

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Truyện ngắn
Chủ đề:
người tình trong mộng
Tác giả:
Phạm Tín An Ninh

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Định
cư ở Na–uy một thời gian, sau khi ổn định công việc làm ăn
và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu
du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ,
không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới bảy ngàn
cây số, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn
nhỏ tám người. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ
ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng.
Tôi không
muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình
đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi
đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một
ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi
lấy bằng lái xe thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái
lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình.
Tuần lễ đầu tiên, chúng tôi rất thích thú khi đi qua
những vùng đất xa lạ, mà ngày trước tôi chỉ biết mơ hồ qua
sách vở. Sau một ngày, băng qua hai đất nước hiền hòa Thụy
Điển, rồi Đan Mạch, chúng tôi sang Hamburg, thành phố lớn
cực bắc của Tây Đức. Thời gian này nước Đức còn chia đôi,
nên vừa mới đến ranh giới là không khí đã căng thẳng. Cảnh
sát với súng ống đầy người, trông mặt người nào cũng đằng
đằng sát khí làm tôi nhớ tới hình ảnh của Hitler trong bộ
phim dài chiếu mỗi tuần trên truyền hình Na–uy. Vừa mới
thoát ra cảnh chiến tranh tù đày ở quê nhà, lại được định cư
tại một quốc gia ban phát giải Nobel Hòa Bình, tôi không
muốn phải ngộp thở trên quê hương của ông Hitler, nên sau
khi qua khỏi Frankfurt, tôi rẽ sang Hòa Lan. Một đất nước
nghe như huyền thoại: nằm dưới mặt nước biển trung bình, có
một con đập dài nhất thế giới, cũng là một xa lộ băng qua
biển. Chạy xe trên con đập này, tôi cứ ngỡ mình đang lái tàu
chạy giữa biển khơi. Xứ sở của hoa Tulip, với những chiếc
quạt gió cùng những con kênh đào thơ mộng.
Hôm sau,
chúng tôi sang Bỉ, Lục Xâm Bảo, và cuối cùng đến Pháp. Điểm
đến cuối cùng cũng là nơi quan trọng nhất mà chúng tôi muốn
đến. Tôi dành một nửa thời gian, hai tuần lễ còn lại, cho
cái xứ sở mà lúc còn nhỏ, khi học lịch sử thì tôi thù ghét,
nhưng khi học văn chương thì tôi lại mê thích nó. Nào là
tháp Eiffel bên dòng sông Seine tình tự, nào là nhà thờ
Notre Dame cổ kính mà tôi mơ hồ thấy trong phim Thằng Gù ở
nhà thờ Đức Bà, nào là vườn Luxembourg, nơi hẹn hò của bao
cặp tình nhân.
Hơn một tuần ở Paris, chúng tôi xuôi
về miền Nam nước Pháp. Thành phố Nice nằm bên bờ Địa Trung
Hải, gần thành phố Cannes, nơi quy tụ những tài tử điện ảnh
hằng năm, và không xa đất nước Monaco với những sòng bài và
những chuyện tình nóng bỏng của mấy nàng công chúa. Mười
ngày nằm trên thành phố biển này, tôi tạm quên những bất
hạnh trong quá khứ và những gì đang xảy ra trên quả đất có
quá nhiều phiền muộn này.
Rời Nice, chúng tôi trở lại
Paris trước khi về Na–uy. Trời mùa hè đang nóng, bà xã và
mấy cô con gái đề nghị chạy ban đêm, vừa cho mát vừa được
ngắm những thành phố rực rỡ trong ánh đèn. Nhìn trên bản đồ,
tôi thấy trên đường đến thành phố Lyon, mình có thể dừng lại
Grenoble rồi rẽ sang Genève của Thụy Sĩ, xem thử nơi đã cho
ra đời cái hiệp định làm khốn khổ quê hương mình ra sao. Như
được trở lại thời trận mạc xa xưa, tôi gọi cả bầu đoàn thê
tử lại để ban bố “lệnh hành quân”. Chúng tôi không đi theo
xa lộ 85 mà chọn con tỉnh lộ nhỏ trực chỉ Grenoble. Tôi đích
thân xem bản đồ hướng dẫn cho cậu con trai làm tài xế.
Rời Nice lúc 7 giờ tối. Sau hơn ba giờ từ “tuyến xuất
phát”, tôi mới biết là mình đã sai lầm khi sử dụng con đường
tắt này. Bởi chúng tôi bắt đầu chạy qua một khoảng rừng và
những đồng lúa mì mênh mông, không thấy một bóng người. Đang
mơ màng thì nhìn thấy phía đầu xe bốc khói. Tôi ra dấu cho
đứa con trai dừng lại, bảo cả nhà xuống xe gấp. Khói trước
xe vẫn còn bốc lên mờ mịt. Tôi tái mặt, vì bao nhiêu năm
nay, từ lúc còn ở Việt Nam cũng như sang đây, ngoài việc cầm
vô–lăng và đổ xăng ra tôi có biết gì về xe cộ nữa đâu. Chờ
cho khói tan hết và rờ vào nắp xe thấy không còn nóng, tôi
mở nắp xe lên bảo cậu con trai rọi đèn pin vào máy nhìn thử.
Đến đường cùng thì làm như phản xạ tự nhiên vậy thôi, chứ
tôi có biết cái gì trong máy đâu mà xem. Nhìn quanh một
chặp, tôi cảm giác có điều gì lạ lạ. Cuối cùng tôi mới phát
hiện là sợi dây cu–roa không còn nữa. Nước trong bình đã bốc
hơi không còn một giọt. Thấy tôi xách đèn pin trở lại, bà vợ
và đám con gái đang nằm trên bờ ruộng lúa mì, ngồi bật dậy.
Nghe tôi ra lệnh “đóng quân tại vị trí” vì xe hư không biết
khi nào mới chạy được, bà vợ xỉ vả cho tôi một trận, bảo hèn
chi ngày xưa ông đánh giặc thua là phải, đừng có đổ thừa tại
tụi Mỹ nó phản bội bỏ miền Nam.
Tôi bảo đám đàn bà
con gái lên xe nằm và khóa cửa lại cẩn thận, vì biết đâu khu
này có thú dữ. Đàn bà coi dữ vậy chứ nhát gan, ríu rít tuân
lệnh. Tôi và thằng con trai đi vòng vòng xem có nhà cửa gì
không. Nhưng tất cả đều tối om, tĩnh mịch. Đến gần một giờ
sáng, khi tôi đang nằm mơ màng trên ruộng lúa thì nghe có
tiếng động. Dường như là tiếng của một loại động cơ nào đó,
càng lúc càng gần hơn. Một lúc sau, tôi thấy có ánh đèn từ
khu ruộng lúa chay ra. Một chiếc máy cày. Ai đi cày ruộng
vào giờ này? Chưa kịp tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình,
chiếc máy cày đã dừng lại trước mặt tôi. Qua ánh đèn xe, tôi
thấy một người đàn ông trẻ, có lẽ là người Pháp, bước xuống
tiến lại phía chúng tôi. Cử chỉ anh ta không phải là một
người gian. Tôi yên tâm. Anh hỏi chúng tôi bằng tiếng Pháp,
anh nói từng chữ vì sợ chúng tôi không hiểu:
– Chắc
là xe các anh bị hư? Có cần tôi giúp điều gì không?
Lúc còn đi học, Pháp văn là sinh ngữ chính của tôi. Vậy mà
lâu quá không sử dụng, nên nghe và hiểu được, còn nói thì
ngập ngừng, phải phụ họa bằng tay:
– Xe tôi bị đứt
dây cu–roa, khô hết nước, không chạy được nữa.
– Các
anh ở tỉnh nào tới?
– Chúng tôi từ Na–uy sang, chứ
không phải ở Pháp. Trên đường từ Nice về, thì xe bị hỏng.
Anh bảo bây giờ đã khuya rồi, nhà anh cũng ở gần đây,
anh sẽ giúp chúng tôi kéo xe về nghỉ tạm, rồi ngày mai sẽ
tính. Tôi mừng rỡ gật đầu. Anh ra dấu cho tất cả chúng tôi
lên xe.
Chiếc máy cày kéo xe và chúng tôi chạy lòng
vòng chỉ khoảng mười phút thì về đến nhà. Trời tối, tôi
không thấy gì ngoài mấy cái nhà khá lớn nằm dưới những tán
cây. Anh đưa chúng tôi vào một gian phòng rộng, mang thêm
vài tấm nệm và mấy cái mền mỏng. Một chặp sau anh lại mang
vào bánh mì, phô–mát, và một ấm cà phê nóng, rồi chúc mọi
người ngủ ngon.
Lạ nhà, nhưng có lẽ vì mệt quá, nên
khi chúng tôi thức dậy thì trời đã sáng tự lúc nào. Kim của
chiếc đồng hồ lớn treo trên tường chỉ 8 giờ 10 phút. Mở cửa
sổ nhìn ra ngoài, tôi mới biết đây là một nông trại khá lớn.
Chưa kịp gọi bà vợ và mấy đứa con dậy xem, thì có tiếng gõ
cửa. Anh bạn trẻ tốt bụng tối hôm qua đến dắt tôi chỉ khu
nhà tắm, nhà vệ sinh, rồi dặn tôi khoảng 45 phút nữa, anh sẽ
trở lại đón chúng tôi ăn sáng.
Ngồi vào bàn ăn, anh
giới thiệu vợ và hai đứa con nhỏ. Cô vợ khá xinh, vui vẻ,
lúc nào miệng cũng cười, vừa nói vừa làm dấu với mấy đứa con
gái của tôi.
– Các anh là người Việt Nam? Anh ta vừa
bưng tách cà phê vừa hỏi.
– Nhưng làm sao anh biết
được vì ở Bắc Âu cũng có nhiều người Tàu, người Đại Hàn,
người Thái Lan, và cả người Nhật nữa? Tôi không trả lời mà
hỏi ngược lại anh.
– Tôi không nói được nhưng hiểu
một ít tiếng Việt. Bà ngoại tôi là người Việt Nam mà. Mẹ tôi
cũng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Lúc còn sống bà nhớ Việt
Nam lắm và thường kể cho chúng tôi nghe những thắng cảnh bên
ấy. Đặc biệt, bà thường nhắc đến một thành phố có tên là Đà
Lạt. Bà bảo nơi đó thật thơ mộng và có những nơi hò hẹn thật
dễ thương cho những cặp tình nhân. Tội nghiệp, bà mới mất
hơn hai năm nay, trong một tai nạn xe hơi cùng cô em gái duy
nhất của tôi.
Ăn điểm tâm xong, anh đưa chúng tôi vào
thăm phòng đọc sách. Một tấm bản đồ Việt Nam thật to treo
trên vách. Anh chỉ cho chúng tôi thành phố Đà Lạt mà mẹ anh
thường kể cho anh và cô em gái nghe mỗi lần bà nhớ về quê
mẹ.
Càng lúc chúng tôi càng thấy gần gũi và thân
thiết với gia đình anh bạn trẻ có một chút gốc gác Việt Nam
này. Anh bảo vợ anh đưa chúng tôi đi thăm khu nuôi bò sữa và
vắt đem về vài lít sữa tươi để chúng tôi dùng thử, trong khi
anh lấy xe chạy ra phố tìm mua sợi giây cu–roa để thay cho
xe chúng tôi. Mấy cô con gái của tôi rất thích thú khi được
cô chủ nhà chỉ cho cách vắt sữa bò. Sau đó chúng tôi vào
thăm một vườn nho.
Khi trở về, thì anh ta đã sửa xong
cái xe và đang cho máy nổ thử. Thấy chúng tôi, anh cười đưa
ngón tay cái lên báo hiệu là xe đã tốt. Anh tắt máy xe và
giao chìa khóa lại cho tôi. Tôi chưa kịp trả tiền sợi giây
cu–roa và nói lời cám ơn thì anh đã vỗ vai mời chúng tôi ở
lại chơi với gia đình anh vài hôm. Anh bảo là lâu lắm anh
mới gặp được những người đến từ quê ngoại. Thấy ông bà chủ
hiếu khách, phong cảnh ở đây hữu tình, lại có sẵn sữa tươi
và rượu nho, bà xã và mấy cô con gái cười nheo mắt nhìn tôi.
Tôi hiểu ý và nói với anh là chúng tôi chỉ có thể ở lại một
đêm. Trưa ngày mai chúng tôi phải lên đường.
Ăn cơm
chiều xong, trời dịu mát, anh đề nghị chúng tôi đi thăm khu
vườn cam nằm trên ngọn đồi. Vào vườn cam, chúng tôi có cảm
giác như lạc vào một chốn thiên thai nào đó. Những hàng cam
thẳng tắp, trĩu vàng những quả, mùi hoa cam toả ra thơm cả
một góc trời. Giữa vườn cam là một công viên nhỏ, trồng đủ
các loại hoa. Bên kia công viên, ngay giữa đỉnh đồi là khu
nghĩa trang nhỏ của gia đình. Vợ chồng anh mời chúng tôi đến
thăm mộ của ba má anh và cô em gái. Ba ngôi mộ xây đơn giản,
nhưng lại có nét đẹp cổ kính. Trên mỗi mộ bia đều có một tấm
ảnh lồng trong khung kính. Đến trước từng ngôi mộ, tôi cung
kính cúi đầu, chắp hai tay trước ngực, và đọc thầm từng tên
khắc đậm trên bia. Khi đọc đến tên người mẹ: JACQUELINE
CUVÉRO GAULTIER – tôi bỗng giật mình. Cái tên này tôi thấy
quen quen. Bà mất lúc tròn 40 tuổi. Nhìn tấm ảnh thật lâu,
tôi nghĩ đến một người.
Khi về nhà, tôi ngỏ ý muốn
xem những tấm ảnh lúc cha mẹ anh còn trẻ. Anh bạn chủ nhà
mang đến cho chúng tôi mấy quyển album. Bà xã và mấy cô con
gái thì tranh nhau xem quyển album lúc ông bà làm đám cưới
và nức nở khen mấy cái áo của cô dâu. Riêng tôi dành lấy tập
album cũ với những tấm ảnh đen trắng mà nhiều cái đã ngả màu
vàng. Bỗng tôi lạnh người khi xem những tấm ảnh của mẹ anh
thời con gái, đặc biệt là tấm ảnh có mái tóc cắt ngắn giống
ca sĩ Sylvie Vartan thời cô ta đang nổi tiếng. Chẳng lẽ lại
là nàng? – Không thể nào! Tôi lắc đầu nói thầm trong miệng.
Năm 1963, đang học lớp đệ nhất C trường Võ Tánh – Nha
Trang, vốn đã học không giỏi mà tình hình chính trị lại bất
ổn, cứ xuống đường biểu tình, bãi khóa, đã vậy lại còn bị
một cơn bệnh ngay trước mùa thi, nhưng rồi tôi cũng may mắn
được trở thành một thằng sinh viên, dù chỉ là loại sinh viên
hạng bét, để khỏi phụ lòng thương yêu, lo lắng của cha tôi,
suốt một đời làm gà trống nuôi con.
Khi chân ướt chân
ráo vào Sài Gòn, tôi chẳng có ai quen, ngoài một bà cô họ
xa, trước lấy chồng Tây. Chồng chết, bà ở với mấy đứa con
mang hai dòng máu ở sau khu tiệm phở Tàu Bay, Tàu Thủy, trên
đường Lý Thái Tổ. Tôi không ngờ trong khu này đa số là những
gia đình có con lai Pháp, trắng có đen có, được toà đại sứ
Pháp cưu mang lo lắng từ việc sinh sống tới việc học hành.
Hầu hết đều mang quốc tịch Pháp và được theo học ở các
trường Tây Sài Gòn, Đà Lạt. Những ngày cuối tuần tôi thường
ghé lại đây chơi. Đang cô đơn ngơ ngác thì được mấy người
con của bà cô họ giới thiệu cho tôi nhập bầy với đám Tây lai
này. Họ cũng dễ thương và dĩ nhiên là có phong cách tây lắm.
Chiều cuối tuần họ thường tụ tập để ăn uống và nhảy đầm. Anh
con cả của bà cô họ tôi là trưởng nhóm, chỉ định một cô bé
tóc vàng, có mái tóc ngắn và đôi mắt thật dễ thương dạy tôi
nhảy đầm và cũng làm partner cho tôi khi có tiệc tùng. Nghe
mọi người trong nhóm gọi cô là Sylvie Vartan, tôi cũng gọi
theo, nhưng biết vì khuôn mặt và mái tóc của cô giống người
ca sĩ Pháp đang được ái mộ này nên bè bạn gọi đùa, chứ đó
không phải là tên thật của cô.

Vừa gốc nhà
quê, tiền bạc thiếu thốn, tôi ngại, nên chỉ thỉnh thoảng mới
nhận lời tháp tùng ông anh. Đi chơi với nhóm được sáu, bảy
lần gì đó, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Hôm lễ gắn
alpha, thấy anh em mời thân nhân bạn bè nhiều quá, tôi cũng
tủi thân. Gia đình tôi và một số bạn bè thân ở tận Nha
Trang, còn ở Sài Gòn này thì tôi tứ cố vô thân. Cuối cùng
tôi nghĩ đến ba người con lai Tây của bà cô họ và mời họ đến
dự lễ gắn alpha, rồi sau đó cùng đi dự tiệc với tôi. Hôm ấy
cả ba người đều đến và còn dẫn theo nàng con gái Sylvie
Vartan. Họ rất thích thú với khung cảnh quân trường và sinh
hoạt của lính. Ai cũng chụp chung với tôi một tấm ảnh có
mang cầu đai alpha.
Sau đó, trong những lần về phép
ngắn ngủi, tôi cũng có ghé thăm họ một đôi lần. Đêm ra
trường, họ cũng đến dự. Sau đó đưa tôi về Sài Gòn, họ làm
một buổi tiệc chia tay tôi, và lần này tổ chức tại nhà cô
gái có tên Sylvie Vartan. Gia đình cô không ở trong khu Lý
Thái Tổ mà có một biệt thự riêng, khá xinh, nằm trên một con
hẻm lớn trên Tân Định.
Tôi không gặp ai trong gia
đình của cô hôm ấy, chỉ xem tấm ảnh người cha ruột của cô
chụp với mẹ cô khi còn rất trẻ, và cả tấm ảnh chụp gia đình
cô bây giờ, với ông cha Việt Nam, một người em gái cũng lai
Tây như cô và hai người em nhỏ cùng mẹ khác cha. Mẹ cô có
nhan sắc, nên ông chồng mới sau này thuộc lọai nhà giàu. Tôi
nghĩ như thế.
Tới hơn hai giờ sáng tiệc mới tàn. Khi
nói lời chia tay, không hiểu vì xa họ không biết khi nào gặp
lại hay vì nghĩ đến đời lính chiến nay mai trên rừng núi cao
nguyên mà tôi chạnh lòng, muốn khóc. Nàng cũng nhìn tôi
nghẹn ngào. Khi mọi người đi tìm áo khoác và mang giày, nàng
kéo tôi ra phía sau, tặng tôi một tấm ảnh, rồi bất ngờ hôn
tôi trên má.
Ngồi trên máy bay ra trình diện đơn vị,
bất chợt nhớ đến nàng, tôi mở xách tay ra tìm tấm ảnh. Nàng
có mái tóc thật dễ thương, nhìn kỹ đúng là giống cô ca sĩ
Sylvie Vartan. Sau tấm ảnh nàng viết một câu ngắn ngủi “À
toi, avec tout mon coeur.” Phía dưới cô cũng chỉ ký là
Sylvie Vartan, cái tên mà bọn tôi đặt để thường gọi đùa với
cô.
Nhớ tới nụ hôn bất ngờ tối hôm qua, tôi đưa tay
lên sờ má, thấy vẫn còn thoang thoảng một mùi hương. Tôi mỉm
cười và nói thầm một mình: Đúng là lãng mạn như Tây.
Tôi ra đơn vị đúng vào lúc chiến trưòng cao nguyên bắt đầu
sôi động, cùng lúc nhóm người Thượng Fulro nổi loạn, giết
một số sĩ quan, viên chức hành chánh người Kinh, chiếm một
vài nơi, đặc biệt là tỉnh Quảng Đức và một vài quận lỵ. Đơn
vị tôi đang tiếp viện cho chiến trường Quảng Nhiêu còn mịt
mờ lửa đạn ở Bắc Ban Mê Thuột thì được lệnh di chuyển về phi
trường Phụng Dực, sử dụng máy bay dân sự của hàng không Việt
Nam để đáp xuống Nhơn Cơ, một phi trường bỏ hoang nằm cách
tỉnh lỵ Quảng Đức khoảng ba mươi cây số, do một đơn vị Lực
Lượng Đặc Biệt mũ xanh của ta kiểm soát. Thằng Trung đội
trưởng mới ra trường như tôi làm sao có khả năng để ứng phó
với một chiến trường nửa ta nửa địch, mà trong sách vở quân
trường không hề nói tới. Lòng tôi thật băn khoăn. Nhưng cuối
cùng thì mục tiêu cuộc hành quân Dân Thắng này cũng đạt
được. Đơn vị tôi không hề tốn một viên đạn. Mấy lãnh tụ
người Thượng thấy quân chủ lực bao vây bốn hướng, cộng với
lời thuyết phục tài ba của vị chỉ huy nào đó, đã ra lệnh cho
những lực lượng người Thượng buông súng.
Nằm trong
cái tỉnh khỉ ho cò gáy mà dân chúng sống rải rác trong các
buôn làng hầu hết là người Thượng, mấy thằng lính trẻ như
tôi chỉ có buồn muốn khóc. Ai cũng mong sớm chuyển đi tỉnh
khác. Vậy mà riêng Tiểu Đoàn của tôi được lệnh nằm lại đây
để giữ an ninh cho dinh điền Đạo Nghĩa nằm trong một thung
lũng gần biên giới Cam Bốt. Một trong những dinh điền do
Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng lập vừa để thu hút di dân sau
1954, vừa là một trọng điểm chiến lược.
Ra trường đã
hơn hai năm. Đời lính cao nguyên thật là vất vả và buồn.
Nhiều lúc nằm giữa rừng già, nghe tiếng chim kêu vượn hú,
tôi thường chạnh lòng nhớ tới thời còn đi học, và khuôn mặt
những người quen. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ tới cô con gái
lai Tây và lấy tấm ảnh ra xem. Đến bây giờ tôi cũng không
biết tên thật của nàng. Mà biết để làm gì. Vì giữa nàng với
tôi là cả một thế giới cách biệt. Tôi, một thằng lính trận,
gốc gác nhà nghèo, không biết sống chết ra sao. Còn nàng lại
là một cô con gái lai Tây, xinh đẹp, và quí phái. Nàng quen
với tôi, thích tôi một chút, cũng là cái thích lãng mạn của
một tiểu thư sống trong thành phố lâu ngày được bất ngờ ra
thăm một vùng dân dã, thế thôi.
Ở Quảng Đức gần hai
năm, đánh nhau một vài trận, tôi được mấy cái huy chương rồi
lên làm Đại đội trưởng. Trong mấy thằng Đại đội trưởng, tôi
là thằng trẻ nhất, và cũng nghèo kinh nghiệm chiến trường
nhất. “Ra trường gần hai năm rồi mà trông mày vẫn cứ như thư
sinh”. Ông Tiểu đoàn trưởng bảo tôi như thế trước khi cho
tôi dẫn Đại Đội “solo” xuống núi biệt phái cho Tiểu Khu Lâm
Đồng.
Đoàn xe chở Đại Đội tôi vừa vào ranh giới Lâm
Đồng, tôi nhận lệnh ông Tiểu khu trưởng, trực chỉ đến khu
cầu Đại Ngà để giữ an ninh cho công binh làm lại mấy cây cầu
trên Quốc lộ 20, từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt, vừa bị VC giựt
sập hai đêm trước.
Đến vị trí, tôi phối hợp với một
Đại Đội Địa phương quân đã có mặt tại chỗ và một đơn vị công
binh mới từ Đà Lạt xuống, bố trí quân theo nhu cầu. Riêng
ban chỉ huy Đại Đội cùng Trung Đội vũ khí nặng nằm trên một
đồn điền trà có cao độ tốt cho việc phòng thủ và yểm trợ hỏa
lực. Phía duới khu đồn điền này là cầu Đại Ngà, cây cầu dài
nhất vừa bị phá hoại.
Sau khi công binh làm xong mấy
cái cầu tạm, lưu thông họat động trở lại. Do ứ động mấy hôm
trước, nên ngày đầu tiên có khá nhiều xe đò từ Sài Gòn chạy
lên Đà Lạt. Hơn nữa bây giờ đang là mùa hè, người Sài Gòn rủ
nhau lên Đà Lạt nghỉ mát. Để bảo đảm an ninh, trước khi xe
chạy vào khu quân sự, đều phải dừng lại, tất cả hành khách
xuống xe để được kiểm soát giấy tờ. Trạm kiểm soát là một
căn nhà bằng ván do công binh vừa mới dựng lên, toán quân
báo của Đại Đội tôi phối họp cùng với ba nhân viên cảnh sát
đảm trách. Mỗi ngày tôi lái xe đi kiểm tra các cây cầu và
thường ghé lại ngồi nghỉ trong trạm kiểm soát này.
Buổi chiều, trời vừa tắt nắng, tôi định trở về vị trí đóng
quân, thì một đoàn xe đò chạy tới. “Có lẽ đây là mấy cái xe
cuối cùng từ Sài Gòn lên”. Anh cảnh sát bảo với tôi như thế.
Trong số những hành khách xuống xe bước qua cái cổng chắn
làm bằng kẽm gai dã chiến, tôi để ý tới một cô gái tóc vàng,
mặc một cái jupe màu vàng sậm. Khi cô móc ví lấy giấy tờ,
ngước mặt lên nhìn anh cảnh sát, tôi thấy thật quen và vội
chạy ra:
– À, cô Sylvie Vartan, cô lên đây làm gì?
Tôi hỏi bất ngờ, rồi quay sang bảo anh cảnh sát: cô này
là người nhà của tôi. Anh cảnh sát trao lại cho tôi tấm thẻ
căn cước bằng tiếng tây mà anh chưa kịp hiểu.
Cô nhìn
tôi cười rạng rỡ:
– Anh là anh Ninh, phải không? Mấy
năm rồi tụi mình không gặp. Em lên Đà Lạt đón cô em về Sài
Gòn nghỉ hè. Nó học trên Lycée Domaine de Marie.
–
Tôi đóng quân trong đồn điền trà nằm trên đồi cao kia. –Tôi
vừa nói vừa chỉ tay về hướng đồn điền–. Đẹp lắm, và ông chủ
hình như cũng là người Pháp. Mời cô ghé lại chỗ tôi chơi.
Tôi sẽ đón chuyến xe sau gởi cô về Đà Lạt.
Cô ngần
ngừ một chút rồi gật đầu. Tôi đưa cô lại xe lấy túi hành lý
và nói với anh tài xế:
– Cô này là người nhà của tôi,
cô ở lại đây chơi với tôi rồi lên Đà Lạt sau.
Anh tài
xế trẻ, nhìn tôi nhoẻn miệng cười.
Tối hôm ấy nàng ở
lại với tôi. Có lẽ nàng cũng biết là chuyến xe của nàng là
chuyến cuối cùng. Chẳng còn có chuyến sau nào để tôi gởi
nàng lên Đà Lạt, như lúc tôi hăm hở nói với nàng, mà không
biết là mình đang nói dối.
Giữa cảnh núi rừng, nàng
đẹp rực rỡ như một bông hoa. Không biết nàng đã nói gì vơí
ông chủ người tây, ông dành riêng cho cô một phòng ngủ và
mời chúng tôi dùng bữa cơm chiều với ông. Bữa cơm đầy đủ
hương vị tây, mà chai rượu chát ông khoe đã gởi mua từ bên
Pháp. Sau bữa cơm, tôi đưa nàng đi dạo trong đồn điền trà.
Bây giờ đang là mùa hè, bầu trời trong vắt, ánh trăng
tỏa vàng xuống cả một đồi trà. Đêm cao nguyên trời bắt đầu
lành lạnh, thơ mộng như một muà thu. Chúng tôi nắm tay nhau
bước tung tăng dưới ánh trăng, nghe từng nhịp đập của trái
tim giữa một vùng đất trời tĩnh mịch. Nàng kể cho tôi nghe
về một ước mơ của nàng: muốn có lần trở về quê cha, thăm
ngôi mộ của người và bà nội già còn đang sống ở đó với mấy
người cô. Quê nội nàng đẹp lắm lại là một đất nước với nhiều
thi ca lãng mạn. Chúng tôi đã xuống cuối chân đồi, nghe
tiếng nước chảy từ một con suối nhỏ. Nàng bảo tôi dừng lại
và dìu tôi đến ngồi xuống một bãi cỏ. Bên kia con suối là
một cánh đồng cỏ rộng mênh mông.
– Anh có thấy gì lạ
không?
Tôi đang ngơ ngác, thì nàng chỉ cho tôi mấy
hàng cây bên kia bờ suối:
– Bây giờ là mùa hè, mà sao
có nhiều lá vàng đang rơi. Anh không thấy sao?
Nàng
âu yếm dựa sát vào tôi và hỏi tôi có biết bài thơ Les
feuilles mortes của Jacques Prevert không?
– Lúc học
Littérature Francaise, anh có học, nhưng lâu quá, anh chỉ
còn nhớ một đôi câu. Bài thơ thật hay và cảm động.
Tôi đã đổi cách xưng hô tự lúc nào không biết.
Nàng
cất tiếng khe khẽ hát bài thơ Les Feuilles Mortes được phổ
nhạc. Hát xong bài hát nàng chậm rãi đọc lại mấy câu:
Mais la vie sépare ceux qui s'aiment
Tout doucement,
sans faire de bruit
Et “le vent” efface sur la “plaine”
Les pas des amants désunis. [1]
Tôi hỏi sao nàng dám
đổi lời một bài thơ hay của tác giả. Nàng không trả lời mà
ôm tôi hôn thật lâu. Trong say mê tôi cảm thấy có cái gì
lành lạnh trên gò má. Tôi sờ tay lên mân mê: nước mắt.
Nàng ôm tôi ngồi khóc, nàng bảo là nàng có nhiều bạn bè,
nhưng nàng có cảm tình thật nhiều với tôi từ khi nhìn tôi
mặc áo lính. Nàng thấy ở tôi có cái gì khác lạ so với mọi
chàng trai lai Pháp mà nàng quen. Và cũng ở nơi tôi nàng
được thấy lại hình ảnh của cha nàng. Cũng làm lính cả một
thời trai trẻ, rời quê hương, rồi chết sớm ở xứ người bỏ lại
mẹ và hai chị em nàng. “Những người con gái mang hai dòng
máu. Buồn lắm phải không anh?” mấy lần nàng hỏi tôi như thế.
Đêm hôm ấy nàng không ngủ trong căn phòng sang trọng mà
ông chủ đồn điền đã dành sẵn cho nàng. Nàng ra ngồi trong
căn lều phủ poncho của tôi cùng uống trà tươi mà tâm sự thâu
đêm. Nàng rủ tôi ngày mai cùng nàng lên Đà Lạt vài ngày để
nàng làm thủ tục đón cô em gái về và đưa nàng đi thăm các
thắng cảnh thơ mộng ở đây.
Sáng hôm sau, tôi lên máy
gọi về trung tâm hành quân Tiểu Khu Lâm Đồng gặp ông Tham
mưu trưởng, xin ông cho ba ngày phép và được sử dụng chiếc
xe jeep của Tiểu Khu biệt phái, đón người vợ sắp cưới vừa
mới lên Đà Lạt. Tôi tả oán thêm là cả một năm nay, phải tham
dự nhiều cuộc hành quân, nên hai đứa chưa được gặp nhau. Ông
Tham mưu trưởng tốt bụng, vui vẻ chấp thuận, và dặn dò tôi
phải bàn giao công việc thật kỹ càng cho anh Đại đội phó.
Ba ngày ở Đà Lạt là ba ngày thần tiên nhất trong đời
lính của tôi. Sau khi đưa nàng đến trường thăm cô em gái và
làm một số thủ tục cần thiết, chúng tôi lấy phòng ở khách
sạn Palace nằm trên một ngọn đồi cao gần Hồ Xuân Hương và
cách khu phố Hòa Bình không xa lắm. Ban ngày chúng tôi đi
tắm ở thác Cam Ly, thăm Hồ Than Thở, cưỡi ngựa ở sân Cù, bơi
thuyền trên Hồ Xuân Hương. Buổi tối đi ăn bê thui, uống rượu
vang, rồi ra nhà Thủy Tạ ngồi tâm tình đến khuya. Ngày hôm
sau, chúng tôi rời thành phố. Sau khi thuởng thức cà phê
Tùng, chúng tôi chạy về hướng Thác Prenn. Nàng chỉ đường cho
tôi tìm đến một hotel nằm trên núi, ông chủ cũng là một
người Tây. Lấy phòng và gởi hành lý xong, chúng tôi đi bộ
xuống Thác Prenn, nằm không xa phía dưới. Nàng kéo tôi xuống
tắm dưới dòng thác.

Hai đứa ôm nhau trong cái
lạnh của nước từ trên núi cao đổ xuống. Nàng dắt tôi chạy
vào khu rừng phía sau để đùa với mấy con khỉ, con gấu, và cả
một con cọp nữa trong vườn bách thú. Rồi nàng đi trốn, giả
vờ làm nàng Jane mắc nạn để bắt tôi làm Tarzan đi cứu. Nàng
hò la và ôm tôi cười vang cả một khu rừng.
Trong ba
ngày, nàng đã cho tôi tất cả những gì hạnh phúc nhất mà
không đòi hỏi ở tôi bất cứ một điều gì. Hôm cuối cùng, tôi
đưa nàng trở lại trường Domaine De Marie để gặp lại em nàng.
Ngồi trên xe, nàng trầm ngâm không nói một lời. Đến cổng
trường, nàng bảo tôi dừng lại. Nàng hôn tôi thật lâu. Tôi
nghe tiếng nàng khóc. Tôi định nói một lời gì đó, nhưng nàng
lấy một ngón tay để trên miệng tôi, không cho tôi nói, rồi
bảo tôi ngồi yên trên xe chờ nàng. Hơn hai mươi phút sau
nàng chạy ra, cầm tay tôi và trao cho tôi một tờ giấy nhỏ,
rồi vụt chạy vào phía sau trường. Trên mảnh giấy nàng viết
vội vàng bằng tiếng Việt:
“Xin cám ơn và tạm biệt anh
ở đây. Em và đứa em của em sẽ về Sài Gòn vào sáng sớm ngày
mai. Anh hãy trở lại đơn vị, đừng chờ và cũng đừng tìm em
nữa. Rồi có lúc nào đó và ở một nơi nào đó, mình sẽ gặp lại
nhau. Hôn anh.”
Tôi vội vàng bước xuống xe, chưa biết
gọi nàng bằng tên gì, thì nàng đã mất hút phía sau trường.
Tôi ngồi trên xe nhìn thẫn thờ vào khu trường. Tất cả đều
vắng lặng, chỉ nghe một vài tiếng lá rơi từ những hàng cây
đứng chơ vơ im lìm trước cổng.
Tôi trở lại nhà Thủy
Tạ, tìm lại bóng dáng và mùi hương của nàng. Buổi trưa, bốn
bề yên lặng. Một con chim lạ, có dáng của một con hải âu,
đậu xuống con thuyền bơi phía trước, kêu vài tiếng, vụt cánh
bay sà xuống mặt hồ, rồi biến mất trong rừng thông. Cả một
khung trời Đà Lạt nhạt nhòa trong nước mắt. Tôi không biết
mình đã khóc tự bao giờ.
Tôi lái xe trở về đơn vị
mang theo một nỗi buồn kỳ lạ, dường như trong lòng chỉ còn
là một khoảng trống bao la.
Suốt đêm hôm ấy, tôi lang
thang trong đồi trà, ngồi một mình bên bờ con suối nhỏ, nhìn
mấy chiếc lá vàng rơi xuống và trôi theo dòng nước, bàng bạc
dưới ánh trăng. Nửa đêm tôi trở về căn lều cũ, đun đầy một
ấm trà tươi mà không uống.
Tôi ngủ vùi từ lúc nào
không biết. Thức giấc, mặt trời đã lên cao. Tôi vội vã xách
xe chạy xuống trạm kiểm soát. Ngồi suốt cả ngày hôm ấy, tôi
vẫn không tìm thấy bóng dáng của nàng.
Hai ngày sau,
khi thay bộ đồ trận ra giặt, thò tay vào túi áo lấy mọi thứ
ra, bất ngờ tôi thấy tấm thẻ căn cước của nàng, viết bằng
tiếng Pháp do tòa đại sứ cấp. Tôi nhớ anh cảnh sát đã giao
tấm thẻ này cho tôi hôm ở trạm kiểm soát và tôi đã quên trả
lại cho nàng. Đến bây giờ tôi mới biết được tên thật của
nàng: Jacqueline Cuvéro.
May mắn trong tấm căn cước
có cả địa chỉ. Tôi gởi trả lại nàng tấm thẻ căn cước, viết
kèm theo bốn câu thơ trong bài thơ Les feuilles mortes mà
nàng yêu thích.
Les feuilles mortes se ramassent à la
pelle
Les souvenirs et les regrets aussi
Mais mon
amour silencieux et fidèle
Sourit toujours et remercie la
vie [2]
Tôi phập phồng chờ thư hồi âm, nhưng không
thấy. Tôi viết thêm vài cái thư nữa cho nàng nhưng tất cả
đều biệt vô âm tín. Ba tháng sau tôi xin bảy ngày phép
thường niên về Sài Gòn. Trước khi tìm đến nhà nàng, tôi trở
lại khu đường Lý Thái Tổ thăm gia đình bà cô và rủ người anh
họ cùng đi. Anh bảo là nàng cùng cô em gái đã về định cư bên
Pháp hơn hai tháng nay. Không biết khi nào mới trở lại Việt
Nam.
Tôi lang thang ở Sài Gòn hai ngày thì lấy xe đò
về Nha Trang để thăm cha tôi. Nhưng ngày nào tôi cũng đi
lang thang trên bờ biển, nhìn sóng đổ vào bờ cuốn theo tất
cả mọi dấu chân mình trên cát, và nhớ đến nàng.
Tôi
trở lại đơn vị, đúng vào lúc Đại Đội tôi nhận lệnh rời khỏi
Lâm Đồng để di chuyển về Phan Thiết, tăng phái cho Tiểu Khu
Bình Thuận, hành quân phối hợp với một đơn vị Thiết kỵ của
Hoa Kỳ vừa mới đến Việt Nam, giải toả mật khu Lê Hồng Phong.
Kể từ ngày ấy, trên bảng tên may trên nắp áo lính, ngay
phía dưới tên tôi, có thêu một chữ nhỏ: Jacqueline, màu
vàng. Mấy chú lính bảo sao tôi lại có tên con gái. Tôi giả
vờ: tại vì tớ ái mộ bà vợ của Tổng thống Kennedy.
*****
Sáng ngày mai gia đình chúng tôi phải rời nông trại
GAULTIER thơ mộng này để trở về Na–uy. Vợ chồng anh chủ nhà
cùng mấy cô con gái của tôi đang rượt bắt mấy con gà Tây.
Anh muốn đãi chúng tôi một bữa ăn Tây truyền thống. Tôi đi
lang thang khắp nơi trong khu nông trại, như để cố tìm ra
những dấu tích của nàng.
Buổi chiều, khi bà xã và mấy
đứa con đang ngồi ở phòng khách, say mê theo dõi một cuốn
phim trên truyền hình, tôi một mình lặng lẽ ra vườn cam, rồi
vào khu nghĩa địa.
Tôi ngồi trước mộ nàng rất lâu,
hình dung lại hình ảnh của nàng trong những ngày cùng tôi
trên đồn điền trà ở bên cây cầu Đại Ngà và tung tăng khắp
nơi ở bờ hồ, Thác Prenn, và trong rừng thông Đà Lạt.
Một cơn gió xào xạc, mấy chiếc lá vàng trên tán cây chầm
chậm rơi xuống mộ nàng.
Tôi đưa tay sờ tấm ảnh nàng
trên mộ bia, nói thì thầm trong gió:
Et la
chanson que tu me chantais
Toujours, toujours je
l'entendrai!
(Và bài hát mà em đã hát cho
anh nghe
Mãi mãi, mãi mãi, anh vẫn còn đang nghe đây!)
Phạm Tín An Ninh
(Mùa hè 1988)
nguồn: ptan

Tác giả ghi chú:
[1] tạm dịch ra Việt ngữ:
Nhưng cuộc đời thường ngăn cách những kẻ yêu nhau
Bằng tất cả im lìm lặng lẽ
Rồi “gió” sẽ xóa di trên “cánh
đồng cỏ” này
Mọi buớc chân của đôi tình nhân bị chia lìa.
[2]
Những chiếc lá khô bị gom vào chiếc xẻng
Cả những kỷ niệm và tiếc nuối
Nhưng tình yêu lặng lẽ và
trung thành của tôi
Sẽ luôn mỉm cười và xin cám ơn cuộc
đời.

Phụ lục
Video:
Dư Âm Bài Hát Ngày Xưa
Diễn đọc: Mặc Huy & Chu Ly – Thực hiện: Nam Hòa
Audio nếu Video hỏng (Size: 32.4MB):
MP3 (Size: 3.03MB): Nhạc phẩm Les Feuilles Mortes – Yves
Montand:



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày
Chúa Nhật, December 28, 2025
tkd.
Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH