Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tạp Ghi
Chủ đề:
mùa qh30t4đ
Tác giả: LNTH
Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Người
Lính Công Binh Chiến Đấu QLVNCH
Phạm Vĩnh Ninh (1949–3/1975)
... người chết 2 lần, thịt da
nát tan!!!
Lời Tác giả: Xin tưởng niệm tất cả anh linh của các
chiến sĩ Công Binh VNCH vị quốc vong thân. Đặc biệt tưởng niệm
anh linh Cố Thiếu úy Phạm Vĩnh Ninh CBCĐ VNCH KT69. Kính tặng
quân phụ Phạm Đăng Lân, người lính già kỳ cựu của ngành Công
Binh. Mến tặng tất cả chiến sĩ Công Binh VNCH, đặc biệt các
chiến sĩ xuất thân từ ĐH Kiến Trúc viện Đại Học Sài Gòn. Cám ơn
các anh Nguyễn Thái Hòa KT66 và Nguyễn Hoàng Phố KT69 đã
khích lệ và cung cấp tài liệu giúp tôi hoàn thành bài viết này.
–(Sài
Gòn trong tôi/LNTH).
Sơ
lược về sự thành lập và cơ cấu tổ chức của binh chủng CÔNG
BINH Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Vào năm 1951, ngành
Công Binh được hình thành chỉ với 2 Đại Đội Công Binh Chiến
Đấu mà tên gọi được đặt theo quân khu trực thuộc. Đó là Đại
đội 2 và 3. Các Đại đội 4, 1, 5, và 6 đã được thành lập tiếp
nối sau đó. Vào thời điểm này, tầm hoạt động của Công Binh
Việt Nam còn nằm trong phạm vi của Công Binh Pháp. Theo thời
gian và thuận theo đà phát triển của quân vụ, ngành Công
Binh đã khuếch trương từ cấp Đại Đội lên Tiểu Đoàn rồi Liên
Đoàn. Năm 1964 Bộ chỉ huy binh chủng Công Binh chính thức
mang tên
Cục Công Binh Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa.
Liên Đoàn Công Binh Việt
Nam Cộng Hòa, vốn là một Lực lượng Tổng trừ bị, được phân
chia làm 4 loại chính:
1. Liên Đoàn Công
binh Chiến Đấu (LĐCBCĐ) được trang bị nhẹ và di
động hơn so với Liên Đoàn Công binh Kiến Tạo. Nhiệm vụ của
họ là hỗ trợ cho Quân Đoàn/Quân Khu tái thiết và phục hồi
những “hệ thống giao thông chiến lược” nhằm mục đích bảo đảm
an toàn và thông suốt cho sự di chuyển, tiếp liệu của quân
lính cũng như giao thông và phân phối thực phẩm của dân
chúng. Được gọi là “Hệ thống giao thông chiến lược” gồm tất
cả các đưòng và cầu thuộc Quốc lộ 1, 2, 3, 4, Liên tỉnh lộ,
các bến phà, các phi trường, các đài Radar, Truyền Tin, v.v.
Nhiệm vụ này càng có tính cách cấp thiết hơn tại những nút
giao thông quan trọng thí dụ như các bến phà miền Tây.
LĐCBCĐ chịu sự điều động chánh của Quân Đoàn.
2.
Liên Đoàn Công binh Kiến Tạo (LĐCBKT) được
trang bị với cơ gìới hạng nặng, yểm trợ cho Quân Đoàn trong
việc xây dựng những hệ thống giao thông chíến lược nêu trên
với tầm vóc quy mô hơn. Ngoài ra còn đảm nhiệm xây cất hoặc
sửa chữa những căn cứ, cơ sở quân sự, khu gia binh. LĐCBKT
chịu sự điều động chánh của Cục Công Binh.
Cả 2 Liên
Đoàn này còn làm công tác dân sự vụ như xây trường học, cơ
sở tôn giáo.
3. Công Binh Sư Đoàn
được trang bị nhẹ, chỉ ở tầm vóc Tiểu Đoàn, do Sư Đoàn
điều động để yểm trợ mọi công tác xây dựng và tái thiết
trong lãnh thổ trách nhiệm.
4. Sở Tạo Tác
không sở hữu quân lính và cơ giới, có nhiệm vụ thiết kế và
kiểm soát các chương trình xây dựng trong Quân Khu.
... Tôi vẫn còn nhớ rõ hình ảnh và giọng nói của anh Ninh
như vừa gặp anh ngày hôm qua. Nước da đen không hiểu vì bẩm
sinh hay vì dầm nắng khi phải lái xe Honda mỗi ngày từ Bình
Dương lên Sài Gòn để đi học ở trường Kiến Trúc. Anh ăn chay
trường, lời lẽ rất thành thật mộc mạc, không hàm ý, không
thủ cẳng, rộng rãi, vị tha. Vào năm 1970 hay 1971, khi tôi
và anh Nguyễn Hữu Dũng (KT69) lên Bình Dương, anh dẫn chúng
tôi đến cái căn phố nhỏ làm nhà in của Ba anh và qua thăm
cái vườn trái cây của gia đình anh ở phía bên kia cầu Phú
Cường. Đi trên cây cầu beton rất cao mới xây ấy, chúng tôi
thấy ở phía dưới cầu nhiều dãy nhà to lớn xây cất từ thời
Pháp với cách kiến trúc giống như trường Văn Khoa hay là
bệnh Viện Grall. Đó là trường Công Binh mà tại nơi đây nhiều
anh em Kiến Trúc đã và sẽ được thụ huấn về phóng cầu, đặt
gỡ mìn bẫy, sử dụng cơ giới.
Mùa hè 1972, nhiều anh
em Kiến Trúc gia nhập Quân Đội do lệnh tổng động viên. Khi
đi quân trường Đồng Đế, Anh Ninh ăn mặc những bộ quân phục
phát sẵn te tua và chỉ sống nhờ ăn 2 bữa trường kỳ menu
độc nhất. Vì ăn chay không thể ăn món cá mối chiên bột nên
anh chỉ ăn độc nhất món canh bí. Sau khi thụ huấn xong ở
trường Công Binh, anh phục vụ Liên Đoàn 20 Công Binh Chiến
Đấu tại địa bàn Pleiku, Kontum thuộc Vùng 2 Chiến Thuật.
Cùng khoá với anh Ninh có nhiều anh em KT khác như anh Đỗ
Bá Khoa–KT66 (Phòng 3 Bộ Tham Mưu Liên Đoàn), anh Nguyễn văn
Hồng–KT68 (TĐ 201), Nguyễn Bửu Hữu Chí–KT66 (TĐ 202), anh
Nguyễn Thái Hoà–KT66 (Ban 3/TĐ 203), anh Huỳnh Hiếu
Thuận–KT68 (ĐĐA/TĐ 203), anh Nguyễn Gia Thắng–KT69 (ĐĐ Biệt
Lập Cầu Nổi 217)....
(Trích thơ anh Nguyễn Hoàng
Phố KT69 viết cho thân hữu đồng môn nhắc đến những kỷ niệm
về anh Phạm Vĩnh Ninh)
Vào
truyện...
Có những người lính, mà phần đóng góp và sự hy sinh của
họ trong cuộc chiến tranh Ý–Thức–Hệ Quốc Cộng, bảo vệ nền Tự
Do dân chủ cho tổ quốc Việt Nam Cộng Hòa trước 30/4/1975
không nhỏ. Lúc thì phải san bằng dẹp bỏ những ụ mìn làm ngăn
trở việc giao thông hay quân vận, khi thì xây dựng nhanh
những chiếc cầu nổi để thay thế chiếc cầu đã bị giựt sập bởi
lũ đặc công Cộng sản, lắm khi tùy theo chiến thuật quốc
phòng phải phá hủy căn cứ để ngăn chặn quân địch, v.v. Đó là
chức trách đặc thù của các chiến sĩ thuộc binh chủng Công
Binh, điển hình là Lực Lượng Công Binh Chiến Đấu. Họ dấn
thân, lao vào nơi nguy hiểm để thám sát và xây dựng, nói một
cách khác, lắm khi họ đã dùng máu mình để mở đường cho chiến
hữu các cấp thuộc mọi binh chủng bạn tiến quân, tái lập giao
thông cho dân chúng. Tóm lại, tất cả Quân Dân Cán Chính đều
cần tới họ, nhưng hầu như hình bóng những anh chiến sĩ này
chưa hề thấp thoáng trong các bài viết hay ca khúc nào nhằm
mục đích vinh danh họ.
Với vai trò tiên phuông như
thám sát, mở đường, gỡ mìn, bắc lại cây cầu vừa bị giật sập,
v.v. người chiến sĩ Công Binh, đặc biệt là Công Binh chiến
đấu, đã sát cánh tác chiến cùng các đơn vị bạn. Họ thật sự
đem “thân mình ra trải đường” cho chiến hữu tiến quân.
Trong số các người lính Công Binh này là những chàng
Kiến trúc sư trẻ, sau khi xếp bút nghiên, giá vẽ, họ lên
đường tòng quân, làm tròn bổn phận nam nhi đối với non sông
tổ quốc, chung vai góp sức cùng các chiến hữu trong Lục Quân
của Quân Lực VNCH để bảo vệ và gìn giữ cho lá cờ vàng ba sọc
đỏ được luôn tung bay phất phới giữa nền trời xanh Tự Do Dân
Chủ của Việt Nam Cộng Hòa.
Như các binh chủng khác,
lực lượng Công Binh Chiến Đấu cũng có những hy sinh cao ngút
tận mây xanh, để lại bao thương tiếc cho đồng đội, đồng môn,
thân hữu, và gia quyến... Một trong những hy sinh bi hùng ấy
là Cố Thiếu úy Phạm Vĩnh Ninh. Anh Phạm Vĩnh Ninh đã tử
trận vào giữa tháng 3/1975 bên bờ sông Ba (còn gọi là sông
Đà Rằng hay sông Tuy Hòa) thuộc tỉnh Tuy Hòa.
Mùa hè
đỏ lửa 1972, Cộng sản đã tạo áp lực tấn công dồn dập trên
các chiến trường An Lộc, Quảng Trị, Kontum. Để đáp ứng tình
thế sôi bỏng của chiến trường, tại miền Nam Việt Nam, luật
Tổng Động Viên được ban hành. Chàng sinh viên năm chót của
Đại học Kiến Trúc, Phạm Vĩnh Ninh (KT69) đã cùng hàng ngàn,
hàng vạn các sinh viên thuộc mọi phân khoa khác nhau của
Viện Đại học Sài Gòn đáp lời sông núi, cởi bỏ mảnh áo thư
sinh, chấp nhận vì tổ quốc, khoác lên mình màu áo lính, sống
cuộc đời quân ngũ. Anh đã thụ huấn tại Quân trường Đồng Đế,
Khoá 2 Sĩ Quan Trừ Bị vào năm 1972–1973 và tiếp đó được đào
tạo tại Trường Công Binh Bình Dương (Khoá 273 năm 1973).
Sau khi ra trường, anh về phục vụ tại TĐ 202, Liên Đoàn 20
CBCĐ, Quân Đoàn II, Vùng II Chiến thuật, căn cứ đóng tại Hàm
Rồng, Pleiku.
Tháng 3/1975 là khoảng thời gian đồng
minh đang tháo chạy, tạo bi sử dầu sôi lửa bỏng, mở màn cho
giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh Ý–Thức–Hệ Quốc Cộng
tại miền Nam Việt Nam. Sau khi Ban Mê Thuột và Darlac thất
thủ, cuộc rút quân và di tản dân chúng rời bỏ miền cao
nguyên của vùng II Chiến thuật trên Liên tỉnh lộ 7B xảy ra
vô cùng hỗn loạn và vạn phần nguy hiểm. Phần thì bị Cộng sản
tấn công và pháo kích bừa bãi, phần thì dân chúng mất bình
tĩnh, buông chạy trong tình trạng hoang mang, sợ hãi, và
kinh hoàng vì mọi việc xảy ra quá đột ngột, đã làm cho sự
giao thông trì trệ đến mức độ hoàn toàn tắc nghẽn và ảnh
hưởng trầm trọng đến chiến thuật hành quân và rút quân trong
an toàn. Tất cả những dữ kiện trên đã tạo nên một tình huống
vô cùng đen tối và bi thảm trên Liên tỉnh lộ số 7B từ cao
nguyên Pleiku xuống miền duyên hải Tuy Hòa.
Chính vào
thời điểm này, đơn vị của cố Thiếu úy Phạm Vĩnh Ninh được
giao phó nhiệm vụ thám sát và mở đường cho chiến hữu các
đơn vị bạn cũng như dân chúng rút từ Pleiku qua Phú Bổn để
đến Tuy Hòa. Đoạn đường lịch sử này ghi lại trong lịch sử
triệt thoái khỏi Cao nguyên tháng 3/1975 những hình ảnh bi
thương thấm đẫm máu của rất nhiều Dân Quân Việt Nam Cộng
Hòa, trong đó có máu và xương thịt của Cố Thiếu úy Phạm
Vĩnh Ninh.
Những người còn lại hôm nay đã
thắc mắc và hỏi nhau rằng... “Nó qua được phía bên sông
rồi còn quay trở lại làm chi?” Đúng, anh đã thực sự qua
được bờ bến “khá an toàn”, mà nếu anh là một người úy tử
tham sanh thường tình thì có lẽ anh đã bình yên về tới hậu
cứ. Người ta làm sao có thể hiểu được cái tinh thần trách
nhiệm, danh dự, và đức độ chỉ huy của vị thiếu úy trẻ tuổi
gan dạ và đầy nhiệt huyết này!!!
Thuộc cấp của anh
Ninh đã thuật lại, phần lớn đơn vị anh Ninh đã qua được bên
kia bờ sông Ba (sông Đà Rằng), có nghĩa là có thể rút an
toàn về Tuy Hòa. Trước đó, anh có gọi trực thăng đáp xuống
để tải thương một người bạn đồng môn Kiến Trúc, anh Đồng
Quang Việt (KT69) thuộc ĐĐ643/TĐ64/LĐ6CBKT.
Như trên
đã viết, lẽ ra, anh có thể cùng về hậu cứ bằng trực thăng
tải thương chung với người bạn thương binh này, nhưng anh đã
không làm vậy. Danh dự và trách nhiệm của cấp sĩ quan chỉ
huy đã không cho phép anh làm vậy.
Sau khi chiếc trực
thăng tải thương cất cánh, anh đã đơn thân độc mã quay ngược
lại bờ sông Ba để giúp một số ít các đồng đội binh sĩ thuộc
cấp còn đang bị kẹt lại ở phiá sau. Nhưng đau đớn thay, anh
vĩnh viễn không còn cơ hội thực hiện điều mong ước đó nữa,
vì sau khi chỉ tìm gặp được vài thuộc cấp thất lạc, anh đang
cố gắng truy tìm những người khác thì một hỏa tiễn pháo
kích đã rơi đúng vào xe của anh, kết thúc mộng ước giúp đỡ
chiến hữu thuộc cấp của người chiến sĩ Công Binh ưu tú đó.
Các binh sĩ thuộc cấp của anh không nỡ bỏ mặc xác người
chỉ huy đã vì họ mà hy sinh, nên đã bằng mọi giá, nhất quyết
mang thi hài của anh về cho gia đình như một cử chỉ cám ơn
mà họ còn có thể làm được cho anh lần chót.
Trời
không chiều lòng người nên thuộc cấp của anh cũng đành
đoạn mà buông trôi nghĩa cử ân tình này!!! Oan nghiệt và
trớ trêu thay, chiếc xe Jeep chở xác người lính trẻ Phạm
Vĩnh Ninh lại trúng hỏa tiễn pháo kích thêm lần thứ hai.
Tất cả máu, xương, niềm uất nghẹn, nỗi tủi hờn của anh và
chiến hữu trên xe đã tan tành và tung cao lên tầng mây xanh
thẳm như để hỏi rằng, trời già sao ông lại nỡ oái ăm tạo
cảnh bi ai... người chết 2 lần, thịt da nát tan!!!
Buổi tối trước ngày tử trận, anh Ninh đã nhìn lên trời và
nói với người chiến hữu mà cũng là đồng môn của mình là anh
Nguyễn Gia Thắng (KT69): “Mặt trăng đêm nay sao có màu đỏ
như máu vậy?” (Anh Thắng được trực thăng vận đến sông Ba để
phóng cầu nổi nên đã gặp anh Ninh tại đây). Phải chăng đây
là một điềm báo trước nên anh thấy Trăng màu đỏ, đỏ như máu
của anh ngày hôm sau, như máu của bao nhiêu chiến hữu đã đổ
ra để bảo vệ miền Nam Việt Nam trước sự xâm lăng tàn bạo cũa
Cộng sản miền Bắc.
35 năm đã trôi đi kể từ khi cuộc
tang thương dâu biển xảy tới cho dân miền Nam. Những uất
hận, khổ đau đã được ghi lại rất nhìều trên thơ văn, ca
khúc. Nhưng hình như chưa ai ghi lại nỗi niềm đau khổ của
chính người đã hy sinh nằm xuống, như anh Phạm Vĩnh Ninh,
khi nhìn thấy cảnh phản bội quê hương của những chiến hữu đã
từng sát cánh chiến đấu bên họ, hoặc của những người hậu
phương mà họ đã trả giá bằng mạng sống của chính mình để bảo
vệ an toàn. Chắc phải là vô cùng tức tưởi, và thật là oan
khiên?
Không đâu, bên cạnh những kẻ vô lương tâm ấy
vẫn còn có chúng tôi, vẫn còn những tâm hồn ưu tư nặng gánh
nước nhà. Chúng tôi không quên ơn các Dân Quân Cán Chính đã
xả thân cho non sông Tổ Quốc.
Riêng với anh Ninh,
những người bạn đồng môn không quên anh. Bằng chứng là dù
hôm nay, Bình Dương quê của anh đã hoàn toàn thay đổi, vô
cùng xa lạ so với ngày cũ, dù trong tay không biết địa chỉ,
chỉ dựa vào những chi tiết mù mờ còn vương lại trong ký ức
của những ngày tháng xa xưa, mà họ vẫn tìm ra được gia đình
anh, nơi mà bà Mẹ già trên 90 hiu hắt luôn nhớ thương đứa
con trai vì yêu quê hương, Tổ Quốc Việt Nam từng dấn thân
trong lửa đạn và không được trở về nhà, dù là chỉ trở về
trong cái... hòm gỗ cài hoa.
Sau 35 năm, lần đầu tiên
gia đình đồng môn Kiến Trúc mới thắp được cho anh nén tâm
hương, thăm hỏi, và cầu mong anh yên tâm nhắm mắt.
Ai
có thể cho đó là sự tình cờ? Muôn vạn lần phải là do sự dẫn
dắt của anh, chúng tôi tin như vậy, và với niềm tin này,
chúng tôi cương quyết, cho tới hơi thở cuối của mình, sẽ
vinh danh, làm sáng tỏ gương hy sinh của các anh hùng tử sĩ
Quân Dân Cán Chính Miền Nam Việt Nam đã vị quốc vong thân.
Những giọt máu vì sao đã đổ? Những mảnh đời bởi đâu chịu
tàn phá? Những cuộc sống vì ai bị dày dò trong lao tù Cộng
sản để hôm nay mang bạo bệnh? Những điều này phải được giãi
bày thật rõ cho thế hệ con cháu tiếp nối, giúp cho các cháu
hiểu đúng sự thật của cuộc chiến tranh Ý–Thức–Hệ, vạch rõ
lằn ranh Quốc Cộng. Đó chính là bổn phận mà chúng tôi cần
phải làm để trả ơn tất cả các vị anh hùng vị quốc vong thân
và tàn phế, trong đó có anh, người chiến sĩ Công Binh Chiến
Đấu can trường: Cố Thiếu úy Phạm Vĩnh Ninh (KT69).
LNTH
Quốc hận 2010
08/04/2010
nguồn:
diễn đàn hội quán phi dũng
thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch
|
hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày Thứ Hai, March 31, 2025
tkd Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH