Xuân cùng
tôi ra giếng tắm, nhớ lại chuyện hai đứa tắm mà tội nghiệp.
Không hiểu sao thời tiết năm đó lạnh tàn bạo, lạnh khủng
khiếp. Bên bờ giếng hai đứa không dám cởi áo quần, ngồi co
ro núp ngọn gió bấc cứa vào da thịt. Không đủ can đảm xối
gầu nước lên người, hai hàm răng đánh cồm cộp. Nhưng không
thể mang cái hình hài chẳng ra người về nhà nên cuối cùng
cũng phải xối nước trong cái rét chết người, hai thằng vừa
xối vừa run. Hơn bốn mươi năm cái cảm giác lạnh ngày đó vẫn
còn trong tôi như mới hôm nào đây thôi.
Một buổi sáng
có việc nhà, tôi đến muộn, chiếc xe cà tàng nó lại hành hạ,
dây xích cứ rớt lên rớt xuống hàng chục lần, nên bị đến trễ.
Vừa tới đầu đường đã thấy người ta làm nhộn nhịp, tôi
vội vàng đạp nhanh, vô ý vấp lên cục đá nó hất tôi té lăn
quay, cái xe văng xuống vệ đường, lon guigoz cơm bung nắp ra
văng tõm xuống hầm đất đầy nước.
Tôi lồm cồm bò dậy,
cái đau bị té không bằng cái đau lon cơm chìm xuống ao bùn.
Tôi đành bỏ cơm, rửa lon vội vàng dắt xe vào lò gạch trong
lòng lo bữa trưa nhịn đói, muốn mua cái gì thì không có
tiền. Từ ngày ra tù trong túi tôi chưa bao giờ có một hào
bạc.
Trưa hôm đó tôi lánh mặt trước khi Xuân tới, nhờ
anh em nhắn lại là tôi có việc phải đi ra ngoài. Nhưng một
người làm gạch cho Xuân biết chuyện tôi té ngã ban sáng. Nó
chạy đi tìm.
Đang nằm trước hiên một ngôi nhà hoang
nhắm mắt lại để quên cái đói cồn cào thì Xuân tới. Nó ngồi
xuống bên cạnh lấy cái mũ vải tôi đang che mặt kéo tay dựng
tôi dậy:
– Anh kỳ quá... em biết cả rồi, mình chia
cơm nhau có sao đâu, lâu lâu ăn ít một bữa có chết ai!
Xuân tiếp tục những lời trách móc, miệng nói tay sớt cơm
ra ngăn cà–mèn rắc lên ít muối đưa tận tay tôi với cái muỗng
nhôm gãy cán. Xuân bẻ cây làm đũa bới cơm ra cái nắp. Nó
nhìn tôi ánh mắt thật buồn:
– “Ăn đi anh, chiều còn
làm nữa mà.”
Tôi không nói lời nào từ khi nó xuất
hiện, cổ nghẹn cứng bao nhiêu lời nói đều vô nghĩa. Tôi cầm
phần cơm Xuân đưa, nước mắt trào ra chảy xuống len vào miệng
mặn chát. Xuân cũng cuối xuống đưa bàn tay chai sạm quẹt
nước mắt.
Tình chiến hữu trong chúng tôi vẫn như ngày
nào, tình đồng đội, sự tủi thân cho số phận bọn tôi đã bị
cuộc đời nhận chìm xuống tận đáy vực của lớp người cùng khổ.
Hai đứa không nói lời nào, Xuân sớt thêm cơm cho tôi.
Trong cái im lặng đã nói với nhau nhiều điều, dù có bao
nhiêu ngôn từ thốt ra cũng không diễn đạt hết. Tình chiến
hữu vẫn còn trong chúng tôi dù lịch sử đã sang trang và cuộc
đời thay đổi.
Xuân hay qua trợ giúp khi thấy tôi làm
không kịp, hôm nào Xuân không đi làm, tôi lầm lũi bốc vác ra
vào như chiếc bóng. Công việc nặng nề trong tình trạng đói
mờ mắt, đói rã rời tay chân. Nhiều hôm đói, kiệt sức tôi ngã
ngoài sân, gạch văng tứ tung, gục đầu trên đống gạch thở
dốc. Nhưng tôi không thể bỏ cuộc, lại đứng lên làm cho xong
phần của mình.
Về sau Xuân hay nghỉ việc vì mẹ bị ốm
thường xuyên, những hôm không có Xuân trợ giúp tôi thường về
muộn, công việc quá sức đến nỗi có những buổi chiều mọi
người ra về từ khi nào, tôi vẫn còn ở lại lầm lũi làm một
mình.
Hoàng hôn đổ xuống nhập nhòa, lò gạch chỉ còn
mình tôi nằm thở giữa sân cỏ, ngửa mặt nhìn bầu trời lưa
thưa những vì sao mà nghe nỗi xót xa tràn ngập cõi lòng. Tôi
buồn cho thân phận mình, thương cảnh bi đát của Xuân. Biết
bao lần tôi đã tự hỏi: “Thượng Đế có thật sự hiện hữu trong
vũ trụ này không hả trời?”
Ngồi trên chiếc xe đạp cộc
cạch, lầm lũi trong bóng tối chập choạng theo con đường đất
quanh co tôi nguyện với lòng: “không được bỏ cuộc, nhất định
mình phải sống.”
Làm ở lò gạch được một thời gian thì
tôi phải bỏ việc, vì bị an ninh kêu hạch hỏi đủ điều, đi làm
gặp ai? Mấy người đó ở đâu? Trước đây làm gì? Nói với nhau
những gì? Định bao giờ vượt biên? Nhất là mỗi khi có tin
quân phục quốc hay kháng chiến hoạt động đâu đó là tôi bị
câu lưu, nhốt năm bảy ngày, bị tra khảo... buộc phải nhận
những việc mà mình không có làm.
Rồi tôi bị kêu đi
công tác gỡ mìn, đắp đập, đào mương liên miên, việc làm phải
gián đoạn, chủ lò gạch không vừa ý. Tôi sống trong tâm trạng
lo âu bị khủng bố ngày đêm cho đến khi không còn chịu nổi,
tôi quyết định ra đi.
Từ ngày không còn làm lò gạch
có dịp là tôi ghé thăm, Xuân cho biết cũng không còn làm
thường xuyên nữa vì bệnh mẹ ngày càng nặng, bà không còn trí
nhớ hay mò đi ra ngoài không biết đường về.
Tôi đến
nhà chia tay Xuân trước ngày ra đi. Hai thằng cháu con anh
Hiệp vòng tay chào chú, khi đang chơi ngoài sân, Xuân lom
khom nhóm lửa nấu cơm chiều, khói bay mù mịt. Mẹ Xuân đôi
mắt vô hồn lờ đờ, ngồi nói lảm nhảm một mình trên chiếc
giường tre cũ ở góc nhà, trông bà gầy xanh xao so với những
lần tôi đến lúc còn làm lò gạch.
Chúng tôi cầm chặt
tay nhau thật lâu không đứa nào nói nên lời. Giọng Xuân buồn
buồn:
– “Vào miền nam nếu có cơ hội anh phải đi...
phải ra đi mới có đường sống... Còn em chưa biết ngày mai ra
sao... không biết làm gì? Đi đâu? Về đâu?”.
Hai đứa
yên lặng. Tôi nhìn nơi chân trời màu đỏ của ráng chiều vắt
ngang dãy Trường Sơn mịt mù. Bầu trời đã chuyển màu xám của
hoàng hôn vài ngôi sao xuất hiện. Trong cái bóng chiều ảm
đạm làm nát lòng người, một nỗi buồn tê tái dâng trào. Tôi
siết mạnh bàn tay gầy guộc của Xuân. Xuân nhìn tôi thật buồn
nước mắt đoanh tròng:
– “Thôi, anh đi bình an!”
Tôi đưa tay gạt nước mắt, đạp xe ra ngõ.
Tôi lang
bạt vào miền Nam tìm đường mưu sinh, từ đó không gian chia
cách và điều kiện liên lạc khó khăn không còn tin tức gì về
Xuân nữa, mặc dù đã mấy mươi năm tôi cố gắng hỏi thăm khi có
cơ hội.
Rồi thời gian trôi qua, chuyện cũ đã chìm
theo tháng năm trong bụi mù ký ức. Đời tả tơi, mắt đã mờ,
chân đã mỏi. Năm 2003 tôi trở về tìm Xuân, cảnh quan đổi
thay không còn dấu tích, tôi đứng trước nơi nhà cũ Xuân rất
lâu nhưng là căn nhà khác lạ, người ta cho biết nơi này đã
đổi chủ nhiều lần nên không ai còn nhớ. Tôi hỏi thăm Xuân có
bà mẹ mù cách đây hơn hai mươi lăm năm, nhưng không ai biết,
tất cả đều xa lạ.
Cuối cùng gặp một người đàn ông lớn
tuổi cho hay sau khi chôn cất mẹ, Xuân đã bán nhà dắt hai
cháu lên cao nguyên. Từ đó đến nay không thấy trở về.
Tôi đi ngang qua nơi lò gạch mà cách đây hơn một phần tư
thế kỷ lúc còn là một thanh niên khi mới ra tù, tôi và Xuân
đã trải qua những ngày khốn khó, đổi từng bát mồ hôi tìm sự
sống trong khổ nhục của kiếp lưu đày. Tất cả không còn dấu
tích.
Bộ phim quá vãng sống lại. Nó kéo tôi trở về
chân trời cũ, một quãng đường đời với bao nỗi đớn đau buồn
phiền đã qua. Tôi bước đi lòng trĩu nặng u buồn, chúng tôi
đã mất hết tuổi trẻ và hy vọng từng ấp ủ ở tuổi hai mươi.
Không biết Xuân bây giờ ở chân trời nào? Cuộc sống ra sao
qua bao nhiêu đổi thay của cuộc đời?
Quê hương từ dạo điêu tàn
Đứa tù, đứa chết đứa lang thang
Lối nhỏ đường xưa người
vắng bóng
Ta về chốn cũ nhớ mênh mang.
Khi ngồi viết lại những dòng này đã hơn bốn mươi năm,
gần nửa thế kỷ trôi qua, thời gian đủ dài để tôi và Xuân từ
một thanh niên tuổi hai mươi đầy sức sống sắp bước vào cửa
thất tuần. Qua cuộc bể dâu những thăng trầm của cuộc đời.
Không biết Xuân lưu lạc nơi nào? Có còn trên cõi đời này hay
không?
Cầu xin nơi chân trời nào đó Xuân vẫn sống,
không biết hai cháu con anh Hiệp ra sao? Mình chúc bình an,
hy vọng quả đất tròn rất mong một lần gặp lại nhau Xuân ơi!
Phước Tuy: Mùa đông năm 2012
Lưu Hoàng Kỳ
(Credit: Xin H Công)


THIÊN SỨ MICAE – BỔN MẠNG SĐND VNCH
|
|
hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: Internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày Thứ
Bảy, September 20, 2025
tkd.
Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH