
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tài liệu
biên khảo
Chủ đề:
sông ngòi vn
Tác giả:
Thái Công Tụng

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
1. Tổng quan
Tưởng cũng nên biết là
vài trăm ngàn năm trước, nhiều châu thổ ngày nay, từ Âu sang
Á, đều nằm trong những vùng biển cạn. Tiểu bang Florida,
tiểu bang Louisiana xưa kia cũng nằm dưới biển. Bờ biển cổ
không phải là bờ biển ngày naỵ. Châu thổ của sông Hồng cũng
vậy. Thực vậy, xưa kia, trái đất đã trải qua nhiều thời kỳ
băng giá và xen kẽ là những thời kỳ tan băng: thời kỳ thứ
nhất gọi tên là Günz (từ 600,000 năm đến
540,000 năm trước), thời kỳ thứ hai có tên là Mindel
(từ 480,000 năm đến 430,000 năm), thứ ba là Riss
(từ 240,000 năm đến 180,000 năm trước), và cuối cùng có tên
là Würm (từ 120,000 năm đến 10,000 năm
trước). Như vậy, mỗi thời kỳ băng giá lâu đến cả trăm ngàn
năm và giữa hai thời kỳ băng hà lại có một thời kỳ tan băng,
nước băng hà tan chảy ra.
Vào các thời kỳ băng hà thì
nước co cụm lại trong các tảng băng dày nên nước biển co rút
lại: đó là lúc biển lùi (biển rút,
biển thoái). Đặc biệt vào cao điểm của thời kỳ băng
hà lần cuối cách nay 20,000 năm, toàn bộ
miền Bắc nước Mỹ, toàn xứ Canada ngày nay, vùng Siberia, Bắc
Trung Hoa cũng như Bắc Âu kể cả Pháp, Đức... đều bị băng giá
bao phủ, bề dày cả chục km! Lúc đó, mực nước biển
sụt xuống 120 mét (–120m) so với
cao độ biển hiện nay (0 mét). Đó là thời điểm người Bắc Á
Châu lội qua eo biển Behring vốn nối liền
Siberia và Alaska, và là tổ tiên các bộ lạc đầu tiên định cư
xứ Canada này.
Khi băng hà tan, cách nay chừng 17 hay
18,000 năm, thì mực mước biển dâng cao tương đối nhanh chóng
(biển tiến).
Cách nay 11,000 năm,
thời Holocen sớm, mực nước biển còn ở mức
–55 mét.
Cách nay 6,500 năm đến 5,000 năm, vào thời
Holocen giữa, mực nước biển còn ở mức –20
mét và từ từ tiến lên, đạt mực biển như hiện nay
0 mét vào khoảng 5,000 năm trước.
Như vậy, mọi châu thổ đã từng trải qua nhiều lần: Khi
biển tiến, lúc đó diện tích đất châu thổ bị
thu hẹp lại. Khi biển lùi, lúc đó diện tích
đất châu thổ nới rộng ra.
Khi biển tiến vào châu thổ
thì người Việt cổ phải di cư lên vùng cao hơn như vùng Trung
Du (Phú Thọ, Hoà Bình...) và chính vùng này là nơi các vua
Hùng dựng nước. Biển tiến vào châu thổ kéo theo sự lắng tụ
các trầm tích biển ở các trũng thấp, và cùng với phù sa nước
sông, hình thành môi trường nước lợ (brackish water) với
rừng thực vật ngập mặn mọc trên đó, tạo thêm điều kiện khiến
châu thổ chóng trầm tích hơn. Song song theo đó, lại có phù
sa sông ngòi bồi đắp mỗi năm nên các bồi tích tại châu thổ
sông Hồng ngày nay vừa có nguồn gốc sông, vừa có nguồn gốc
biển. Nhiều vùng ven biển thuộc tỉnh Thái Bình, Ninh Bình
chỉ cách đây vài trăm năm vẫn còn là biển nhưng với quá
trình bồi tụ, các bãi lầy ven biển được phù sa bồi đắp dần,
cộng thêm sức chinh phục biển bằng cách quai đê lấn biển,
đắp đê ngăn nước mặn, lấp trũng, khai phá như vài vùng duyên
hải Hoà Lan đã làm. Làng Kỳ Bá ở ven thị xã Thái Bình ngày
nay, vào thế kỷ thứ 10, còn là cửa biển nên có tên gọi là
“Kỳ bố hải khẩu”. Phố Hiến (thị xã Hưng Yên ngày nay) xưa
kia là cửa biển, buôn bán sầm uất nên có câu truyền tụng: “Thứ
nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”... Sử sách và ký ức
truyền lưu bao đời người kể rằng vào thời hưng thịnh, thế kỷ
XVII–XVIII, thương cảng này đã từng đón bao thuyền buôn đến
từ Trung Hoa, Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp, và xứ Đàng
Trong...
Như vậy, trong tiến trình thành lập châu
thổ, trầm tích phù sa cổ (pleistocène) nằm dưới trầm tích
phù sa mới (holocène), với phù sa biển dưới sâu và phủ dày
lên trên là phù sa sông.
Những đồi núi sót
trong châu thổ vốn là những hải đảo cũ và các dải
cồn cát trong lòng châu thổ chính là các dấu vết của các
bờ biển cổ. Thực vậy, chỉ trừ tỉnh Thái
Bình không có núi còn tất cả các tỉnh khác của châu thổ Bắc
Bộ đều có địa hình núi đồi xen kẽ châu thổ.
Đồng bằng
sông Hồng dễ bị lụt nên từ đời nhà Lý, đã xây đê trị lụt. Hệ
thống đê điều toàn vùng đồng bằng đã khiến cho sự bồi đắp
không đồng đều; thực vậy, bề mặt nhiều nơi còn lồi lõm... Từ
lúc xây đê, sông Hồng đổ phù sa trên cửa biển, thay vì trên
đất liền, do đó trong vùng châu thổ vẫn còn nhiều nơi trũng
như tại Hà Bắc và Hà Nam Ninh... Cũng cần nói thêm ở đây là
chính nhờ lượng phù sa rất lớn mà tốc độ tiến ra biển các
vùng duyên hải như Kim Sơn, Tiền Hải rất nhanh, có nơi mỗi
năm bồi ra biển từ 80–100m.
2. Sông ngòi
Sông ngòi miền Bắc Việt Nam thường được phân chia theo
hai hệ thống: hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình.
Hệ thống sông Hồng với các dòng sông nối liền là sông
Chảy, sông Lô, sông Gầm, sông Đà; còn hệ thống sông Thái
Bình gồm các sông như sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam.
Toàn bộ hai hệ thống này tạo nên châu thổ sông Hồng với diện
tích là 14,800km² và bằng 4.5% diện tích cả nước.
2.1
Hệ thống sông Hồng
Sông
Hồng: bắt nguồn từ bên tỉnh Vân Nam (Trung Hoa) và
chảy vào lãnh thổ Việt Nam ở Lào Cai theo hướng Tây Bắc–Đông
Nam qua thành phố Hà Nội, rồi đổ ra Biển Đông ở cửa Ba Lạt.
Chiều dài tổng cộng là 1,160km trong đó phần chảy trên đất
Việt nam là 556km. Vì sông có chảy qua một vùng sa thạch đỏ
ở thượng nguồn nên phù sa có màu hồng, nên thường gọi là
sông Hồng. Sông này còn gọi là sông Thao như trong bài hát
của Đỗ Nhuận.
“Hồng
Hà mênh mông trôi cát tới chân làng quê
Cuối sông nhiều
bến ai về có thấy
Làn gió xanh rì bát ngát đồng lúa...
ven bờ đê
Hồng Hà trôi xuôi đưa nước trên ngàn về khơi
Sông Thao ngoài bến Việt Trì
Có những chàng áo nâu về say
mê dòng nước... vui tràn trề”.
Sông Hồng có hai phụ lưu chính là sông Đà và sông Lô. Ở
khúc quanh sông Đà có những ngọn núi cao như Ba Vì (1,250m).
Núi Ba Vì gần Sơn Tây là hai địa danh đã được nhà thơ Quang
Dũng bất hủ hoá như sau:
“Em
ở Thành Sơn chạy giặc về,
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt,
Chiều xanh không thấy
bóng Ba Vì”.
Sông Ðà: cũng khiến người ta mơ đến một
chốn đầy cổ tích và thi vị mà nhà thơ Vũ Hoàng
Chương gặp được:
“Ai
đem xáo trộn sầu kim cổ,
Trăng nước Ðà giang, mộng Liêu
Trai...”
Tuy sông Đà là một nhánh của sông Hồng, nhưng đó là con sông
lớn nhất miền Tây Bắc. Trong thực tế, tổng lượng nước hàng
năm của sông Đà đã góp đến gần một nửa tổng lượng nước của
cả hệ thống sông Hồng gộp lại. Sông Đà với địa hình thích
hợp nên có nhiều tiềm năng thuỷ điện nên hiện nay đã có 3
đập thủy điện lớn ở Lai Châu, Sơn La, và Hoà Bình, mỗi đập
có công suất trên dưới 2,000 megawatt. Các đập thuỷ điện này
giúp tạo điện lực, trữ nước để tưới cho các vụ lúa ở đồng
bằng hạ lưu và còn giúp cắt các trận mưa lũ lớn. Riêng tỉnh
Hoà Bình có nhiều suối nước khoáng nóng, với nguồn nước phun
lên ở nhiệt độ 36˚C, tại Kim Bôi mà nhạc sĩ
Tô Hải đã nhắc trong bài hát:
“Ai
về sau dãy núi Kim Bôi
Nhắn giùm tim tôi chưa phai mờ,
Hình dung một chiếc thắt
lưng xanh
Một chiếc khăn màu trăng trắng,
Một chiếc
vòng sáng long lanh
Với nụ cười nàng quá xinh”.
Sông Đà và núi Tản đã được một nhà thơ tiền chiến dùng
làm bút hiệu: đó là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, nổi danh với
bài Thề non nước. Ngọn Tản viên là ngọn cao nhất của dãy núi
Ba Vì. Ông đã có bao vần thơ tuyệt bút viết về chốn quê này.
“Vì ai cho tớ phải
lênh đênh,
Nặng lắm ai ơi, một gánh tình!
Non Tượng
trời cho bao tuổi lẻ,
Sông Đà ai vặn một
dòng quanh?”

Sông Lô: là sông nhánh bên trái
của sông Hồng, bắt nguồn trong tỉnh Vân Nam (Trung Hoa),
chảy vào Việt Nam qua các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, rồi đổ
vào sông Hồng ở thành phố Việt Trì. Đoạn sông Lô chảy trong
địa phận Việt Nam, qua các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang dài
275km. Lưu vực sông Lô là 22,600km². Sông Lô lại do sông
Chảy và sông Gầm tạo nên:
a. Sông Chảy: là phụ lưu
bên phải của sông Lô, chảy qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái,
Phú Thọ song song với sông Hồng. Trên sông Chảy có hồ Thác
Bà và nhà máy thủy điện cùng tên.
b. Sông Gầm: là phụ
lưu bên trái của sông Lô, dài gần 300km, bắt nguồn trên lãnh
thổ Trung Hoa, và nhập vào sông Lô cách thị xã Tuyên Quang
khoảng 7km. Một hồ thiên nhiên lớn là hồ Ba Bể, rộng 6.7km²
nằm trong vùng núi đá vôi, cách thị xã Bắc Cạn 60km, thông
với sông Năng, một phụ lưu của sông Gầm.

Sông
Hồng: có lưu lượng nước bình quân hàng nǎm rất lớn, tới
2,640m³/s (tại cửa sông) với tổng lượng nước chảy qua tới
83.5 tỷ m³, tuy nhiên lưu lượng nước phân bố không đều. Về
mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700m³/s, nhưng vào cao
điểm mùa mưa có thể đạt tới 30,000m³/s. Nước sông Hồng về
mùa lũ có màu đỏ–hồng với lượng phù sa của sông Hồng rất
lớn, trung bình khoảng 100 triệu tấn trên nǎm tức là gần
1.5kg phù sa trên một mét khối nước. Phù sa vừa giúp cho
châu thổ màu mỡ và mở rộng tiến dần ra biển nhưng đồng thời
cũng làm lòng sông bị lấp đầy khiến cho lũ lụt xảy ra và vì
vậy phải có đắp đê hai bên sông để tránh lũ lụt. Mà nạn vỡ
đê thì gây lũ lụt phá hại mùa màng, kéo theo bao nhiêu người
chết, như trong truyện ngắn cảm động “Anh phải sống” của nhà
văn Khái Hưng: “người vợ bị cuốn theo dòng nước lũ nhưng dặn
chồng Anh phải sống để nuôi đàn con thơ dại.”
Sông
Hồng khi chảy vào miền đồng bằng, đã để lại nhiều khúc uốn
cũ (old meander). Một trong những uốn khúc cũ này tạo ra
những hồ sót, trong đó hồ Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm thành
phố Hà Nội là một.
Từ Việt Trì trở ra biển, sông Hồng
có những chi lưu như sau:
Sông Đuống: (canal des
Rapides), dài 65km, nối sông Hồng với sông Thái Bình ở Phả
Lại thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sông Đuống đã được
nhà thơ Hoàng Cầm thi vị hoá trong bài thơ “Bên kia sông
Đuống” (1948):
“Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về
sông Đuống,
Ngày xưa cát trắng phẳng lì”
hoặc:
“Ai về bên kia
sông Đuống,
Có nhớ từng khuôn mặt búp
sen
Những cô hàng xén răng đen,
Cười như mùa thu tỏa
nắng”
Sông Luộc: (canal des Bambous) là một chi lưu
của sông Hồng, chảy sang sông Thái Bình theo hướng Tây–Đông,
làm ranh giới cho các tỉnh Hưng Yên và Hải Dương ở phía Bắc,
và tỉnh Thái Bình ở phía Nam.
Sông Đuống và sông Luộc
nối sông Hồng và sông Thái Bình.
Sông Đáy, cũng là
một chi lưu bên phải của sông Hồng, và chảy trong các tỉnh,
thành Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, và Nam Định với dòng sông
chảy gần song song bên hữu ngạn hạ lưu sông Hồng. Sông Đáy
được nhắc đến trong thơ của Quang Dũng:
“Bao giờ trở
lại đồng Bương Cấn
Lên núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông
Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm
trăng.”
–(Đôi mắt người Sơn Tây)
Đổ vào sông Đáy có
sông Nhuệ, chi lưu của sông Hồng, dài 74km, chảy qua thị xã
Hà Đông, tỉnh lỵ tỉnh Hà Tây.
Sông Nam Định và
sông
Phủ Lý: nối sông Hồng và sông Đáy.
2.2.
Hệ thống sông Thái Bình
Hệ thống này dài 93km, bắt đầu từ khúc Lục
Đầu ở Phả Lại. Gọi là Lục Đầu vì đây là chỗ tập trung của
6
con sông (4 sông chảy vào: sông Cầu, sông Thương, sông Lục
Nam, sông Đuống, và 2 sông chảy ra: sông Kinh Thầy, sông
Bình Than).
Sông Thái Bình: do 3 sông là sông Cầu,
sông Thương, và sông Lục Nam họp nên ngang Phả Lại và đổ ra
biển:
Sông Cầu: (tên khác: sông Như Nguyệt, sông
Nguyệt Đức) dài 290km, bắt nguồn từ vùng núi tỉnh Bắc Cạn,
chảy qua thị xã Bắc Cạn, thành phố Thái Nguyên, các tỉnh Bắc
Giang, Bắc Ninh, Hải Dương rồi đổ vào khúc Lục Đầu Giang ở
Phả Lại. Sông Cầu có lưu vực 3,480km².
Sông Thương:
có chiều dài 157km, diện tích lưu vực: 6,640km² cũng phát
nguyên từ Lạng Sơn, chảy theo hướng Đông Bắc–Tây Nam qua thị
xã Bắc Giang (tên cũ là Phủ Lạng Thương), rồi hợp lưu với
sông Cầu và sông Lục Nam ở thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh,
tỉnh Hải Dương. Do đó, sông Thương là một đường thủy khá
quan trọng vì chở nhiều cây tre, nứa, song, mây, gỗ, dược
liệu, và các lâm sản khác về xuôi với nhịp chèo đò dị biệt:
“Đò ơi! đêm nay dòng sông Thương dâng cao mà ai hát dưới
trăng ngà...”.
Và Bàng Bá Lân có đoạn thơ:
“Em
là con gái Bắc Giang,
Đôi dòng trong đục sông Thương ỡm ờ
Nói cười ra giọng lẳng lơ,
Niềm ăn nét ở xem thừa đoan
trang.”
Tên sông đã được Đặng Thế Phong đưa vào trong
nhạc phẩm “Con thuyền không bến”:
“Lướt theo chiều
gió
Một con thuyền theo trăng trong
Trôi trên sông
Thương
Nước chảy đôi dòng.”
Tại sao gọi là đôi
dòng? Vì có sông Sim [ngòi sim] bắt nguồn từ Thái Nguyên
chảy qua các huyện Hiệp Hòa và huyện Việt Yên đến xã Đa Mai
thì hợp lưu với dòng sông Thương. Nước sông Thương vốn trong
xanh nay có dòng nước đục thêm vào thành ra sông có hai dòng
chảy song song, một bên trong, một bên đục.
Điểm cuối
của sông Thương là thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh
Hải Dương. Đền thờ Trần Hưng Đạo, một danh tướng đời nhà
Trần vào thế kỷ 13 vì đã đánh thắng quân Nguyên, ở Kiếp Bạc
thuộc tỉnh Hải Dương; phía Đông Nam Kiếp Bạc có núi Phả lại,
nay có nhà máy điện cùng tên. Phía Đông Kiếp Bạc là các dãy
núi Côn Sơn vốn có nhiều di tích lịch sử. Nguyễn Trãi (cháu
ngoại của Trần Nguyên Đán) cũng thường ở ẩn tại rặng núi Côn
Sơn.
Sông Lục Nam: bắt nguồn từ Lạng Sơn, thượng lưu
lòng hẹp, gồ ghề, lắm thác ghềnh nên tốc độ dòng chảy mạnh.
Sông Lục Nam và sông Cầu hợp lại để tạo thành sông Thái
Bình. Sông Thái Bình khi chảy qua các địa phương có những
tên gọi khác nhau như: sông Hàm Giang, sông Kẻ Sặt, sông Quý
Cao. Sông Thái Bình chảy ra Biển Đông ở cửa Thái Bình, còn 2
chi lưu lớn Kinh Thầy, Văn Úc chảy ra các cửa Bạch Đằng và
Văn Úc.
Sông Bạch Đằng: còn gọi tên Nôm là
sông Rừng
thường rất nổi tiếng với 3 trận thuỷ chiến:
– Năm 938
với Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán.
– Năm 981 với vua
Lê Đại Hành phá quân Tống.
– Năm 1288: Hưng Đạo vương
thắng quân Nguyên Mông Cổ.
Sông này được ghi lại với
những bài hát như
Bạch Đằng Giang
(Lưu Hữu Phước),
Trên sông
Bạch Đằng
(Hoàng Quý).
3.
Vài vấn nạn sông ngòi miền
Bắc
Nước là một tài nguyên tái tạo vì “nước trôi ra
biển lại mưa về nguồn”. Nước là một tài nguyên tái tạo và
giúp cho con người trong nhiều lãnh vực: kỹ nghệ (năng
lượng, khoáng sản, biến chế), giải trí, nông nghiệp (trồng
trọt, chăn nuôi, nuôi cá), sinh hoạt (tắm, giặt...) nhưng
với dân số đông, kéo theo diện tích đất nông nghiệp trên mỗi
đầu nông dân ngày càng giảm đi thì tài nguyên nước càng ngày
càng trở nên quan trọng khi mà sa mạc hoá đất đai, hạn hán
gia tăng với biến đổi khí hậu, với El Nino càng trở thành
một vấn nạn có tầm vóc toàn cầu. Một vấn nạn là ô nhiễm trên
các dòng sông, là vì dù là ô nhiễm không khí với bụi,
ô
nhiễm đất với mọi hoá chất bảo vệ thực vật thì
đều trôi vào
chỗ trũng, nghĩa là vào sông suối.
3.1.
Ô nhiễm sông
ngòi...
Sau đây là trích đoạn trong báo bên nhà nói
qua về ô nhiễm vài dòng sông miền Bắc:
Lục Đầu Giang,
nơi hợp lưu 6 con sông lớn ở miền Bắc gồm sông Cầu, sông
Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy, và nhánh
chính sông Thái Bình. Từ bao đời nay, ngã sáu sông là nguồn
sống của hàng nghìn hộ dân làm nghề chài lưới, nuôi cá lồng
bè. Nhưng gần đây, các dòng sông bị đầu độc, nghề sông nước
ở Lục Đầu Giang lâm đường tận vận. Mất tiền tỷ chỉ trong một
giờ. Trên khúc sông của Lục Đầu Giang, bên này là thị xã Chí
Linh, bên kia là huyện Nam Sách đều thuộc tỉnh Hải Dương có
hàng trăm hộ dân nuôi cá lồng bè. Cá lăng, cá ngạnh, cá
quất... Tấp nập, đông đúc không thua gì đô thị trên bờ.
Nhiều gia đình có thu nhập khá, nhiều địa phương được khuyến
khích phát triển mô hình nuôi cá lồng nhằm để xây dựng kinh
tế mũi nhọn.
“Ban đầu thấy cá tôm tự nhiên chết từ
thượng nguồn trôi về dạt vào bờ sống chúng tôi cứ tưởng là
dịch. Chưa kịp đưa cá lên hồ để tránh thì thấy các lồng cá
chết nổi ồ ạt như kiểu bị người ta bỏ thuốc độc vào. Con nào
con nấy trắng bụng, máu từ đầu, từ mang ộc ra đỏ lừ cả lồng
bè. Cá nổi đặc lồng, dùng lưới quét không kịp, phải thuê máy
xúc vào đào hố, xúc đi chôn. Chứng kiến cảnh cá chết sạch
chỉ trong nháy mắt, vợ tôi ngất lên ngất xuống, gào khóc kêu
trời, đau thắt ruột gan.” Nguyễn Đức Nho chua chát kể.
Và sau đây là ô nhiễm trên sông Đáy:
“Tình trạng
ô nhiễm của sông Đáy đã hàng chục năm qua, ảnh hưởng rất lớn
đến không chỉ đời sống mà còn cả sự phát triển của nhân dân
nơi đây. Các khu ruộng sau khi bơm nước sông ô nhiễm vào,
năng suất lúa giảm rõ rêt. Lớp bùn đen đọng lại trên mặt
ruộng vài tháng sau vẫn chưa hết.”
Thôn Lam Điền vốn
là “vựa lúa” của xã Lam Điền. Nhiều năm nay, năng suất lúa
đã giảm rõ rệt do phải sử dụng nước ô nhiễm chứa nhiều độc
hại và sâu bệnh. Mặc dù người dân đã áp dụng nhiều tiến bộ
khoa học, kỹ thuật, sử dụng giống mới có năng suất cao nhưng
vẫn không bù lại được.
Nhà anh Vinh cũng có tới 6 sào
ruộng. Anh bảo:
“Trước kia, khi nước sông chưa bị ô
nhiễm, năng suất lúa thường là từ 2 tạ đến 2 tạ rưỡi mỗi sào
nhưng bây gìơ thì giảm rõ rệt, chỉ còn trên dưới 1 tạ, nhà
nào cao thì được tạ rưỡi mỗi sào.”
Anh Vinh cũng cho
biết:
“Nhiều lần thôn và xã đã phản ánh về tình trạng
ô nhiễm này, tuy nhiên vẫn chưa có biến chuyển. Nhân dân vẫn
mong mỏi sớm có biện pháp giải quyết để cứu lấy dòng sông và
trả lại môi trường sống trong sạch.”
Tôi hỏi anh Vinh
rằng tại sao sông Đáy mấy năm nay ô nhiễm kinh khủng thế,
anh ngậm ngùi:
“Tại các làng nghề dọc hai bên bờ sông
xả nước thải ra đầu độc chứ còn tại sao nữa. Vào mùa
cạn, tầm tháng 10 đến tháng 12 là thời cao điểm sản xuất của
các làng nghề phía đầu nguồn, lại trùng dịp mùa cạn, nước
sông đen ngòm như bồ hóng, lội xuống, váng bẩn dính chặt vào
chân. Mùi hôi bốc lên khủng khiếp, bay vào sâu trong làng,
cách đó hàng trăm mét còn ngửi được.”
Chị Đỗ Thị
Bích, bán hàng ngay bên cạnh dòng sông cho biết:
“Sông bây giờ bẩn khủng khiếp. Ngày nào bán hàng tôi cũng
phải bịt kín khẩu trang mà vẫn đau đầu vì mùi hôi bốc lên”.
Chị Bích bảo:
“Trước kia, chỉ khoảng 15 năm thôi,
mọi người vẫn dùng nước sông để ăn, tắm giặt bình thường,
bây giờ thì hình ảnh đó chỉ còn lại như một kỷ niệm đẹp, để
kể lại cho nhau nghe mà nhiều lúc còn không dám tin.”
Và đây là ô nhiễm trên lưu vực sông Cầu:
Lưu vực
sông Cầu tiếp nhận nước thải của sáu tỉnh: Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, và một
phần nước thải của Hà Nội. Nước thải từ luyện kim, cán thép,
khai thác khoáng sản ở hai tỉnh thượng nguồn Bắc Cạn và Thái
Nguyên được thải trực tiếp ra sông Cầu, trong khi đa số các
mỏ khai thác tại lưu vực đều không có hệ thống xử lý nước
thải. Lưu lượng nước thải tại nhiều làng nghề sản xuất giấy,
nấu rượu, mạ kim loại, tái chế phế thải, sản xuất đồ gốm...
cũng lớn và thải trực tiếp vào sông.
3.2.
Ô nhiễm
asen
Ngoài ô nhiễm trên sông nước, nước ngầm cũng
bị
nhiễm asen (arsenic), nhất là tại các vùng Hà Nam, Nam Định;
ở tại đây, mức độ ô nhiễm asen nghiêm trọng như ở Bangladesh
– nơi được đánh giá là có độ ô nhiễm asen cao trên thế giới.
3.3. Tác động hồ thuỷ điện
Sông Hồng chuyên chở
nhiều lượng phù sa, trong chất phù sa đó, có chứa vôi, lân,
đạm nhưng từ ngày có đập thủy điện sông Đà, lượng phù sa
giảm dần do đó trong tương lai, ruộng phải sử dụng phân hoá
học nhiều hơn. Nguồn nước của lưu vực sông Hồng chịu sự tác
động khá lớn các hồ chứa thủy điện của Trung Hoa. Bắt đầu từ
năm 2008 ở sông Đà và năm 2010 ở sông Thao, các hồ chứa thủy
điện đã thay đổi dòng chảy phía hạ lưu. Nó cũng thay đổi chế
độ bùn cát, gây sạt lở, bồi lắng lòng dẫn hạ du, ảnh hưởng
đến hệ sinh thái. Trên các lưu vực quanh các đập thuỷ điện,
xói mòn đất trên các triền núi dốc sẽ gây nạn bùn lắng xuống
lòng hồ, làm giảm tuổi thọ các đập nước.
3.4. Nước
biển dâng lên
Chiều hướng biến đổi khí hậu toàn cầu
với khí nhà kính tăng gia sẽ làm mực nước biển dâng cao, làm
ngập lụt một số đất thấp ven duyên hải, khiến một bộ phận
không nhỏ dân cư vùng thấp ven biển sẽ phải di dời lên vùng
đất cao trong khi hiện nay, mật độ dân số đồng bằng sông
Hồng đã rất cao, trên 1,200 người/km², cao gấp 5 lần mật độ
dân số trung bình Việt Nam. Dân số cao lại gây áp lực trên
tài nguyên thiên nhiên với nước mặn vào sâu, xói mòn bờ
biển, bùn lắng, phá rừng đầu nguồn, tác động lên muông
thú...
4. Kết luận
Sông ngòi đem lại cho con
người nhiều ích lợi, từ thương mại, thủy điện, sinh hoạt,
giao thông vận tải, nhưng với sức ép dân số, con người đã
gây ô nhiễm nguồn nước, phá rừng ngập mặn, bồi lắng lòng
sông, do đó tài nguyên nước cần được quản lý tích hợp
(integrated water management) để điều hợp sử dụng tài nguyên
này trong chiều hướng phát triển bền vững: từ thượng nguồn
với bảo vệ rừng và giảm du canh trong lưu vực, cho đến hạ
nguồn với trồng rừng ngập mặn ven biển để giảm bớt cường độ
xâm nhập triều và song song theo đó, cũng cần có chương
trình điều hoà dân số vì sức ép dân số sẽ ảnh hưởng đến tài
nguyên. Tại các đô thị thì cần kiểm soát được ngập úng và ô
nhiễm, cải thiện hệ thống thoát nước, thu gom nước thải,
giúp tránh được nhiều bệnh truyền nhiễm. Trước kia, nhu cầu
an ninh lương thực đòi hỏi phải sản xuất lúa gạo tại chỗ
nhưng ngày nay, với giao thông vận tải dễ dàng, phải giảm
diện tích trồng lúa tại đồng bằng này vì lúa đòi hỏi nhu cầu
nước và không đem lại cho nông dân nhiều lợi tức bằng các
loại nông sản khác như rau, hoa, quả hoặc dược thảo. Đặc
biệt là rau là một loại hoa màu có nhu cầu tiêu thụ rất cao
tại các đô thị, nhất là với tiến trình đô thị hoá rất nhanh
tại châu thổ sông Hồng, thì cần sử dụng nguồn nước sạch thì
rau sản xuất ra mới an toàn, giúp giảm nhiều chứng bệnh cho
người tiêu thụ.
Thái Công Tụng



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày Thứ Ba, July 22, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH