

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Truyện ngắn
Chủ đề:
lính kể
Tác giả: MĐ Út Bạch Lan/E22

bấm vào đây để in ra giấy (print PDF)
Chúng ta đã sinh ra lầm thế kỷ
Nước mắt, nụ cười gian dối
gạt lừa nhau.
Và hạt cát cũng căng đầy thù hận
Tri kỷ gì
thứ tình nghĩa đã chia ly...?!
“Văn
Chương Miệt Vườn” thành danh, thành điển tích như Cụ Đồ Chiểu đã hoa
gấm đi vào Văn Học Sử thênh thang rất đáng kính cẩn và trân trọng...
còn thứ “văn tri chướng; cà chớn hạng” của tôi đọc “dễ hiểu” chỉ để
tiêu khiển “một vài trống canh”, lại có đôi chút “gút mắc” với một
số “nhân vật chí” hiện thân, hiện thời đang sinh hoạt chìm nổi tại
xứ người tự do, hành sự khuất tất phía sau hậu trường “cung đình Đỏ”
rối như mớ bòng bong... quả thật là không đơn thuần giản dị chút
nào, là thật sự “khó tiêu” và đáng tiếc vô song! Vì “cánh màn nhung”
của vở bi hài kịch có vô số thân xác, máu xương, da thịt người Việt
làm “phân bón” cho loài “cây” gian độc rúc rỉa sinh sống, đơm hoa
kết trái vật chất, tiền tài, tích sản là thành quả của trí “khôn”
gian trá vô lượng đã “biết” thức thời vụ với “đại âm mưu” là “đại
biện chứng” mà thành “gian nhân hiệp đảng” mặc tình lấy cường bạo
thịnh thời vung tay bẩn mà che cao xanh, lấy vải ác độc mà bịt nhân
đức... hỏi được bao lâu “con rắn hồng lột xác” vẫn chưa xong và chưa
chung cuộc hý trường... như tôi viết ở khoảng không du du bỉ phương
và thiên võng khôi khôi sơ nhi bất thất... giữa hai hàng chữ không
giản dị chút nào và đáng tiếc?! Mong quí Độc Giả độ lượng tha thứ.
“Bên thắng cuộc” hay thực sự bị thua cuộc? Thắng trận hay thua
trận, nay đã trở thành một “mặt trận” văn chương chữ nghĩa trong
cộng đồng người Việt Tự Do tị nạn cộng sản tại hải ngoại và cũng tự
tranh biện, bênh và chống mà “cái” hay, tốt đẹp của Hoa Tự Do được
đơm hoa, kết trái ở trú xứ Tự Do được thể hiện và minh chứng với
tiến trình lịch sử loài người tiến hoá không ngừng cho đến nay... và
mai hậu làn gió Tự Do – Dân Chủ sẽ thổi vào Việt Nam thành bão lửa
là qui luật chính trị: “nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh”...
và thứ “văn hoá theo lề phải” là thứ đứng lại, nghịch triều lưu sẽ
bị nhận chìm và chết tiệt! Tôi đọc riết rồi bị động não, mang tâm
bịnh nhớ dai, càng nhớ dai càng thêm khổ lụy cho bản thân mình! Nghĩ
cho cùng “kẻ thiệt” chính là “ta” cưu mang thành nặng gánh u hoài!
Thôi hãy gấp lại những bài vở mang mang và những trang sách đã
rách “giữ lấy lề” nệ cổ của Thư Cưu thời quá vãng... đành viết
chuyện “Tôi Bị Gạt” góp “mặt” với làng Văn có lẽ bằng hữu và độc giả
đọc không vui cũng lượng thứ?
Ngày 30/4/1975 là ngày đã ngã
ngũ thắng hay thua? Một lằn ranh của kẻ thắng trận và Người bại trận
đã được chế độ mới vạch ra rõ ràng bằng mực đỏ! Kẻ thắng trận tiểu
nhân đắc chí hoạch định sách lược cường quyền “xử lý”: bắt bớ, giam
cầm, đày đoạ, trả thù, nô lệ hoá toàn thể Quân Dân miền Nam là Người
bại trận. Trong những Người bại trận đó có tôi và đương nhiên với
“mệnh Nước vận Nhà” đành câm nín, âm thầm nhẫn chịu, ta thán có ích
gì! Nhưng có điều chua xót đớn đau phải ghi tâm khắc cốt. Đó là tôi
bị gạt để đời, môn học mà trường lớp thời niên thiếu với Thầy, Cô
lòng son và phấn bảng không dạy bao giờ. “nó” chỉ có ở trường đời
biển lận mà thôi!
Bị Gạt Lần Thứ Nhất
Sau 30/4/1975,
tan hàng! Phút chốc công danh sự nghiệp trở thành mây khói, nhà cửa
“tài sản” chỉ còn lại vài bộ áo quần dân sự, thắng về nội thối về
ngoại, Tôi dắt díu vợ con tá túc nhà ngoại, tâm trạng như kẻ mất
hồn, chạy đầu này tìm người này, chạy đầu nọ tìm người kia, họ cũng
như tôi tâm trạng rối bời chẳng khác gì nhau! Nghe tin tức trên đài
phát thanh:
– “Tất cả sĩ quan cấp uý trở lên trình diện học
tập cải tạo, nhớ mang theo tiền ăn cho 10 ngày...”.
Tưởng bở,
tôi từ giã vợ con với lời nhắn nhủ:
– “Em gắng chờ Anh về,
mình sẽ về Mỹ Tho xin Ông Nội vài sào đất, cất một cái chòi, trồng
trọt nuôi con ăn học nhé...”!
Sau 10 ngày ở trại “giam” Hóc
Môn (Thành Ông Năm) với các bữa ăn do các nhà hàng nổi tiếng ở Chợ
Lớn như: Đồng Khánh, Bát Đạt, Soái Kinh Lâm... cung cấp và chờ đợi
rồi dần sau đó cũng bắt đầu với những bữa ăn “thanh đạm” với rau
muống, rau lang luộc cùng đậu hũ trắng... cho đến tháng thứ ba, quản
giáo xuống “khối” của tôi gọi tên ba người và ra lệnh:
– Các
Anh chuẩn bị đồ đạc để về với gia đình...
“Đại uý Bác sĩ
Trương Thìn, Thiếu tá Bác sĩ Trần Đông A, Đại uý Bác sĩ Trần Văn
Thành... và còn nhiều nữa...” Cả trại xôn xao trong nỗi mừng vui
khôn xiết vì tưởng rằng rồi nay mai cũng sẽ tới phiên mình...
Nhưng tất cả đều bị gạt. Những người được “tha” về, đều nằm
trong danh sách đặc biệt của “bên thắng trận”. Rồi thời gian bị giam
cầm chầm chậm trôi qua trong chờ đợi mòn mỏi của tù nhân!
Những chứng bịnh như: phù thủng, đau ruột, đau gan, đau bao tử...
xuất hiện, không thuốc thang chữa trị! Tôi bắt đầu bẫy chuột, chuột
gì cũng bắt hết ráo trọi, chuột chù, chuột cống, chuột nhắt... dưới
bàn tay “tài hoa ngự thiện phòng” chế biến món ăn của tôi đã trở
thành “cao lương mỹ vị”, và tôi còn thu lượm những cọng rau muống
già đã được nhà bếp vất đi, chẻ ra từng sợi nhỏ rồi chế biến thành
“thượng phẩm”, giúp cho những người thiếu chất đạm đang bị phù thủng
ăn cho có chất dinh dưỡng.
Ban đầu họ lợm giọng không dám ăn!
Nhưng rồi vì muốn được khoẻ mạnh đành phải ăn để sống, sau dần dà họ
cám ơn những tên tù bất kham như tôi đã “khổ” công thức đêm rình mò
bẫy chuột, cung cấp cho họ món ăn “thuốc” thịt chuột “nguồn” bổ
dưỡng cứu sống mạng người đang vật vã vì bệnh tật trong trại giam...
Nên đêm đêm nằm kế bên nhau, họ ngâm khe khẽ cho Tôi nghe bài
thơ “Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ” nghe qua sao lòng quặn thắt đớn đau như
thọc mũi dao nhọn vào nách con chuột, moi cục hạch hôi ra và thân
đau tê tái “Hổ” nhớ rừng gặm nhấm mối hờn trong cũi sắt, rồi nhớ
thuở tung hoành hiên ngang tang bồng hồ thỉ trong khắp Bốn Vùng
Chiến Thuật với tay súng dài XM18, súng ngắn Colt 45 dẫn quân lên
Slick trực thăng ầm ĩ tiếng cánh quạt phành phạch xé gió của những
hoa tiêu “Bảo Quốc Trấn Không” không bỏ anh em, không bỏ bạn bè bay
xông vào trận mạc với hai hàng Gunship hùng hổ hộ tống sẵn sàng khạc
từng tràng đạn và phóng nện rocket như thiên lôi giáng vào đầu quân
địch...
Nhưng nay thân đành thúc thủ, bị giam cầm, bẫy chuột,
nhặt rau thừa độ nhật cho qua ngày đoạn tháng kéo lê lết một năm
tù... cho đến khoảnh khắc quyết định sinh tử: “tự do hay chết”? Chứ
ở tù như hiện tại không biết đến ngày nào được thả ra và “cái” chết
đều đồng nghĩa như nhau!
Tôi đã đánh cuộc với định mệnh lấy
cái chết của mình để tìm tự do, Tôi vượt ngục đào thoát được khỏi
nhà tù nhỏ và bây giờ bị sống trong nhà tù lớn việt cộng bủa vây!
Tôi đi về đâu? Về thành chăng? “Hổ” phải về rừng cớ sao lại phải về
thành và về thành rồi sẽ không chóng thì chầy cũng bị bầy lang sói
khát máu tươi đang chực chờ cấu xé phanh thây Người chiến bại từng
ngày, từng giờ, từng giây phút. Thiên la, địa võng thần chết quỷ đỏ
bủa vây, phủ chụp xuống thân phận Quân – Dân hiền hoà miền Nam trong
tuyệt vọng thế cô!
Kinh qua những “quốc sách” bọn quỷ đỏ việt
cộng đã “xử lý” người dân Việt tại miền Bắc trước 1954 và Quân – Dân
miền Nam Việt Nam sau 30/4/1975 đã nói lên tính chất khác biệt với
toàn thể Dân Việt có nền tảng Văn Hiến giàu lòng Nhân Ái ở mọi mặt,
luôn cả đối xử tử tế độ lượng với giặc thù ngã ngựa thua trận bị
khuất phục trong lịch sử thời qua, và ngay cả trong cuộc chiến Quốc
– cộng 21 năm dài, chúng ta luôn đối xử Nhân Đạo với cán binh việt
cộng bị thương hay bị bắt giữ tại chiến trường, có luật lệ và toà án
xét xử nghiêm túc... và với Quốc Sách Chiêu Hồi ban hành để cải
thiện, giúp người cán binh việt cộng có cơ hội sinh sống bình đẳng
mưu cầu hạnh phúc trong thể chế tự do miền Nam. Những ai là Quân –
Dân miền Nam lạm sát tù binh việt cộng hoặc thân nhân của họ sẽ bị
pháp luật trừng trị rõ ràng nghiêm chỉnh... Tôi quyết định về rừng
và bị gạt lần thứ hai.
Bị Gạt Lần Thứ Hai
Thoát được
nhà tù nhỏ, Tôi đang bươn chải sống trong nhà tù lớn. Ở nhà tù lớn
cái gì cũng: “Nhân dân, quân đội nhân dân, công an nhân dân”. Mà
“dân” chỉ là tầng lớp nô lệ bị “bắc bộ phủ” đô hộ cai trị còn khắc
nghiệt hơn bọn rợ nhà Chu (Zhou Ye) tàn sát và cai trị nhà Thương
(Shang Yin) 1040 trước Công Nguyên, triều đại Tần Thủy Hoàng (259
trước Công Nguyên) đốt sách chôn học trò, Thành Cát Tư Hãn (Genghis
Khan 1162) rợ Mông Cổ với: “Vó ngựa của Đại Hãn đi tới đâu nơi đó
không còn cỏ mọc”. Có tàn bạo như thế nào đi nữa cũng chỉ là đối xử
với người khác chủng tộc và ở thời đại con người chưa được mấy văn
minh và “từ vượn lên người phải mấy triệu năm”?
Ngày nay
đương thời đồ đểu việt cộng ác độc ngự trị “từ Người xuống vượn chỉ
cần một vài năm” thôi! Bọn cán bộ có quyền thế trong tay đang tiến
nhanh, tiến mạnh chụp giật, vơ vét chiến lợi phẩm không chỉ là của
cải, tài sản, xe cộ, vàng ngọc, đô–la (dollar), bất động sản mà còn
là thân thể phụ nữ xinh đẹp là vợ con của tù nhân Quân – Dân miền
Nam... mà cả đời mơ ước của tên cán cuội bần nông quanh năm, suốt
tháng phải trốn chui, trốn nhủi lẩn tránh trong xó rừng âm u cây lá
thiếu ánh sáng mặt trời triền miên, đói cơm, sốt rét ngã nước thiếu
thuốc, và thèm khát hơi hám đàn bà lâu năm mà thành chứng bệnh “cà
hước” di căn mang về thành trả thù trên thân thể phụ nữ đã chiếm
đoạt...
Thành trì Ngũ Luân đạo lý của dân miền Nam đang bị
thách đố và có cơ bị hủy hoại! Người dân hiền hoà miền Nam bị bao
vây kinh tế, cuộc mưu sinh khốn khó để sống còn tất tả như vật vã
bơi lội trong cơn hồng thủy nên giả dối, tráo trở, gạt lừa đã có
“mặt” trong gia đình, xã hội, học đường, và khắp cùng mọi lãnh vực
đời sống là thể hiện “Thiên Đường xã hội chủ nghĩa cộng sản” từ đám
quyền bính chóp bu “bắc bộ phủ” chí cho đến bọn “cán ngố lý trưởng”
quê một cục tha hồ lập mưu gian “qui định” để giết người cướp của là
cộng tài sản của dân lành miền Nam vào kho của cải thủ đắc của
chúng.
Trong bối cảnh này, tôi phải luôn cảnh giác, không dám
tiếp xúc với bất cứ ai ngay cả vợ con mình, sống lang thang không
cửa không nhà, không một hào dính túi! “Hổ” sút móng lang thang đầu
đường xó chợ, chạnh thân nhớ nhà, thèm bữa cơm no lòng đầm ấm đoàn
viên! Phố xá quanh đây mà ta sao trơ trọi, hiểm nguy rình rập không
lường, rừng đâu mà nhớ?
Tôi đánh bạo tìm cách liên lạc với
Cha Mẹ đang sinh sống trên mảnh vườn cằn cỗi ở ngã ba Trung Lương,
Mỹ Tho xin tiếp tế. Cha Mẹ tôi có năm đứa con “đi quân đội đã lâu
rồi”. Sau ngày 30/4/1975, Bà như chết đi nửa đời người còn lại, khóc
cạn nước mắt rồi kham nhẫn chịu đựng đau khổ cầu Trời, khấn Phật xin
gia hộ cho tất cả năm đứa con đang thân bị giam cầm tù tội được bình
yên... Nghe tin tôi vượt ngục Bà hối thúc Cha tôi phải tìm gặp
“thằng Út” cho bằng được, và thế là tôi được giấu giếm tá túc ở nhà,
dưới sự che chở của Cha Mẹ. Tôi đào một cái hầm dưới đáy tủ quần áo,
phòng khi công an hay du kích xã Đạo Thạnh khám xét nhà thì tôi tức
khắc chui vào tủ, rúc xuống hầm ẩn trốn. Trước kia ở thời Việt Nam
Cộng Hoà thì bọn việt cộng chui rúc xuống hầm hố ngụy trang trốn
tránh. Nay thời của quỷ đỏ thì tôi lại là kẻ trốn tránh. Ôi thôi thế
sự thật bồng bềnh khéo trêu người!
Vài ngày sau đó, người Cậu
thứ Tư tên Trương Văn Thân nguyên trước đây là Trưởng Ty Nông Nghiệp
Tỉnh Định Tường ghé nhà thăm qua sự sắp xếp của Cha tôi, Ông nói:
– Con yên tâm tịnh dưỡng sức khoẻ, mọi việc đã có Cậu và Cậu Năm
(Trương Văn Phước) lo liệu. Đây là quyết định của cấp trên, Cậu giao
lại cho con...
Quyết Định của cấp trên là một tờ giấy đánh
máy, bổ nhiệm cho tôi giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung Đoàn II Sư
Đoàn Tiền Giang với ám danh UBL45, ấn ký của Trung tướng Ngô Quang
Truởng Tư lệnh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Trời hỡi?!!! Cậu
Tư của tôi chỉ là một công chức hành chánh mà nay là Tư lệnh phó Sư
Đoàn Tiền Giang, Cậu Năm của tôi vốn là một Y tá đỡ đẻ nay đang là
Quận trưởng Quận Châu Thành, Mỹ Tho? Chết rồi, tôi không biết Cha
mình đang giữ chức vụ gì đây, Mẹ tôi là giao liên cấp độ nào trong
cái “Tổ Chức Kháng Cộng” này, không khéo là chết hết cả nhà? Tôi rơi
vào tình trạng tiến thối lưỡng nan, làm thinh chịu trận! Trung đoàn
trưởng mà chẳng có thằng lính nào trong tay, lại phải móc nối tìm
kiếm ba “ông” Tiểu đoàn trưởng còn đang trốn chui trốn nhủi như việt
cộng khi xưa nghe lính Cộng Hoà hành quân bố ráp. Bố khỉ!
Rồi
chuyện gì tới phải tới. Vào một đêm tối trời vào khoảng 5 giờ sáng,
tất cả đều bị công an chấp pháp Mỹ Tho vây bắt không sót một móng
nào, chỉ có mình tôi nhờ cái hầm dưới đáy tủ quần áo mà thoát nạn.
Cậu Tư bị án xử tử hình, Cậu chết trong thời gian bị việt cộng tra
tấn cực hình để khai thác thêm những người liên hệ, Cậu Năm bị tù 20
năm khổ sai, Cha Mẹ tôi già cả yếu đuối, cũng may vì không nhận chức
vụ gì nên bị thẩm vấn liên tục rồi bị xử quản thúc tại gia, còn hàng
trăm người khác trong “tổ chức” bị bắt, số phận của họ như thế nào
dưới chế độ việt cộng “thà giết lầm hơn bỏ sót” chúng ta đã có nghe
và biết qua rồi!
Riêng tên Tư lệnh Sư Đoàn Tiền Giang là một
cựu Trung sĩ Nhất của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, nhận chỉ thị từ quan
thầy Ty công an chấp pháp Mỹ Tho, bủa một mẻ lưới gom tất cả trọn cả
bầy cá ngát ngây thơ muốn vượt “Vũ Môn” bất thành để rồi bị xử bắn
thân xác vùi dập bụi bờ hoang dại đâu đó hay đã thả trôi theo dòng
chảy của nhánh Tiền Giang cuồng nộ xuôi về biển Đông và dưới dòng
nước phù sa trộn mầu đỏ thắm có lẫn máu tươi của Đồng Bào sinh
trưởng và lớn theo con sông Tiền, sông Hậu nghe buồn não nuột! (Đây
là chuyện thật, người thật, việc thật. Nếu quí Độc Giả muốn biết rõ
tường tận chi tiết xin hỏi cựu Dân Biểu Lê Tấn Trạng đang sống ở San
Diego, California USA và người con trai của Cậu Tư của tôi).
Hò... lơ... Sông Cửu Long xuôi dòng rẽ nhánh
Thành sông Tiền,
sông Hậu có trước có sau
Mặc cho thủy triều lên xuống, gợn sóng
lao xao
Tình người Mỹ Tho sâu thẳm như đáy sông... ơ... hò
Hò... lơ... Em mua lúa Hồng Đào bán ra chợ Gạo
Ven sông tần
tảo nuôi bậu học hành
Bậu mần quan mần Trạng
Rạng danh thành
“Dân Biểu Bến Tranh”... ơ... hò
Hò... lơ... ai ngờ vận nước
tanh bành...!
Trạng manh tâm đưa bạn lên đàng chết oan... ơ... hò
Con chim Uyên Ương lẻ bạn
Con chim Nhạn lạc bầy đàn
Ai
bày, ai vẽ nên Sư Đoàn Tiền Giang... ơ... hò?
Hò... lơ... nước
phù sa Tiền Giang đỏ thắm!
Vì có máu người Trung Lương pha lẫn
nước sông
Dòng Tiền Giang cuồng nộ, làm sạt lở đôi bờ...
Chứa bao nhiêu xương trắng sông Tiền lạnh không... ơ... hò! –(Câu Hò
Tiền Giang)
Như vậy là tôi đã bị gạt lần thứ hai sau ngày
“bên thắng cuộc” cai trị đất nước Việt Nam, và không phải chỉ có
riêng tôi, mà còn bao nhiêu oan hồn uổng tử cùng với gia đình họ
chịu trăm ngàn đắng cay bên phía “người thua cuộc” bị lừa gạt để
tróc nã, đào tận gốc bốc tận rễ và giết hại! Không biết phải dùng
ngôn từ gì để diễn tả “quốc sách” phi dân tộc như thế! Bao nhiêu
giấy mực để phải viết ra đây phân trần, than thân trách phận ư? Hay
nung nấu một nỗi căm hờn nghiến cả hai hàm răng để khỏi bật ra tiếng
khóc ai oán tang thương!
Bị Gạt Lần Thứ Ba
Bị gạt lần
thứ hai, thoát được thân cũng do số trời định đoạt, nào tôi có muốn
như vậy đâu? Vì kháng chiến chống chế độ việt cộng đương quyền là
một trò đùa với tử thần, biết như vậy, nhưng lúc đó tôi chẳng có một
sự chọn lựa nào khác, cứ mặc kệ đời trôi nổi tới đâu hay tới đó.
Cũng may hôm đó chúng không xét nhà, chỉ bắt và dẫn Cha Mẹ cùng đứa
em trai của tôi về chấp pháp. Tôi chờ mãi đến tối ngày hôm sau, chị
Tư của tôi nhòm trước, ngó sau canh chừng động tĩnh an toàn cho tôi
rời khỏi nhà, ra đến Quốc lộ 4 đón xe về Sài Gòn, với một ít tiền độ
đường mà chị tôi vừa khóc vừa dúi vào túi áo!
“Hổ” lại trở về
thành. Thành phố Sài Gòn rực một màu đỏ, trên dưới xa gần, nhà cửa,
phố xá, xe cộ, cột điện... đều màu đỏ của máu tươi! Xuống bến xe
cảng miền tây, nhảy đại lên một chiếc xe lam sắp rời bến không biết
điểm đến nơi nao, xe ngừng ở ngã ba Trần Quốc Toản và Nguyễn Thiện
Thuật, tôi nhảy vội xuống xe, đi lang thang với những bước chân vô
định, cứ đi, muốn đi thẳng thì đi, muốn quẹo trái, quẹo phải thì
quẹo, muốn tới đâu thì tới.
Tới sân đá banh Cộng Hoà gần nhà
một người bạn rất thân cùng Khoá 22 Võ Bị Đà Lạt (Trong truyện ngắn
này, tôi không thể viết chi tiết và danh tánh vì có liên hệ đến rất
nhiều bằng hữu còn đang sống tại Việt Nam và Mỹ! Nhưng Họ mãi là
nhân chứng sống cho câu chuyện “Bị Gạt” của tôi). Kéo cái mũ xùm xụp
xuống gần mí mắt, tôi gõ cửa nhà, “bà Chị” (vợ của người bạn thân
cùng khoá) mở cửa, sau phút định thần, với đôi mắt gần như trợn
trừng ngạc nhiên Chị thảng thốt:
– Ôi... Trời ơi!... Anh...
Anh... hả?
Chị không dám gọi tên tôi vì đã biết mọi chuyện.
Chồng chị đã hy sinh trong mặt trận Quảng Trị, chị ở vậy với một đứa
con gái nuôi vài ba tuổi và có một người anh họ trước 1975, làm thư
ký trong toà Đại Sứ Mỹ, Ông không muốn đi Mỹ, dù có tên trong danh
sách di tản sang Mỹ. Chờ khoá cửa xong, chị hỏi thăm năm ba điều rồi
dặn dò:
– Ngày mai, đúng 9 giờ sáng, anh tới quán cà phê vỉa
hè đối diện với nhà thờ Huyện Sĩ, tôi có nhiều chuyện cần nói với
anh!
Lại tiếp tục lang thang, đêm đó tôi ngủ trên chiếc chiếu
thuê ở bến xe An Đông.
Đến 8 giờ sáng hôm sau, tôi tìm chỗ
khuất sau cây dù của quầy pha cà phê vỉa hè đối diện nhà thờ Huyện
Sĩ, chờ đến 9 giờ cũng chưa thấy chị, tới 9 giờ 45, một người đàn
ông xa lạ bước đến kéo cái ghế thấp ngồi kế bên tôi và kêu một ly cà
phê sữa nóng xong gật đầu chào xã giao và hỏi:
– Anh Út hả?
Một cơn chấn động ớn lạnh dữ dội chạy khắp thân thể gần như
không còn giữ được bình tĩnh, hai bàn tay nắm chặt vào nhau và để
lên bàn, không dám nhìn thẳng vào mặt ông ta, tôi nói:
– Vâng
thưa anh! Nếu anh là công an theo dõi tôi... thì tay tôi đây, anh cứ
còng...!
Ông ta dáng người nhỏ tầm thước, gương mặt bình thản
không có một chút sát khí nào, móc túi lấy bao thuốc Samit, châm lửa
rồi đưa sang cho tôi xong ông nói một cách chậm rãi:
– Tôi
tên H là anh của bà A. Tôi đến đây để giúp anh và anh phải đi
ngay...! Anh sẽ đến một nơi tôi nghĩ sẽ thích hợp và an toàn cho anh
hơn, tin hay không tùy anh.
Tin hay không? Chỉ có Thượng Đế
mới có thể giúp cho tôi lúc này để trả lời tin hay không! Không tin
thì tôi phải làm gì và nói gì trong lúc này? Tin thì tôi phải đến
nơi nào do ông ta quyết định? Sao định mệnh cứ mãi đưa đẩy thân tôi
vào những canh bạc thắng thua bằng chính mạng sống của mình?!
Và rồi đến 2 giờ chiều cùng ngày tôi được thu xếp lên chuyến xe
đò đi Long Khánh với lời căn dặn: “Cho đến khi nào anh lơ xe vỗ vai
ra dấu thì anh xuống xe...”. Xe chuyển bánh lên đường chạy bình yên
cho đến khi đậu lại ven đường, anh lơ xe la lớn:
– Bà con cô
bác ai muốn đi tiểu tiện hay mua cà phê nước uống thì xuống xe,
chúng ta sẽ nghĩ 10 phút...!
Cùng với cái vỗ nhẹ vào vai tôi.
Tôi xuống xe và nơi đây là Ấp Bảo Bình, Xã Bảo Liệt, Huyện Thống
Nhất, Tỉnh Long Khánh. Cái quán bên vệ đường là một trạm “giao liên”
của tổ chức “kháng chiến” mà họ đưa tôi lên đây. Tôi chỉ biết theo
lời hướng dẫn của họ. Người chủ quán pha cho tôi một ly cà phê đá và
nói nhỏ:
– Chờ xe chạy có người nói chuyện với anh sau...
“Người” Z20 là ám danh của một cựu Trung sĩ Pháo Binh thuộc Tiểu
Khu Phước Tuy, mà cũng là chỉ huy trưởng đơn vị kháng chiến hiện tại
mang tên: “Trung Đoàn Cơ Động Tỉnh Long Khánh”. Tôi được bổ nhiệm
làm Trung đoàn phó cho anh ta (thằng đang giăng câu). Mẹ kiếp...!
Thôi cũng đành nhắm mắt đưa chân, tôi cố ngậm miệng để không bật ra
tiếng chửi thề. Suốt đêm đó di hành gần 15 cây số vào tới mật khu
Mây Tào của việt cộng trước kia, xa xa nữa là núi Chứa Chan...
Khi trời vừa hừng sáng, Z20 ra “lệnh” cho tôi nghỉ ngơi, chờ đến
2 giờ trưa sẽ giới thiệu đơn vị. Thôi thì cũng một chút niềm vui len
lén vào hồn, kháng chiến hay khiến chán cũng là một nơi tạm dung
thân ít ra “Hổ” cũng được về rừng...! Buổi trưa, Z20 giới thiệu với
tất cả “kháng chiến quân” hiện diện, hắn chỉ định tôi là Z21 Chỉ huy
phó của Trung Đoàn (?), sau đó giới thiệu vài người thân cận sẽ làm
việc bên cạnh tôi, rồi nói sơ qua cho biết:
– Hiện nay Đại
tướng Ngô Quang Trưởng đang là Tổng tư lệnh Quân Đội Giải Phóng Việt
Nam, Trung tướng Bùi Thế Lân Tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến đang ở núi
Chứa Chan, Đại tá Lê Văn Mễ Tư lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù ở núi Bà Rá...
Anh ta nói liên miên không ngượng miệng, không có bản đồ, cũng
chẳng có một chứng từ gì để trao lại cho Trung đoàn phó của anh ta
tức là tôi (sic)...! Nghe tới đây tôi rởn tóc gáy, chợt nghĩ đến chỉ
trong một đêm cả Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Tiền Giang bị việt cộng hốt trọn
ổ...?! Chỉ có thế, rồi anh ta rời “mật khu kháng chiến” vội vã trở
ra cái quán bên vệ đường Quốc lộ 1 với lý do đi liên lạc với cấp
trên để cho tôi toàn quyền quyết định mọi việc.
Quyết định
cái gì? “Trung Đoàn” chỉ có 67 “nhơn” mạng: 63 nam, 4 nữ, hầu hết
không quá 30 tuổi, và một số là dân phạm pháp trốn vào “bưng”, vũ
khí chỉ có 7 súng M16, mỗi khẩu có một băng đạn không tới 20 viên
đạn, không bản đồ, không máy truyền tin, tình hình “địch” và “bạn”
chung quanh vài cây số cũng mù tịt, không có thuốc men khi bệnh hoạn
hay ngộ độc thì sẽ làm sao cứu chữa...? Ẩm thực mỗi ngày, mỗi người
chỉ ăn được hai bữa vài ba chén cháo với cá khô...!
Kháng
chiến kiểu này là tự sát theo thời gian! Tôi đâm ra chán, và những
mối nghi ngờ càng ngày càng tích lũy âm thầm trong lòng càng gia
tăng. Bài học mới đây với Sư Đoàn Tiền Giang, Sư Đoàn Rạch Giá, vụ
án nhà thờ Vinh Sơn chưa ráo mực, chắc chắn rồi mình lại bị gạt rõ
ràng như hai cộng với hai là bốn. Cố giữ bình thản giấu đi ánh mắt
và những lời nói vô tình làm lộ ý nghĩ trong đầu. Ba ngày trôi qua
không có mặt của tên đầu sỏ Z20, đêm đến tôi không ngủ chỗ của mình
mà ôm tấm chăn chui vào bụi rậm gần đó, nửa thức, nửa ngủ chờ
sáng...
Đến ngày thứ tư, tôi ra lệnh cho Tập và Quang (hai
người này đang sinh sống tại Mỹ) theo tôi thám sát chung quanh vùng,
nhưng thật sự là để dò tìm con đường an toàn trở ra Quốc lộ 1. Ngày
hôm sau tôi âm thầm lặng lẽ rời bỏ họ. Tôi vẫn ngậm ngùi nghĩ tới
họ, nhất là bốn cô gái chỉ vừa tuổi đôi mươi, những “chiến hữu” bất
đắc dĩ này không biết rõ vì hoàn cảnh nào đưa đẩy họ vào đây...?
Nhưng chắc chắn là họ không thể sống bình thường với gia đình nơi
sinh ra và lớn lên, và chắc chắn hơn nữa họ không có một khái niệm
sơ đẳng nào về việc họ đang làm rất nguy hiểm sẽ đưa đến cái chết
oan uổng khi bị việt cộng bắt và xử bắn. Thật tội nghiệp cho họ!
Nhưng biết làm sao hơn, vì ngay cả bản thân của tôi cũng đã và đang
lâm nguy như cá nằm trong rọ chờ giờ bị tóm cổ!
Tôi âm thầm
lặng lẽ rời bỏ họ trên đường trốn chạy tử thần, trong khi họ tin
tưởng và hy vọng ở nơi tôi, một cựu Đại uý Nhảy Dù tác chiến thứ
thiệt, và chắc chắn là chỉ huy kháng chiến “thứ thiệt” vì do cấp
trên bổ nhiệm. Tôi bây giờ như con cua bị bẻ hết càng, thân bất độ,
độ chi tha nhân, chắc gì cứu lấy được mình, nào dám hé môi nửa lời
cứu lấy thân họ, lại nữa biết ai giả ai thật, trí trá vàng thau lẫn
lộn, tai vách mạch rừng... đành để họ buông theo số mệnh an bài cho
những người “Bạn” trẻ ngây thơ như nai tơ trước đàn sài lang hung
dữ, ác độc thèm máu tươi và “năng nổ” lập công, thành tích để trồi
đạp lên nhau mà tiến thân rồi mặc sức tha hồ giết người cướp của,
thời điểm hưng thịnh bạo ngược là “bình minh cộng sản” (không viết
Hoa)!
Rồi từ đó về sau tôi không biết tin tức gì của họ nữa,
mãi đến năm 1987 tức 11 năm sau chị A từ Boston gọi điện thoại cho
tôi biết anh H vừa sang Mỹ định cư ở Richmond, Virginia. Tôi tức tốc
đến thăm gia đình anh, rồi được anh kể lại cho tôi nghe với những
giọt nước mắt lưng tròng:
– Sau khi anh Út đi khỏi “chiến
khu” rồi, chỉ vài tuần sau đó việt cộng kéo cả một Tiểu Đoàn Bộ Đội
và Thiết Giáp càn quét vào đó, tất cả những người đang ở trong
“chiến khu” bị giết hoặc bị bắt đi, chỉ có vài ba người trốn thoát
được vì đang ở Bảo Bình chờ nhận tiếp tế. Tôi đã bị việt cộng gạt và
kéo anh vào cuộc bị gạt luôn với 60 sinh mạng bị bắn giết ở tuổi
ngây thơ chưa biết gì về sự tàn ác của việt cộng!
Đêm đó tôi
thức suốt đêm với anh H, uống hết chai beer này đến chai beer khác,
beer trộn lẫn với nước mắt nuốt vào cổ họng nghẹn ngào bi thương.
Làm sao quên được những đôi mắt ngây thơ tin yêu có chút lãng mạn
chuyện đội đá vá trời của những “kháng chiến quân” trong mật khu Mây
Tào bị “gài độ” và giờ đây thân xác của họ bị vùi lấp đâu đó nơi xó
rừng hoang vu lạnh lẽo. Nào ai biết, nào ai hay để thắp vài nén
hương sưởi ấm oan hồn. Đêm đã gần sáng mà những câu chuyện bị gạt bi
thương, đau đớn gần như bất tận...
Bị Gạt Lần Thứ Tư
Nay “Hổ” trốn chui trở lại về “thành Hồ” và đã bị sứt móng, như mèo
bị cắt tai hoặc thành “cái” con chi chi cũng mặc, gặp ai nói, ai bảo
gì cũng đành phải dạ thưa để tìm chỗ dung thân! Ấy vậy mà vẫn còn bị
gạt dài dài...! Giấc mơ “Hổ Nhớ Rừng” tự hứa từ đây sẽ chôn xuống
gốc cây bụi cỏ nào đó cùng với lý lịch “oan khiên” Út Bạch Lan (danh
hiệu truyền tin gần như huyền thoại mà cấp Chỉ Huy và bạn bè thân
thương “ban” tặng như pháo, càng nổ to tiếng thì tan tành xác pháo
thôi) rồi bắt đầu chuyển hướng tìm phương cách vượt biên.
“Vượt Biên” là ngôn ngữ thời thượng trong khoảng thời gian từ năm
1977–1980, nhà nhà vượt biên, người người vượt biên. Các hũ vàng
chôn dưới nền nhà, chôn dưới cây khế sau nhà, dưới nền chuồng heo,
chuồng gà lần lượt được moi móc lên để dâng cúng cho những tay trùm
quỷ đỏ qua trung gian của không biết bao nhiêu kẻ chạy cò, móc nối
gian manh lường gạt ngay cả thân nhân ruột thịt của mình.
Gia
đình tôi là một trong những gia đình nạn nhân trong “quốc sách” bán
bãi thu vàng, dollar, tịch thu tài sản của người vượt biên đó! Cả
gia đình người Cô ruột của tôi gồm 16 nhân mạng đã chìm sâu dưới
dòng sông Cát Lái sau khi đã gom góp tất cả tài sản để đánh đổi với
hai chữ “Tự Do”, mà chính họ cùng lơ mơ không hiểu “Tự Do” là gì khi
chiếc xà lan nổ tung dìm thân xác họ xuống lòng sông là chứng nhân
vô tình, nước vẫn chảy xuôi dòng, cát vẫn trôi lăn vô định. Còn lại
bao tiếc thương của những thân nhân họ hàng rơi lệ dầm bâu rồi lại
lăng xăng lục lạo tìm đường vượt biên!
Năm 1979, một chiếc xà
lan chứa cả hơn ngàn nhân mạng được tàu việt cộng kéo ra khơi vượt
biên, sau đó trôi dạt vào Pulau Bidong chỉ còn vài chục xác chết!
Không biết những giây phút cuối cùng cận tử có ai không trong số
đồng bào vượt biên phát giác âm mưu gian trá của bọn quỷ đỏ giết
người cướp của mà gào thét: “Bọn quỷ đỏ đã lừa gạt đồng bào” và còn
nhớ đã chung bao nhiêu cây vàng cho đám công an tổ chức?
Giấc
mơ “Hổ Nhớ Rừng” nay mồ đã xanh cỏ, giấc mơ vượt biên như ở đâu đó
còn xa xăm ngoài tầm tay với. Đường bộ ngã Châu Đốc qua Campuchia
cũng phải chung vàng, bán chính thức giá mỗi đầu người bốn cây, đi
chui thì tệ lắm cũng hai cây. Mở miệng ra nói tới chuyện vượt biên
là cây với cây. Với ba lần bị gạt như kính cung chi điểu, con chim
bị tên thấy cành cây cong đã hoảng sợ, bây giờ nghe nói đến cây cây
là còn lo sợ hơn!
o0o
Bài tính tích phân với ba bốn
con ngỗng của Thầy Nguyễn Khắc Thuận (Võ Bị Đà Lạt) cứ nhảy múa
trong đầu và tìm đâu ra đáp số. Cha Mẹ ơi, Thầy ơi! Đang trong
khi vợ con còn ăn uống chưa no bụng, thì làm sao mà có vàng để
vượt biên? Một buổi trưa đang lang thang ở chợ trời Tân Định,
tôi bị một cái vỗ vai thật mạnh gần chúi nhủi, ngó lại thì là
chị Mai vợ của anh Nguyễn Văn Chộ (Khoá 21). Anh Chộ tướng đô
con, trắng trẻo, đẹp trai, ra trường vào Không Quân, chị Mai là
Tiếp Viên Hàng Không của Air Việt Nam, nổi tiếng đẹp nhất trong
số các “Phu Nhân” của Võ Bị Đà Lạt. Chị gọi tôi:
– Anh
Út,... lại đây... lại đây!
Chị kéo tôi đến cái sạp bán
quần áo cũ của chị. Nét đẹp diễm kiều và quí phái không thay đổi
nhiều nhưng phảng phất có đôi chút phong trần.
– Anh uống
cà phê không, cà phê cứt chồn ngon lắm?
Không đợi tôi trả
lời, chị nhờ cô bé chạy hàng rong gọi hai ly cà phê sữa đá thêm
chút bơ. Chị nói huyên thuyên chuyện gia đình, chuyện anh Chộ,
và cuối cùng:
– Tôi nghe bà xã của anh kể lại chuyện về
anh... Thật không ngờ gặp được anh ở đây. Thôi tóm tắt như thế
này...
Nghe qua, tôi được biết người tình hờ của chị là
một người Hoa có hai lò đường ở Củ Chi, đang tổ chức một chuyến
vượt biên ở Sa Đéc, có tay trong là tên tài công từ ngoài Bắc
vô, đang là thuyền trưởng một trong những tàu đánh cá quốc doanh
Phú Quốc... Chị nói tiếp:
– Tên tài công này đồng ý đưa
mình đi, nhưng hắn muốn có một ít tiền để lại cho gia đình ở
Ninh Bình, điều kiện là hai cây đầu người. Nếu anh kiếm được 10
người thì anh sẽ được đi không tốn tiền.
Nghe qua hấp dẫn
vô cùng và tự khoái chí: “Ờ há chỉ có con đường này may ra...”!
Sau này biết mình bị gạt, tôi tự đấm vào đầu và tự nhủ: “Sao mầy
có thể ngu đần như vậy, không nghĩ 'thằng' tổ chức là ai, 'nó'
chính là 'đầu não' quyết định 'thằng tài công từ ngoài Bắc' vào
và cũng chỉ vì giấc mộng vượt biên mà u mê đến độ không suy nghĩ
đắn đo phân hư thật cứ lao đầu vào sự lường gạt.”
Sau vài
lần tiếp xúc, tôi dần dần tin tưởng ở chị Mai, mỗi lần gặp chị
bảo tôi ngồi ở phía sau cái sạp bán quần áo cũ của chị nhìn ông
đi qua bà đi lại, lắm khi chị giao sạp cho tôi trông coi, còn
chị chạy vòng vòng đâu đó mua bán trao đổi quấn áo cũ, khi trở
về chị mua cho tôi đĩa cơm tấm sườn. Sự tin tưởng nơi chị gia
tăng tới mức tôi nhờ chị liên lạc với gia đình. Một ngày, người
đàn ông lạ mặt xuất hiện, chị giới thiệu là anh Chín, ông chủ lò
đường ở Củ Chi, không nói tôi cũng biết là người tình hờ của
chị, nhưng nào phải chuyện của mình thắc mắc làm gì, họ trao đổi
gì với nhau tôi cũng làm ngơ, nhưng thoang thoáng cũng biết được
chuyện tiền nong cho chuyến vượt biên sắp tới. Chờ cho người đàn
ông đi rồi, chập sau chị mới nói với tôi:
– Anh Út à! Tôi
phải năn nỉ hết lời ông ấy mới thuận, tôi nói với ổng anh là anh
em cột chèo với anh Chộ, nên ổng đồng ý cho anh đi, nhưng cũng
phải đưa trước hai cây.
“Phải năn nỉ hết lời” mà phải đưa
trước hai cây?!... Sao lúc đó tôi ngu ngơ khờ khạo đến nỗi không
nghĩ ra cái mâu thuẫn hắc bạch phân minh này? Ngu nên bị gạt là
đáng kiếp! Trông cậy và nhờ vả vào ai đây để đào ra hai cây vàng
giao cho họ, cũng đồng nghĩa giao tính mạng mình cho họ? Nếu là
một người dân bình thường có hộ khẩu, có gia đình, đi lại bình
thường may ra còn có thể xoay sở được, nếu thoát được thì nói
gì, còn nếu bị “dính cựa” thì cũng còn mái ấm gia đình mong ngày
trở về... Còn tôi chỉ có đường đi tới, không trở lui được là thế
bối thủy.
Như một kẻ đã bị dồn vào chân tường, giống như
ngày còn cầm quân nơi trận địa rơi vào hoàn cảnh chống cũng chết
mà hàng cũng chết. Lại nữa tôi tin ở chị Mai cũng như tôi tin ở
chị A vì chỗ thân quen, ân tình nghĩa lụy với nhau trong những
tháng năm còn tại ngũ. Tôi nghĩ đến Mẹ tôi. Người Mẹ chỉ biết
chắt chiu dành dụm từng đồng và ăn chay trường từ ngày sinh
người con thứ tám. Hy vọng mong manh may ra thoát được cái thiên
la địa võng cô nghiệt này. Tôi viết một bức thư kín đáo cho Mẹ
tôi và không quên dặn dò cách thức gặp gỡ. Đúng ngày, đúng giờ,
đúng địa điểm chị Tư của tôi dẫn hai đứa con lang thang trong sở
thú Sài Gòn, tôi nhìn theo dõi ở xa xa... chưa dám tiếp xúc, rồi
sau cùng nhận thấy khá an toàn tôi giả vờ như người chăm sóc cây
kiểng đến gần gặp chị.
Chị lo âu vội vã nói:
–
Trong cái túi giấy có ổ bánh mì, cá nục kho của Má làm cho em
sáng nay, một cái bọc vải và cái thư của Má. Thôi chị đi.
Chị vội vàng quay đi với hai đứa cháu và gương mặt đầm đìa
nước mắt. Tôi tìm chỗ kín đáo mở “quà” và đọc thơ của Mẹ tôi
viết:
– Con của Má, Má có bao nhiêu gom hết cho con, có
phần phụ thêm của chị Hai và chị Tư. Con nên bảo trọng lấy thân,
Ba Má vẫn đọc kinh cầu nguyện Phật Trời phù hộ cho con và anh em
của con hằng đêm...
Trong bọc vải có một sợi giây chuyền,
ba chiếc nhẫn, một tấm lắc đeo tay, một cái kiềng đeo tay, một
đôi bông tai, một vòng cẩm thạch màu tím thẫm, tất cả đều là
vàng y. Tôi nào biết định giá nó là bao nhiêu, tương đương với
mấy cây cũng không biết! Với niềm hy vọng và tin tưởng không một
chút thắc mắc nào, tôi giao hết cho chị Mai ngay buổi chiều ngày
hôm đó. Tôi đã giao cho chị Mai tất cả huyết lệ của Mẹ và chị
tôi, đã cần kiệm để dành chút vốn của cải cất giấu cả đời người
tần tảo nay đem cho hết những mong tôi sẽ được vựợt biên bình an
suôn sẻ! Cứ mỗi ngày theo lời dặn của chị Mai, tôi ghé gánh cơm
“xích lô phu khuân vác” xeo xéo sạp quần áo của chị để chờ tin.
Thời gian và đợi chờ là hai khắc tinh “nhất nhật tại tù thiên
thu tại ngoại”, ngày qua tháng lại chỉ chờ, chờ, chờ cho đến một
hôm kinh hoàng như bị thiên lôi giáng một búa xuống đầu mình,
miệng há hốc mà không thốt ra được một lời, thân chết đứng...
khi nghe chị Mai thông báo:
– Tôi đã giao hết cái của anh
cho anh Chín lò đường, cả mấy tuần nay tôi nhắn hoài mà không
thấy anh ấy liên lạc, mới vừa nghe tin anh ấy đã cùng gia đình
vượt biên rồi. Bây giờ mình chỉ còn nước đi thưa với công an mà
thôi!
“Thưa Công An”? Tôi đã rơi vào bẫy sập với cái giá
mồ hôi và nước mắt của Mẹ và chị tôi. Nỗi uất nghẹn từ trong tim
trào dâng, ngăn dòng lệ không ứa tuôn ra ngoài mà phải ém để
chảy ngược vào bên trong tâm tan nát. Tôi lầm lũi bước đi với
những bước chân vô hồn, bên tai vẫn còn nghe tiếng bà Ba gánh
cơm xích lô: “bữa nay có thịt kho tàu với dưa chua, dưa giá...”
và dư âm lời của chị Mai: “... mình chỉ còn nước đi thưa Công An
mà thôi”! Tôi tự hỏi chị Mai hay thằng Ba Tàu chủ lò đường kiêm
người tình “30 tháng Tư” của chị manh tâm gạt tôi?! Những ngày
sau, tôi lén trở lại sạp vải thấy tên Chín lò đường vẫn ngồi với
chị Mai sau cái sập bán quần áo cũ và họ hiên ngang chờ tôi đến
để “đi thưa Công An”. Tôi âm thầm gạt lệ, có nỗi xót xa đau đớn
nào hơn hoàn cảnh này hỡi Trời?
Bị Gạt Lần Thứ Năm
Trời cao không phụ lòng người, sau cùng tôi vượt biên thành
công. Một tháng rưỡi ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, sáu tháng ở
GaLang II chờ học ESL rồi cuối cùng cũng được đặt chân lên đất
nước Mỹ tháng 12 năm 1982, Tôi phải đối diện với cuộc sống mới,
làm lại từ khởi đầu với hai bàn tay trắng và mớ vốn kiến thức
nửa nạc nửa mỡ, nửa thầy nửa thợ, bỏ lại sau lưng những nhục
nhằn của cái thiên đường xạo hết chỗ nói (xã hội chủ nghĩa) chỉ
có mánh mung và lường gạt! Khi còn ở trại tỵ nạn, vài nhân viên
người ngoại quốc trong phái đoàn phỏng vấn hỏi tôi:
– Anh
có dự tính sang Mỹ sẽ làm gì hay không?
Tôi trả lời ngay
không do dự:
– Lái Taxi.
Khi sang đến Mỹ, bạn bè
khuyến khích tôi nên đi học trở lại trong khi đang hưởng trợ cấp
xã hội. Tôi cười:
– Trời đất... bao năm chinh chiến chỉ
biết cắc bùm, nhiều năm trốn chui trốn nhủi, sách vở văn chương
chữ nghĩa đã trả lại cho Thầy, lại nữa tiếng Anh tiếng U nói
bằng tay múa bằng chân thì học cái gì...?
Họ trấn an:
– Tụi Tao học được thì mày cũng học được, học không bổ bề
dọc cũng bổ bề ngang...
Thế là tôi cũng phải đi học mong
kiếm tờ giấy “bằng cấp” lộn lận lưng để đi xin việc làm.
30/4/1983: “Ngày Đại Hội Chính Nghĩa của Mặt Trận Quốc Gia Thống
Nhất Giải Phóng Việt Nam” – Hoàng Cơ Minh tại Thủ Đô Washington:
Người Bạn thân của tôi là Cựu Đại uý Quân Y Nhảy Dù Trần
Công Hoàng (Florida) đang là Xứ Bộ Trưởng X202 của Mặt Trận vùng
Đông–Bắc Mỹ, Cựu Trung tá Bác sĩ Quân Y Sư Đoàn Nhảy Dù Trần Đức
Tường (France) đang là Đại Diện cho Khu Bộ Âu Châu của Mặt
Trận... giới thiệu tôi với Đề đốc Hoàng Cơ Minh qua thành tích
trốn trại và tham gia “kháng chiến” ở Việt Nam trước khi qua Mỹ.
Trong căn phòng nhỏ hẹp vùng Maryland, bên ngoài được canh phòng
an ninh chặt chẽ, Bác sĩ Trần Đức Tường nghiêm chỉnh trình diện
Chủ tịch Hoàng Cơ Minh rồi dõng dạc giới thiệu:
– Xin
trân trọng giới thiệu với Đề đốc... đây là Đại uý Trương Văn Út
tự là Út Bạch Lan... mà tôi đã trình bày với Đề đốc cùng Đại tá
(PVL) hai ngày hôm trước.
Bác sĩ Tường bước ra ngoài,
đóng cửa, trong phòng riêng thì chỉ còn có ba người với ánh sáng
lờ mờ chỉ có ánh đèn bật sáng trên một bản đồ khá lớn đang trải
rộng trên bàn. Ông Hoàng Cơ Minh cũng biết tôi vừa từ Việt Nam
đến Mỹ vài tháng qua nên ân cần:
– Anh Út,... tốt lắm!
Tôi và Đại tá Liễu được Bác sĩ Tường kể hết thành tích (?) của
anh... Sẵn đây, anh có thể cho chúng tôi biết khái quát về tình
hình ở Việt Nam qua phóng đồ hành quân này và cho chúng tôi biết
nhận định của anh.
Trên bản đồ, những chấm xanh đánh dấu
vị trí các đơn vị của “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng
Việt Nam” – Hoàng Cơ Minh, chấm đỏ là các đơn vị trú phòng của
Quân đội nhân dân việt cộng. Liếc qua Vùng IV của mình ngày xưa,
rồi vùng Bắc, Đông–Bắc Sài Gòn với chấm xanh chấm đỏ chen lẫn
chằng chịt khiến tôi chóng mặt! Tất cả lực lượng của Mặt Trận
đang dưới quyền “Tư Lệnh” Trung tá Lê Hồng (truớc 1975 là Lữ
đoàn phó Lữ Đoàn I Nhảy Dù) nay đang mang cấp bậc thiếu tướng là
“Thiếu tướng Đặng Quốc Hiền”! Cả hai “Ông” đều im lặng trong khi
tôi quan sát trên bản đồ và cũng im lặng... Chợt nhớ tới những
lời của tên Z20 ở Long Khánh trước đây... và tôi cố giữ bình
tĩnh để tiếng “xạo” không thoát ra cửa miệng. Một lúc lâu ông
Hoàng Cơ Minh hỏi thúc:
– Anh thấy sao?
Tôi thực
tình trả lời:
– Thưa Đề đốc, tôi chỉ biết vào khoảng năm
1976 ở Mỹ Tho có Sư Đoàn Tiền Giang nhưng không có quân. Ở Long
Khánh có một nhóm khoảng trên dưới 60 người lại không có cấp chỉ
huy! Tôi chỉ biết có thế.
– Thôi được, bây giờ anh đang
làm gì?
– Dạ, tôi đang đi học.
– Tôi có bàn với
anh Bảy (TVL) là kết nạp anh ngay và sẽ đưa anh sang Thái Lan để
giúp cho anh Chính “Tư Lệnh Lực Lượng Võ Trang” (Thiếu tướng
Đặng Quốc Hiền tức Trung tá Lê Hiền) hoặc ở lại đây vừa đi học
vừa giúp chúng tôi thành lập Biệt Đội Công Tác Đặc Biệt (tiền
thân của K9 sau này)... Anh nghĩ sao cho chúng tôi biết ngay bây
giờ?
Tôi rơi ngay vào tâm trạng bối rối vì những cái chấm
xanh chấm đỏ trên bản đồ. Thật xạo hết chỗ nói (XHCN), lại bị
gạt nữa hay sao? Ba lần bốn lượt bị gạt còn chưa tởn hay sao mà
nay lại còn ngần ngừ muốn bị gạt nữa chăng? Không gật đầu cũng
không lắc đầu tôi từ tốn lịch sự trả lời:
– Thưa Đề đốc
và Đại tá... Tôi đã ghi danh đi học, thời gian chưa biết bao
lâu, xin cho tôi thời gian suy nghĩ, khi nghe và nói được tiếng
Anh lưu loát hơn tôi sẽ trả lời sau. Dù thế nào việc trở về Việt
Nam lật đổ cộng sản việt nam vẫn là giấc mơ chẳng phải của riêng
tôi mà là của hầu hết mọi người Việt trong và ngoài nước.
Vậy cũng được... anh Bảy sẽ chỉ thị trực tiếp cho X202 (Trần
Công Hoàng) giúp đỡ cho anh trong thời gian đi học, liên lạc
thường xuyên với X202, cần gì thì nói với X202 và báo cáo thẳng
cho tôi hoặc anh Bảy. Trong thời gian này nếu có thể được, anh
liên lạc với Giáo sư Cao Thế Dung nhận một ít tài liệu về đọc và
nghiên cứu để hiểu biết thêm tình hình chính trị hiện nay...
Tịnh Hô (cận vệ của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan trước 1975)
lái xe đưa tôi trở về nhà “anh Đại” Trung tá Phán (Thủy Quân Lục
Chiến). Nơi đây đã “tập họp” trên 20 người ăn nhậu và đấu khẩu
ỏm tỏi... Hình như họ đã biết chuyện tôi gặp gỡ Hoàng Cơ Minh
chiều nay cho nên khi bước vào nhà, Tịnh Hô la lớn tiếng:
– Út Bạch Lan về tới... sau khi được phong chức Công Công!
Mọi người cười ồ! Họ là những sĩ quan cấp tá, đàn anh của
tôi trong giới “giang hồ” ăn chơi ở Sài Gòn trước 1975. Họ tụ
tập về đây tham dự “Đại Hội Chính Nghĩa” của Hoàng Cơ Minh. Họ
không phải là cán bộ hay thành viên, đoàn viên của Mặt Trận mà
chỉ vì tò mò về đây để “xem sự thể như thế nào” thế thôi!
Tôi mới đặt chân lên đất Mỹ vài ba tháng (1983) trong khi họ
đã đến đây từ 1975. Sự am tường hiểu biết của tôi so với họ chỉ
là con số không và họ đã được ông Hoàng Cơ Minh chiếu cố vận
dụng, chiêu mộ trước tôi xa lắc xa lơ... Ba người trong số của
Họ là cựu Trung tá Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Văn Phán, cựu Hải
Quân Trung tá Trần Đức Cử, cựu Trung tá Biệt Động Quân Nguyễn
Thừa Dzu nói với tôi:
– Mầy mới qua nên lo đi học rồi
kiếm việc làm, ba cái chuyện này để mấy thằng anh mày lo, bao
nhiêu cạm bẫy trùng trùng lớp lớp trước mặt, lỡ bước sang ngang
con đò lật úp thì không ai cứu mày được. Đại Hội Chính Nghĩa của
Hoàng Cơ Minh hôm nay là dấu hiệu kết thúc đó, tụi tao không cần
giải thích nhiều! Nên nghe lời “Qua” đi em!
Ngay sau đó,
với sự vận động của “anh Đại” Phán, mọi người đóng góp tại chỗ
được 3800 dollars để cho tôi mua chiếc xe Nissan Sentra 1983 hai
cửa mới toanh để đi học, và sau này cũng chính Anh Phán là người
tìm việc làm cho tôi. Đứng giữa hai sự chọn lựa, một là “danh
vọng, địa vị” với Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, hai là tấm thạnh tình
của những đàn Anh chí tình chân thật. Lần này bởi nhìn được thấu
đáo sự thật và nhiệt tình giúp đỡ của quí Anh trưởng thượng, tôi
né tránh được bị gạt lần thứ năm.
Tôi từ chối những tấm
check vài ba trăm hàng tháng của X202 nói rằng từ trung ương gửi
cho tôi. Tôi biện giải khéo vì đã có Wellfare và Foodstamp đủ để
đi học rồi, và dứt khoát bỏ ngoài tai những mật ngọt vẫn tiếp
tục gọi hàng ngày cùng những lời tâng bốc của các bạn cùng
trường. Họ là những đoàn viên trung kiên của Mặt Trận trong đó
có rất nhiều cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị với bộ đồng phục quần
xám, áo nâu hoạt động quên cả ăn học! Tội Nghiệp! Tôi vẫn âm
thầm tiếp tục việc học và cũng may, nếu vì “nổ” và hám danh, háo
vị thì thân xác tôi giờ đây đã rã mục oan uổng đâu đó trong vùng
thâm lâm Thái–Lào cùng với Chủ tịch Hoàng Cơ Minh hoặc bị vùi
dập dưới gốc tre bụi chuối nào đó bênh cạnh “Trại Kháng Chiến
Quân” cùng “Thiếu tướng Tư lệnh Đặng Quốc Hiền”, hay như Giáo sư
Cao Thế Dung phải sống trong lo âu sợ hãi khi ly khai và lột mặt
nạ gia đình đầu nậu “kháng chiến Phở Bò” họ Hoàng...?!
Lần bị gạt này sở dĩ mà “né” được là nhờ kinh nghiệm những lần
bị gạt trước kia và sự nhiệt tình cảnh báo của một đa số “đàn
Anh” đến Mỹ năm 1975... Trong khi đó không biết bao nhiêu bạn bè
thân thiết của tôi thân bại danh liệt, tán gia bại sản vì cái
danh vị và quyền lợi nhất thời này... lẽ dĩ nhiên tôi không dám
nói tới những “Anh Hùng” thực sự có hùng tâm với đất nước nhưng
thiểu trí đã thực sự tin tưởng và dấn thân trong “Mặt Trận Kháng
Chiến” Hoàng Cơ Minh, những mong quang phục nước nhà. Tôi thành
kính phân ưu! Xét cho cùng ai gạt ai và ai bị gạt...? Hạ hồi
phân giải.
Lần Thứ Mấy Rồi Hỡi Em?
Rồi chuyện bút
nghiên nhắm mắt qua cầu cũng xong cùng lúc với Phạm Quảng Thành
và Dương Hiển Tòng. Đúng như lời Dương Hiển Tòng đã nói: “Học
không bổ bề dọc cũng bổ bề ngang”. Ra trường có việc làm như ai,
lai rai kiếm tiền bắt đầu gửi trả báo đền những ân tình với ân
nhân ngày trước. Thời gian cuối 1984 đầu 1985 là thời gian “an
cư lạc nghiệp” của tôi: đi làm chỉ mong cuối tuần để gặp Nguyễn
Như Lâm, Lạc Minh Châu, Nguyễn Hữu Cầu, Mai Vĩnh Phu, Đỗ Đức
Thắng... không Washington, D.C. thì Maryland, không Philadelphia
thì New York. Mong đầu tháng hay giữa tháng lãnh cái check chạy
vội ra tiệm vải của người Việt Nam mua một thùng trị giá 200
dollars cho vợ con, một thùng 200 dollars cho Cha Mẹ, chỉ biết
trả tiền hàng hoá do tiệm đóng thùng gởi về Việt Nam với hoá đơn
đàng hoàng, trên đường lái xe về nhà lòng thơi thới hân hoan vui
sướng vì nghĩ Cha Mẹ, vợ con sẽ mừng rỡ khui thùng hàng nhận
được quà là những xấp vải, mấy cái quần Jean Levis thứ thiệt,
mấy hũ thuốc trị bịnh phổi cho Cha, chỉ thiếu trầu cau cho Mẹ
nữa thôi!
Tôi biết Mẹ chỉ cần tin tôi đã thật sự thoát ra
khỏi địa ngục việt cộng và đang sống trên thiên đàng tự do Mỹ
quốc là Bà mừng vui không có niềm vui nào hơn thế nữa! Một hôm
tôi nhận được thư vợ:
– “Anh à, em nói anh đừng nổi nóng
nghe! Anh xem lại, anh nói thùng quà trị giá $200USD mà thật ra
chỉ trị giá khoảng $50 mà thôi... vì hàng 'dzỏm' không hà! Ba Má
nhờ em thanh toán dùm, có bao nhiêu em giao lại cho Ba Má bấy
nhiêu, bây giờ em lại mang tiếng là: 'con dâu ăn chận'!”
Tôi chửi thề:
– Mẹ kiếp lại bị gạt!
Cái này thì ai
gạt ai đây? Thằng chủ tiệm vải hay vợ tôi trong vụ mánh mung
này? Tôi mang mấy chục cái hoá đơn ra hỏi thằng chủ tiệm vải thì
nó chứng minh rành mạch rõ ràng:
– “... theo đơn đặt
hàng... 100$ là như thế này, 200$ là như thế này, và 500$ là như
thế này... giá cả ở Mỹ là thế này, còn cái giá ở Việt Nam làm
sao tôi biết được”?
Tôi quíu lưỡi! Đi thưa kiện nó à? Con
kiến đi kiện củ khoai đành ngậm bồ hòn lủi thủi về nhà lòng buồn
rười rượi! Cũng may bên cạnh còn có Trần Thị Thanh Hà người vợ
chưa bao giờ cưới mới vừa “ký giao kèo” sống chung, sống vui,
sống không càm ràm với tôi khoảng một năm nay... gọi cho chị Mai
vợ Nguyễn Như Lâm tâm sự “khúc nôi” được chị cho biết:
–
“Trời ơi,... Tôi biết thằng khốn nạn đó mà, nhiều người bị nó
gạt 1001 kiểu, không kiểu nào giống kiểu nào...? Ông Út bị nó
gạt là phải rồi, nói với ông Út đừng gửi theo kiểu thùng quà nữa
mà gửi xe Honda Cup chắc ăn và có lời hơn...”.
Xe Cup hay
Cub gì đó, ông cố nội tôi cũng không biết là cái giống gì, giá
cả $1225USD? Khi người nhận ở Việt Nam chiếc xe này trị giá
khoảng từ 5 đến 7 cây vàng... lời chán. Tôi bỏ cái vụ thùng quà,
gom góp tiền dành dụm được ba tháng đem “nộp mạng” (?) cho một
văn phòng đại diện hãng Honda Nhật Bản vùng Maryland, giấy tờ ký
xong xuôi, tổng cộng hoá đơn là $1287USD. Trong vòng một tháng
hàng sẽ chuyển từ Nhật về đến Việt Nam, như vậy gia đình tôi sẽ
có ít nhất là 5 cây. “Vợ nhỏ” đánh điện tín cho “vợ lớn” báo tin
và nhắn:
– “Chị nhớ lời anh Út dặn: khi nhận được xe trao
đổi có tiền phải đi tìm mua ngay cái kiềng vàng cho Má, đó là
cái kiềng vàng đính hôn của Má, mà Má đã cho Anh Út để đóng tiền
vượt biên...”.
Chờ một rồi hai ba tháng chẳng thấy tin
từc gì, “vợ lớn” ở Sài Gòn đi vay nợ sống lất lây qua ngày tháng
để chờ cái chiếc xe mắc dịch này tới bến và chắc có lẽ cái tàu
chở chiếc xe Cub của tôi bị chìm mẹ nó ở biển khơi hay bị hải
tặc cướp mất rồi...! Lại mất toi hơn ngàn bạc bằng mồ hôi nước
mắt của mình đem giao cho bọn gian thương lường gạt. Tôi đến văn
phòng đại diện của hãng Honda hỏi sự tình và được biết “Văn
Phòng” đã đóng cửa, không ai biết “nó” đã đi về đâu?! Thật là
thiệt thòi mà! Không có cái ngu nào giống cái ngu nào! Tôi “bị”
ngu đủ kiểu biết trách ai bây giờ? Cho nên tương lai còn bị gạt
dài dài! Mình ngu và đần thì cứ nhận là ngu như vậy! Lần ngu và
bị gạt này gây tai hại tinh thần cho gia đình tôi còn nặng nề
hơn gắp trăm lần cái ngu và bị gạt mấy lần trước!
Sự ngờ
vực và nghi kỵ lẫn nhau trong thân tộc nội ngoại ở Việt Nam cũng
chỉ vì đồng dollar của “khúc ruột ngàn dặm” mà tan vỡ thành từng
mảnh vụn! Bao nhiêu giấy mực để có thể phác hoạ một bức tranh
cho con cháu mình hiểu được sự băng hoại của một xã hội không
còn nhân luân cương thường chỉ vì đồng tiền mà nên nông nỗi: Cha
Mẹ chồng nhìn con dâu với bao nỗi ngờ vực, chị em dâu vay qua
mượn lại không sòng phẳng để anh em cơm ai nấy ăn, nhà ai nấy ở,
có gặp nhau cũng ơ thờ nhạt như bát nước ốc!
Cha Mẹ mong
đợi tin tức của tôi, cả nhà reo vui như chợ tết mỗi khi nhận
được điện tín của thằng Sáu, nhưng bên cạnh lại có những giọt lệ
tủi thân âm thầm vì kẻ có người không, kẻ nhiều người ít cũng
chỉ vì cái “xe Cup” không bao giờ cặp bến để người nhận chờ hoài
đi vay tiền trả lãi xài trước, rồi mang nợ. Vậy thì ai gạt ai
đây? Gạt có hệ thống, gạt giây chuyền hàng dọc, hàng ngang,
nhưng khổ nỗi vì thống khổ biết bị gạt mà lau những giọt lệ chấp
nhận bị gạt như hằng vạn cô gái thanh xuân từ những thôn vườn
rời bỏ Mẹ Cha, Anh Em làng xóm hân hoan lên máy bay chấp nhận
kiếp sống của “nàng Kiều” trước mắt là một khoảng trời vô định,
hạnh phúc ở tận chân mây...!
Vào cuối năm 1984... Một hôm
cánh tay trái của tôi bỗng đau buốt tê rần, vài ngày đầu cứ
tưởng trái gió trở trời nên vậy, uống thuốc Advil không bớt nên
phải đi bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ là một người bạn không thân
nhưng quen biết rất nhiều, anh ta là một Bác sĩ Thủy Quân Lục
Chiến (PNV) vừa mới tốt nghiệp và mở phòng mạch tư ở FairFax,
VA. Chồng làm bác sĩ, vợ tính tiền, không hiểu sao hễ cái gì nói
đến tiền là dính ngay đến cái vụ gạt! Check in... bà ta hỏi tôi:
– Anh có bảo hiểm sức khoẻ không?
– Dạ có... hai cái
lận, một là American Express hai là Blue Cross – Blue Shield...
– Tốt... tốt lắm!
Bước vào phòng khám bệnh, chờ
khoảng 10 phút thì hắn bước vào bắt tay hỏi lia chia chuyện bá
vơ rồi bắt đầu hỏi bệnh. Nắn bóp tay chân trái, rồi gắn mấy cái
cục cao su vào ngực tôi với giây nhợ lòng thòng (EKG) trông có
vẻ là một phòng khám bệnh “hại điện” rồi hắn bắt đầu mở máy “nổ”
giải thích bệnh trạng của tôi với nửa tiếng Việt nửa tiếng Anh
với âm điệu Khờ–me nghe điếc con rái...! Và với một hũ thuốc
Tylenol về nhà, tay vẫn còn y nguyên đau nhức dữ dội! Tôi phải
xin nghỉ việc vài hôm rồi gắng đi làm trở lại, vì gắng quá sức
nên một hôm tôi phải vào bệnh viện cấp cứu vì cánh tay trái
không còn cử động được nữa! Vào bệnh viện FairFax, được bác sĩ
Mỹ chẩn bệnh xong, Ông ký rẹt rẹt năm ba tờ giấy gì đó, hai
tiếng đồng hồ sau y tá đẩy giường bệnh của tôi đi làm Scan Xray
đốt xương sống C7. Tôi vào phòng mổ sáng ngày hôm sau. Cuối cùng
mọi sự an toàn, và tôi trở lại làm việc bình thường một tuần sau
đó.
Một tháng sau nhận được cái bill $3897 USD từ Blue
Cross Blue Sield đã thanh toán cho văn phòng thằng “Bác sĩ” PNV
miệt vườn ăn lường nói gạt, (không phải của Bệnh Viện Mỹ) lại
thêm một cái bill tôi phải trả riêng cho “nó” thêm $450USD. Tức
cành hông, tôi ngây thơ gọi điện thoại gọi cho văn phòng “Bác
sĩ” PNV khiếu nại và được vợ “nó” trả lời:
– Vâng thưa
Ông... Đúng, đó là chi phí cho lần khám bệnh của Ông vừa rồi.
Mẹ kiếp “nó” chỉ có rờ tay rờ chân, làm cái test EKG mà gần
5000 dollars mất không tới 15 phút, Tôi tức giận gọi điện thoại
cho văn phòng Bác sĩ Louis check lại và được trả lời:
–
Vâng thưa Ông... ca mổ của Ông đã được thanh toán tốt đẹp. Không
có gì Ông phải quan tâm.
Bác sĩ Việt Nam như tên PNV trị
bệnh, tiền mất tật vẫn mang!
Bác sĩ Mỹ... Tiền chưa mất
đã hết bệnh...!
Trong văn hoá Việt Nam, Cụ Trương Vĩnh Ký
có viết: “Người Việt Nam ta cái gì cũng cười”! Nếu bây giờ Cụ
sống lại chắc có lẽ Cụ phải sửa lại là: “Người Việt Nam ta ngày
nay cái gì cũng gạt cũng lừa”! Từ một tên tiểu thương bán vải
quần áo, đến một “đại gia” với những công ty liên hành tinh, đến
một “Bác sĩ” cũng gạt người! Vậy thì: Luật Sư, Trí Thức, Khoa
Bảng, Công Hầu Khanh Tướng, Đảng Phái, Đảng Bè, Chính Khách,
Chính Phủ: Đào Minh Quân, Nguyễn Hữu Chánh, Lê Minh Đảo, Nguyễn
Xuân Vinh, Nguyễn Ngọc Bích, hai ba cái Cộng Đồng Người Việt
Quốc Gia vũ trụ... liệu có gạt người hay lại bị người gạt hay
không? Cho nên tôi bị gạt cũng chỉ là lẽ bình thường và rất
thường!
Mỗi lầm lỡ là thêm lần đau khổ! Biết vậy làm sao
và làm thế nào khi trí khôn của “người” có giới hạn. Ngoài thế
giới rộng lớn kia có biết bao nhiêu “Đại Nhân” với “Đại Trí” là
“Yếu Nhân Đối Trọng” vẫn bị tang thương bi thảm vì bị gạt đến
nước mất nhà tan! Khi cần chống và ngăn chận khối cộng sản phát
động cuộc cách mạng như làn sóng đỏ đang bành trướng trên thế
giới, “Người Mỹ” đã “chọn” Việt Nam làm chiến trường để “Gạt” và
phân hoá Nga – Tàu. Tổng thống Ngô Đình Diệm là nhân tuyển được
“Thế” của Mỹ đưa về Việt Nam rồi tạo “Lực” thành lập Chính Phủ
nền Đệ Nhất Cộng Hoà để thi hành kế sách đã được hoạch định.
Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát! TT Nguyễn Văn Thiệu
với nền Đệ Nhị Cộng Hoà là giai đoạn tiếp nối. Hồ Chí Minh với
đảng và nhà nước cộng sản Bắc Việt đã “năng nổ” tận sức lực xua
hàng triệu thanh niên “sinh Bắc tử Nam” đã “Giúp” cho “Uncle
Sam” mau chóng thu hoạch thành quả trước thời gian qui định và
cuộc “Bàn Giao” miền Nam cho “Khối cộng sản” qua tay Bắc Việt đã
thực hiện đúng theo qui trình bài bản và cuộc tháo chạy có dự
mưu thành công mỹ mãn, “trang sử Việt Nam đã được giở qua”,
Kissinger lẻo mép:
– “Nước Mỹ còn nợ Việt Nam một cơ hội
thịnh vượng” và “sao chúng không chết ngay cho rồi”...!
Hollywood Part 2: Thắng thế, được đà... Con “gấu Nga” được “Nữ
Thần Tự Do” tiếp móng vuốt sắc bén hung hăng cắn xé từng mảng từ
Nam Mỹ Châu đến Trung Á chí cho đến Phi Châu... và sau những
thực tế phũ phàng giấc mộng “Đại Nga” đã tan tành theo mây khói,
Soviet Union đã rã ra từng mảnh co lại như miếng da lừa! Thế
giới Tây Phương bị gạt, Thiên Triều Roma bị gạt! Nay con “sư tử
Hán” cũng được “nhà đen” sau lưng “Nhà Trắng” gắn móng vuốt sắc
bén nên “hùng cường” hồ bởi cúc cung vắt kiệt sức lao động rẻ
tiền của con dân với nền “kỹ nghệ gia dụng” biến thành mật thành
hoa, thành chỉ tệ, thành dollar cống hiến cho “Nữ Thần” quơ đuốc
chỉ nhà Bank “hảo lớ... hảo lớ” ký thác và đi hia bảy dặm đưa
“thuyền buồm” lấn chiếm biển Đông.
Những diễn tiến chính
trị có khác chi luật tắc và hệ nhân quả ở trường thiên thời gian
và trớ trêu thay bánh xe sau đi vào vết xe trước là định mệnh do
“Nữ Thần Quơ Đuốc” chỉ đường chăng? Phúc và Hoạ thật không
lường! Trên đỉnh cao của Kim Tự Tháp là điểm hội tụ của Trí Tuệ
có thể phóng viễn kiến vào vũ trụ để tìm kiếm gì khi nhân loại
tưởng là thật văn minh mà vẫn còn “ăn thịt” nhau, tân kỳ nhưng
man rợ, các đấng giáo chủ đã “trăn trối” nhiều lời “chân lý” mà
sao con người hôm nay như đang “mùa” khủng hoảng đức tin, mọi
giá trị tốt đẹp xây dựng con người đang phải xét lại và bị thách
đố trước phù hoa vật chất. Còn phải có bao nhiêu cuộc cách mạng
nữa để con Người sống hạnh phúc hài hoà với nhau? Như vậy, cả
thế giới này bị gạt. Thì xá gì tôi bị gạt, nhỏ quá nhầm nhò gì
ba cái lẻ tẻ mà hèn mọn một đời người, thế giới này có lắm người
đại trí, còn riêng tôi phải biết nói năng gì:
Chúng ta từ
đâu đến cuộc đời này?
Như côn trùng hoang thiếu cánh...!
Bới móc kiếm ăn trong niềm vinh, nỗi nhục!
Tìm được gì năm
tháng rớt quanh đây?
Buổi chiều nhìn nắng vàng qua cửa
Phút thanh xuân thoáng đã tà huy. –(TGĐ)
Tôi tự nhủ thầm: Kệ mẹ, ai nói chi thì nói, mình cứ để cho bị gạt. Chỉ mong được
nhảy ra khỏi đáy giếng không còn là con ếch nữa mà trở thành con
gì cũng được, miễn sao không là “ếch ngồi đáy giếng là được”.
Cái “ngu” triệt để của tôi là ở chỗ đó có khác người không? Đáng
tiếc!
HẾT
MĐ Trương Văn Út
(Út Bạch Lan/E22)




thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày
thứ
Sáu, December 12, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH