
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự truyện
Chủ đề:
lính kể
Tác giả:
MN Đoàn Trọng Hiếu

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Tưởng nhớ: Cố Đại uý Lê Văn Hiếu, Nguyễn Ngọc
Tỉnh, Cố Trung uý Lê Văn Đức, Thạch Hội Lê Văn Công, Trần Vạn,
Vi Văn Đạt... Cùng những thằng bạn, thằng em khác thuộc Tiểu
Đoàn 52/BĐQ, đã hy sinh hay đã dâng hiến một phần thân thể,
trong những tháng năm rong ruổi chinh chiến đời tôi.
–MN ĐTH

“Tôi
nó sinh ra nhằm chinh chiến mới quen nhau mà lưu luyến...”
Tiếng hát của Hòa Nổ
và Thắng Gấu trong đêm họp mặt tân niên, thật trầm ấm và
cũng thật ray rứt. Ngồi trầm ngâm trước ly bia sủi bọt, khi
mà ngoài kia từng cơn bão tuyết đang đổ xuống vùi dập thành
phố, thì trong lòng tôi, cơn lốc dĩ vãng của một thời chinh
chiến lại hiện ra, nhạt nhòa nước mắt. Tôi muốn uống thật
nhiều, thật say, uống cho những thằng bạn, thằng em đã nằm
xuống cho cuộc chiến hôm qua, cho những thằng hôm nay còn
đang sống đọa đày tủi nhục trong nước, cho những thằng giấc
mộng không thành, đời mãi long đong nơi đất khách quê
người.....
– Uống đi tụi bây Hải, Khanh, Sam, Thành,
Hiếu, Sơn...
– Ê! Đắp mô hả Hiếu, nên nhớ là BĐQ vì
dân chiến đấu, vì nước hy sinh, vì đế bỏ mình, vì tình bỏ
mạng nghe mày.
– Cho tao qua tua, đêm nay còn đi
kích, ngày mai mình uống tiếp.
Vâng, mai uống tiếp,
hay chẳng bao giờ gặp lại anh em để uống nữa. Vì biết đâu
đêm nay, tao hay chúng mày, có đứa sẽ rửa chân leo lên bàn
thờ ngồi.
Những âm thanh, hình ảnh thân thương hỗn
độn của gần 30 năm về trước như sống lại, tưởng chừng như
mới hôm qua.....
Ngày ấy, sau khi vồ xong được cái
phần 2 để trở thành “cậu tú kép”, còn đang lang thang, chưa
định hướng. Nhiều thằng bạn học trước đây đã lần lượt ra đi.
Rồi hung tin cũng lần lượt bay về. Thằng Chiểu, bạn thân năm
đệ nhị Lê Bảo Tịnh, sau hai kỳ đạp vỏ chuối, bèn ca bài “rớt
tú tài anh đi trung sĩ”. Sau khi mãn khoá ở Đồng Đế, nó về
Đại Đội Trinh Sát Hắc Báo, Sư Đoàn 1. Hơn 3 tháng sau, anh
nó gặp tôi bảo: “Chú Hiếu ơi! Chiểu nó chết rồi!” Thằng Hiển
học với tôi năm lớp nhất, nhưng nó lớn hơn tôi 4 tuổi. Năm
65 vào Hải Thuyền, rồi mất tích ở Năm Căn. Khang trên tôi
hai lớp thì vào khoá 1 Biên Tập Viên Cảnh Sát. Ngọc “tây
lai” thì thất tình với một bà sơ tập sự. Vì bà yêu Chúa hơn
yêu nó, nên đâm đầu vào Không Quân để làm “giặc lái”. Thành
“ba lém” sau mấy năm than câu “học tài thi phận” rồi khăn
gói ra Đồng Đế về Lực Lượng Đặc Biệt, sau theo học khoá sĩ
quan đặc biệt rồi về Trinh Sát 2 Dù, hy sinh tại Đam Be cuối
năm 71. Tôi đi tìm thăm nó lúc ở Đam Be nhưng không gặp. Gần
tháng sau, nhân lần về phép, khi xe Jeep chạy ngang nhà nó,
tôi tạt vào thì đã thấy hình nó trên bàn thờ. Thắp cho nó 3
cây nhang và đọc vài câu kinh xong, tôi thầm nói với nó: “Mẹ
mày, ông đi tìm mày không gặp, ai ngờ mày đã leo lên bàn thờ
từ bỏ anh em rồi”.
Cuối năm 67, Định rủ tôi đi khoá
24 Võ Bị. Nhưng nghĩ tới 4 năm quân trường, tôi ngán ngẩm từ
chối. Mậu Thân nổ ra, rồi tổng công kích đợt 2, Hùng, Lượng,
và tôi tình nguyện vào Thủ Đức. Sau 6 tháng ngủ gà ngủ gật
trên các bãi tập, rồi cũng đến cái ngày “Quỳ xuống các
ngươi, đứng dậy các tân sĩ quan”. Đeo cái quai chảo vào cổ
áo, 13 thằng về Biệt Động Quân. Sau 7 ngày phép, chúng tôi
được phân về 4 Quân Khu. Tôi về Liên Đoàn 3 và được phân về
Tiểu Đoàn 52, tiểu đoàn em út của binh chủng, nhưng bề dầy
chiến tích lại thật lẫy lừng, qua các trận Đồng Xoài, Suối
Long, Kim Hải, với biệt danh “Sấm sét miền Đông”. Đa số anh
em sau này dù có thuyên chuyển đi đâu, họ vẫn tự hào là “dân
52”.
Ngày trình diện Tiểu Đoàn, người đầu tiên tôi
gặp là Đại uý Hồng Khắc Trân, sĩ quan Ban 3. Ông chuyển lệnh
của Tiểu đoàn trưởng, phân tôi xuống ĐĐ4 với lời căn dặn:
– Đ.mạ! Tướng mi cũng chịu chơi, đánh đấm cho đẹp nghe
em.
Tôi là thằng đàn em nhỏ nhất trong số hơn một tá
sĩ quan Trung đội trưởng lúc đó, nên còn được gọi là “Hiếu
nhỏ” hay “Hiếu Bắc kỳ”, để phân biệt với thằng Lê Văn Hiếu,
khoá 25 TĐ bên ĐĐ1, cùng Tiểu Đoàn. Với các cuộc hành quân
qua các điạ danh Sóc Con Trăng, Tây Ninh, Bình Long, Long
Khánh, các mật khu Mây Tào, Hắc Dịch, Hố Bò, v.v. hay về
vùng ven đô với Rừng sát, Lý văn Mạnh, hoặc vào sâu trong
những khu rừng rậm của chiến khu D. Tôi học tập dần để
trưởng thành, vì mọi cái đều xa lạ với những cái tôi đã học
ở quân trường. Hoặc vì ngủ gà, ngủ gật mà tôi đã không áp
dụng đúng câu “thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ
máu” khiến cho những ngày đầu ở đơn vị, đã có những chuyện
cười ra nước mắt. Như chuyện tôi tháo cây Colt 45 ra lau
chùi, rồi không biết ráp lại, tôi đã nhét vào ba–lô cả
tháng. Đặc biệt cái tọa độ chuẩn đã làm cho tôi bị anh Ngô
Văn Niếu (Khoá 20 ĐL) giũa thê thảm. Số là vừa về đơn vị
được 2 ngày, tôi dắt Trung Đội 2, khoảng gần 20 người hành
quân lục soát dọc theo đường mòn “bà Ngô đình Nhu” ở Sóc Con
Trăng thì chạm địch. Lần đầu tiên thử lửa quả tình là thật
lúng túng và có phần hoảng hốt, Trung uý Niếu bảo tôi cho
biết là đang ở đâu. Tôi lắp bắp đọc luôn tọa độ 6 số, chẳng
biết là có đúng không, tôi nghe anh hét lên trong ống liên
hợp:
– ĐM! Anh đang ở đâu với con Lan? (Tên một tọa
độ chuẩn).
– Trình non nước là tôi đang đụng chứ có ở
chỗ con Lan nào đâu.
Càng giận hơn, anh hét lên trong
máy, nhưng tôi chỉ còn nghe rõ mấy câu sau:
– ... Anh
tốt nghiệp từ trường Nữ quân nhân hả?
Sau lần đó, tôi
được Thiếu uý Sam (K24 TĐ) cho thọ giáo để học thêm ít chiêu
vỡ lòng và truyền cho một số bí kíp tiếu ngạo giang hồ. Đồng
thời cũng không quên một câu nhắc nhở:
– Đừng làm mất
mặt dân Thủ Đức nghe mày.
Cuộc chiến nào mà không có
mất mát. Trước sự sàng lọc khắc nghiệt của cuộc chơi, Hùng
K26TĐ, gãy nát tay ở Sóc Con Trăng. 2 tháng sau, về ven đô,
con nhà Quý Đen K26TĐ, bị cụt hai chân ở gần cầu Rạch Chiếc,
đối diện nhà máy xi măng Hà Tiên. Và cũng chỉ vài ngày sau,
Thiếu uý Thạch Hội K23TĐ, đạp phải mìn, chết cách chân cầu
xa lộ không đầy 500 mét. Đúng là đi sông, đi biển không
chết, về nhà sụp lỗ chân trâu. Hôm đi gác xác nó ở nhà xác
Tổng Y Viện Cộng Hòa, người yêu của nó, cái cô bé học trò ở
họ đạo Bến Cát, Gò Vấp, đã khóc hết nước mắt. Hai đứa thề
non hẹn biển, cuối năm nay, khi thằng Hội được biệt phái
giáo chức về nhiệm sở cũ, chúng nó sẽ lấy nhau. Ước vọng nhỏ
nhít, nhưng cũng là cuộc đời lớn nhất. Vậy mà cũng chẳng
thành, để rồi âm dương cách trở.
Giữa năm 69, tôi
thuyên chuyển sang ĐĐ3. Sau khi mãn khoá 40 Rừng Núi Sình
Lầy, tôi trở về đơn vị, đúng là lúc chuẩn bị cho các cuộc
hành quân sang Kampuchia. Khởi đi từ ngày 29/3/70, cùng với
Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ, chúng tôi đã tiến như chẻ tre sang
Kampuchia. Từ Ba Thu, đại bản doanh của MTGPMN, đến Mỏ Vẹt,
rồi Krek, Mimot, Kamponcham, Svay Riêng, các trận đánh long
trời lở đất, tại các vùng rừng cao su Mimot, Chup,
Peamcheng. Sang đầu 71, chiến trường chuyển sang chiều hướng
khốc liệt hơn. Khi mặt trận Hạ Lào đang diễn tiến thì ở
Kampuchia, hai Liên Đoàn 3 và 5 BĐQ, cùng với Lữ Đoàn 3
Thiết Kỵ tiến vào Đam Be. Tại đây VC đã tập trung 3 công
trường 5, 7, và 9 bao vây nhằm tấn công tiêu diệt chúng tôi
tại bờ sông Mê–kông. Nơi thung lũng Đam Be, Thiếu tá Sanh,
Tiểu đoàn trưởng TĐ 30/BĐQ đã tử trận. Thiếu tá Ron, Thiết
đoàn phó Thiết Đoàn 15 cũng đã hy sinh. Khi Tướng Đỗ Cao Trí
tử nạn thì cũng là lúc bọn chúng tìm cách dứt điểm.
Phải thành thật mà nói là Tướng Nguyễn Văn Minh lên thay
Tướng Trí, chức vụ Tư lệnh Quân Đoàn 3, ông không đủ khả
năng để điều động một cuộc hành quân táo bạo như vậy, nên
ông đã lúng túng, khiến các đơn vị trở nên bị động. Cuối
cùng, thay vì tiếp tục tiến về phía trước, ông đã ra lệnh
lui quân. Đêm trước ngày lui quân, B52 đã oanh tạc vào một
đoạn đường không đầy 1km, giữa vị trí của B52 và 36. Rạng
sáng, hàng chục phi tuần F104 từ hàng không mẫu hạm bay vào
phối hợp với các phi tuần F5 của Không lực VNCH, từ Tân Sơn
Nhứt và Biên Hòa lên. Sau cùng, 2 Tiểu Đoàn Pháo Binh 64 và
46 trừ bị của Quân Đoàn, tác xạ tối đa vào mục tiêu, tưởng
chừng con kiến cũng không sống sót nổi. Đại Đội 3/52 của
chúng tôi đi đầu, vừa chạm tay được với ĐĐ1/36 của Đại uý
Nhân. Khoảng 11:00g sáng, theo lệnh hành quân, thì tại đây,
chúng tôi bố trí lại, để Liên Đoàn 5 dẫn đường bằng ĐĐ5TS
của Đại uý Nam, tiếp tục lui quân theo thế chân chim. Nhưng
rồi đạn pháo từ khắp nơi bay đến, địch từ các địa đạo, hầm
hố cách không đầy 50 mét và trên các ngọn cây thốt nốt đồng
loạt khai hỏa. Trong tình thế “ngũ bề thọ địch” này, chúng
tôi đã anh dũng chống trả, quật ngã hết đợt xung phong này
đến đợt xung phong khác. Những cây đại liên 30 và 50 trên
các xe M113, không kịp thay nòng súng, vì quá nóng, đạn đã
rớt ngay trước đầu xe. Bên cạnh tôi, Chuẩn uý Khổng Hữu Lực
vừa ra trường được hơn 2 tháng, sau vài phút hoảng hốt của
lần chạm súng đầu tiên, đã lấy lại được bình tĩnh, rồi như
say mùi thuốc súng, nó đã “tả xung, hữu đột”, củng cố lại
được Trung Đội, cây M16 trên tay nó rung lên từng chập. Rồi
bất thần, tôi thấy nó đứng thẳng người lên, tay tiếp tục
siết cò, miệng la lớn: “ĐM chúng mày! Giỏi thì tiếp tục xung
phong, tao cho chúng mày đi chầu Diêm Vương hết”. Nó như con
hổ non háu đói, chồm lên về phía trước, tôi chỉ kịp la lên:
“Lực, nằm xuống!” Nhưng không còn kịp nữa, một loạt đạn AK
đã cày nát ngực nó. Tôi ra lệnh cho hai Trung Đội bắn che
tối đa, rồi cho kéo nó ra phía sau. Nhưng nó đã đi rồi. Bỏ
xác nó vào thùng xe M113, tôi nói như để cho nó nghe: “Mày
chơi đẹp lắm, không hổ mặt dân Bắc kỳ Hố Nai”. Phía ĐĐ5
Trinh sát đã bị trộn trấu. Anh em đã chiến đấu bằng lựu đạn
và lưỡi lê. Thấp thoáng chỉ còn thấy ít đồ bông, lẫn trong
cháo lòng và ka–ki Nam Định. Địch quá đông, gấp 5, gấp 10
lần. Nhưng mãnh hổ vẫn địch lại quần hồ. Sau gần 4 giờ tử
chiến bất phân thắng bại, địch đã phải rút lui, còn chúng
tôi cũng phải lùi về vị trí cũ. Tôi bị 1 mảnh đạn ghim vào
bắp chân trái, sâu khoảng 4cm, giờ mới thấy đau, Tắc người y
tá của Trung Đội dùng cây kéo ben nhổ ra. Đổ vào một ít
alcool, quấn vội chiếc băng cá nhân, rồi dìu tôi cùng số anh
em còn lại, nương theo các xe M113 rút về vị trí cũ. Trung
Đội bị 4 chết, 8 bị thương, và 3 mất tích, chỉ còn lại tôi,
Thành Sún mang máy truyền tin, Trung sĩ Quân, Khẩu Đội đại
liên M60, và Hạ sĩ Tắc y tá.
Trời bắt đầu xẩm tối.
Hành động gan dạ và quả cảm của Trung tá Đồng, Thiết đoàn
trưởng Thiết Đoàn 15, đã làm cho chúng tôi vô cùng cảm động
và thán phục. Ông yêu cầu anh em BĐQ cùng Thiết Đoàn của
ông, trở lại trận tuyến, để mang các anh em chết và bị
thương còn kẹt lại ra. Chúng tôi bốc ra được gần 300 anh em,
trong đó có Hạ sĩ Khách và Binh nhì Vang của Trung Đội tôi
bị thương nặng. Quang cảnh trận địa thật hãi hùng. Số xác VC
bị bỏ lại lên đến vài ngàn. Sau này dường như Cố vấn Mỹ tiết
lộ, theo tin tức tình báo từ không ảnh, số VC chết lên tới
ngót 6000. Dĩ nhiên, Tiểu Đoàn chúng tôi cũng bị thiệt hại
nặng. Số tử trận ngót 100, số bị thương gần 200 người. Suốt
đêm đó, mặc dù địch tiếp tục pháo, nhưng các chuyến Chinook
vẫn đáp xuống bổ sung đạn dược và đưa các anh em chết hay bị
thương về.
Sau trận này, Hải, Khanh, xin về Dục Mỹ.
Sam, Nghĩa, Thành đi làm Đại đội trưởng Biên phòng. Sơn bị
thương nặng giải ngũ. Chỉ còn tôi và Hiếu lớn ở lại. Hiếu
thăng cấp trung uý lên làm Đại đội trưởng ĐĐ1. Còn tôi,
khoảng tháng 4/71, vì bất hòa với Trung uý Cơ, ĐĐT, nên cũng
thuyên chuyển về ĐĐ1, làm ĐĐP cho Hiếu lớn. Ít ngày sau,
Trung uý Cơ cũng được thay thế bằng Trung uý Tỉnh ở 36
chuyển qua.
Đầu tháng 6/71, căn cứ Alfa do Tiểu Đoàn
30 trấn giữ bị địch vây kín đã gần nửa tháng. Mấy ngày trước
ĐĐ3/52 của Trung uý Tỉnh, cùng với Chi Đoàn 2/18 Sao Bắc
Đẩu, của Trung uý Phi Điểu tiến vào tăng cường vòng ngoài.
Sau mấy ngày quần thảo quanh căn cứ, vì áp lực địch quá
nặng, nên phải triệt thoái ra. Trên đường triệt thoái, xe
Phi Điểu bị trúng B40 và nó đã hy sinh. Tiểu Đoàn với 3 Đại
đội còn lại, được lệnh giải tỏa Alfa bằng mọi giá. Chuẩn uý
Mạnh nhận sự vụ lệnh về nhiệm sở mới, nhưng vẫn xin ở lại
đánh trận sau cùng. Đúng 4:00g sáng, rời tuyến xuất phát
cùng với Chi Đoàn 1/8 Chiến xa M41 và Chi Đoàn 3/18 của Đại
uý Đức, tôi đi cùng xe với Thiếu uý Nhiều Thiết Giáp. Nhiều
sau tôi 2 khoá, tôi đã sang ĐĐ62 của nó để làm huynh trưởng
hướng dẫn lúc ở Thủ Đức. Trước khi cho lăn xích sắt, Nhiều
nói với tôi:
– Hôm nay Thiếu uý Hiếu coi Thiếu uý
Nhiều đánh giặc, không đẹp không lấy tiền.
Nhiều nổi
tiếng đánh giặc lì lợm, nên anh em thường gọi nó là “Thiếu
uý Liều”. Chúng tôi tiến quân bằng hai cánh. ĐĐ1 đi với 2
Chi Đội bên cánh phải. ĐĐ4 đi với 2 Chi Đội của Chi Đoàn
3/18 bên cánh trái. ĐĐ2 và BCH Tiểu Đàn đi với Chi Đoàn
Chiến xa. Chúng tôi tiến quân rất thận trọng, vì biết chắc
rằng địch đang chờ chúng tôi ở một nơi nào đó. Tờ mờ sáng đã
thấy căn cứ Alfa nằm trên Đồi 46 ở trước mặt. Anh em
TĐ30/BĐQ trong căn cứ đang vẫy tay mừng. Đoàn xe từ từ bò
lên đỉnh đồi cỏ tranh, đã bị cháy vì bom đạn trong những
ngày vừa qua, tạt trái về hướng Đông–Bắc. Mục tiêu nhắm đến
là bìa rừng cao su ở phía trước. Khoảng cách thu hẹp dần,
800m, rồi 700m, 600m... Bỗng đùng một cái, hàng ngàn tiếng
nổ chát chúa ở ngay trước đầu xe. Không đầy 50 mét, bọn VC
nhô người lên khỏi giao thông hào thi nhau nhả đạn. Tôi thấy
rõ những cây B40, B41 đang rà theo các xe M113 và phóng đi.
Một trái bay vọt qua đầu xe, thật hú hồn. Xe Trung uý Hiếu
bị trúng đạn, 3 thầy trò nó văng khỏi xe, tôi hét vào tai
Nhiều:
– Mày thấy nó chưa, bảo chúng nó bắn thấp
xuống.
Tôi toan nhảy xuống xe thì Nhiều đã dùng gót
giày nhắp nhắp vào cổ viên tài xế như ra hiệu, miệng hét
lớn:
– Đ.M xay nó.
Như hiểu ý ông thầy, chiếc
xe chồm lên lao thẳng vào phòng tuyến VC, ngang dãy giao
thông hào. Bằng một động tác thật điêu luyện như người biểu
diễn mô tô bay, viên tài xế kéo cần lái bên trái lên. Chiếc
xe quay ngang, để lọt lằn xích bên phải xuống làm chiếc xe
nghiêng hẳn sang bên phải. Tôi vội bám chặt vào pháo tháp
của cây 50. Chiếc xe cứ nằm nghiêng như vậy mà chạy trườn
tới, cày nát một khúc giao thông hào khoảng mấy chục thước.
Những tiếng rú khủng khiếp, xen lẫn tiếng gầm của máy cùng
tiếng nổ của lựu đạn do chúng tôi ném ra, tạo nên sự kinh
hoàng trên phòng tuyến của VC. Sự việc diễn ra chỉ hơn 1
phút, nhưng quả đây là một phút để đời. Rồi chiếc xe vượt
lên khỏi dãy giao thông hào, chạy lùi về phòng tuyến. Còn
chiếc xe của Trung uý Hiếu bị trúng đạn, có lẽ vì viên tài
xế khi chết chân vẫn còn đạp ga, nên chiếc xe cứ thế chạy
thẳng về phía trước, ủi vào hàng cao su rồi bốc cháy. Một
chuẩn uý, hai xạ thủ đại liên, viên tài xế, và một BĐQ đã
chết theo xe. Tôi nhảy xuống xe, lệnh cho các Trung Đội phân
tán mỏng, để tránh thiệt hại, rồi chạy thẳng về phía Trung
uý Hiếu. Nó bị sức ép quá mạnh, đẩy văng ra khỏi xe, may
không bị miểng nào, chỉ bị tức. Hiếu lấy tay xua tôi ra,
hiểu ý, tôi lôi Bảo và Thành, hai người hiệu thính theo. Tôi
gặp Đại uý Đức, Chi đoàn trưởng, yêu cầu cho Thiết Giáp khai
hỏa tối đa, không cho bọn chúng ngóc đầu khỏi giao thông
hào. Vì đã thấy chúng chỉ có giao thông hào và hàm ếch, nên
chúng tôi dùng lựu đạn tấn công thật chính xác vào phòng
tuyến của chúng. Bằng cách đánh này, không đầy 10 phút sau,
hỏa lực chống trả của chúng yếu dần. Tôi yêu cầu Thiết Giáp
ngưng tác xạ và dắt hai Trung Đội xung phong. Những tiếng
hô: “xung phong”, “Biệt động! Sát” vang cả một góc rừng cao
su vọng lại. Bọn VC còn sống sót quá sửng sốt, há hốc miệng,
chưa kịp phản ứng đã lãnh gọn những viên đạn, đưa tiễn chúng
về chầu bác đảng. Trung uý Hiếu đã cùng với anh em xung
phong và ở bên cạnh lúc nào tôi không biết, tôi quay sang
bảo nó:
– Sao mày không nghỉ ở đàng sau?
Nó
trả lời:
– Tao sợ mày điên lên rồi nướng thằng Mạnh,
nên phải chạy theo, nhưng thấy mày chơi có bài bản nên để kệ
mày làm.
Kiểm điểm chiến trường. Thật không ngờ, 52
tên bị hạ sát tại trận, 1 bắt sống, tịch thu một 57ly, 8 B40
& B41, gần 40 khẩu AK đủ loại, toàn bộ một C của cộng quân
bị diệt gọn. Tổn thất của BĐQ và Thiết Giáp được coi là quá
nhẹ. 6 chết, gần 20 bị thương, cháy mất một xe M113. Cánh
quân bên cánh trái, bọn VC bung hầm hố bỏ chạy, để lại 16
xác. Bên BĐQ, Đại uý Minh, ĐĐT và một số anh em bị thương.
Tối hôm ấy, còn đang nằm trên trận địa thì đài giải phóng nó
đã loan tin: “Sáng hôm nay MTGPMN và nhân dân giải phóng Khờ
Me, đã tiêu diệt toàn bộ TĐ52 quân biệt động ngụy Sài Gòn
cùng Thiết Đoàn xe bọc thép mang số 18”. Tôi buột miệng chửi
thề: Tiêu cái con c... bố. Đúng là bố láo như vẹm.
Vài ngày sau, tôi được bổ nhiệm sang ĐĐ4, giữ chức ĐĐT, thay
thế Đại uý Trương Thanh Minh. Gặp lại đám em út ngày xưa,
Trung sĩ 1 Thóc, Trung đội phó giờ là thường vụ Đại Đội,
Thượng sĩ Lữ, Trung sĩ Bá, Trung sĩ Cưu, v.v., và đặc biệt
là Thường trọc, thằng em mang máy truyền tin giờ đã là hạ sĩ
1. Một bữa tiệc linh đình được bày ra. Gồm ít con khô sặc
được xé nhỏ trộn với xoài xanh và nước mắm ớt cùng một bình
5 lít, để đánh dấu ngày “châu về hợp phố”, giữa bữa tiệc
Trung sĩ Cưu nhắc lại:
– Thiếu uý nhớ không, ngày mới
ra trường, ông thầy nhắp một nắp bi đông đã chạy, giờ ông
thầy làm 7, 8 nắp vẫn tỉnh queo.
Nói rồi hắn chiêu
một nắp vào miệng, xúc xúc mấy cái rồi la to:
– Thiếu
uý Hiếu muôn năm.
Tôi cười pha trò:
– Thôi đi
cha nội, bộ muốn tôi mang thiếu uý muôn đời Lục Quân Việt
Nam sao?
Tình cảm của lính thật chân thật và cái vui
của lính cũng thật đơn giản như vậy đó.
Cuối năm 71
ấy, Tiểu Đoàn đi học bổ túc tại Dục Mỹ và ăn tết ở đó. Trước
ngày trở về, Hạ sĩ Tạ Tơ, thuộc Khẩu Đội 81/BCH Tiểu Đoàn,
đột nhiên xuống tìm tôi và nói nhỏ:
– Thiếu uý ơi! Kỳ
này về Tiểu Đoàn mình đụng nặng lắm. Đại đội trưởng chỉ còn
mình ông thầy, tôi coi bài thấy vậy nên cho ông hay.
Không quan tâm đến, nên tôi chỉ bảo hắn:
– Mày mồm
miệng ăn mắm ăn muối, đừng bố láo, Thiếu tá Dậu ổng nghe,
ổng đá mày bỏ mẹ!
Về đến hậu cứ, 3 ngày xả trại quá
nhanh. Tối hôm đó, cũng như thường lệ, chúng tôi từ giã vợ
con cũng như bao lần trước. Rất bình thường như người công
chức già, leo lên chiếc xe Mobylette, sáng đi trưa về, cũng
vẫn những câu nói thường lệ: “Anh đi ít ngày anh về”. Ít
ngày đây có thể là một đôi tuần, hay vài ba tháng. Tôi cũng
đã từng khi chia tay thì con mới được 3 ngày... Lúc trở về
con đã biết bò. Chiếc xe Jeep đang nổ máy chờ ở đầu ngõ. Đeo
dây ba chạc vào rồi vội vàng:
“Giã nhà đeo bức chiến
bào,
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu”.
Trực chỉ về
hậu cứ ở Thanh Hóa, Hố Nai, để kiểm điểm binh mã đợi nửa đêm
sẽ xuất chinh sang lại Kampuchia. Nơi đây, Lữ Đoàn 3 Kỵ binh
đang chờ chúng tôi, để cùng nhau vào Kampong Trabek. Lúc này
đụng độ lẻ tẻ liên tục hầu như mỗi ngày. Địch quân đang tìm
cách cầm chân chúng tôi ở chiến trường ngoại biên để chúng
có thể chuyển quân vào nội địa, chuẩn bị cho những trận đánh
lớn. 3 Liên Đoàn BĐQ 3, 5, và 6 chúng tôi đang ở vùng Mỏ
Vẹt. Sư Đoàn Dù ở Lưỡi Câu. Còn Sư Đoàn TQLC ở vùng bến phà
Neak Luông. Quả như dự đoán, cuối tháng 3/72, cộng quân đã
bắt đầu tạo áp lực lên Bình Long, Kontum, và Quảng Trị. 3
Liên Đoàn BĐQ được lệnh giao vùng lại cho Sư Đoàn 25 và được
phân đến 3 mặt trận. Liên Đoàn 5 ra Quảng Trị. Liên Đoàn 6
đi Kontum. Liên Đoàn 3 chúng tôi vào An Lộc, Bình Long. Đúng
12:00g trưa ngày mồng 6 tháng 4, Đại Đội tôi được hân hạnh
leo lên 12 chiếc trực thăng đầu tiên nhảy vào An Lộc. Rời
căn cứ Suối Đá ở Tây Ninh, bay ngang qua Dầu Tiếng, nhìn xa
xa thấy đỉnh Bà Rá còn phủ trong lớp sương mù. Vừa đặt chân
xuống sân bay An Lộc, cộng quân đã chào đón chúng tôi bằng
vài chục trái 107 và 122.
Thành phố Bình Long như một
thành phố chết, không một bóng người ngoài đường. Các cửa
nhà, cửa tiệm đều đóng kín mít. 1 chiếc xe của ty Thông tin
chạy qua lại với chiếc loa phóng thanh, đang yêu cầu đồng
bào sinh hoạt trở lại bình thường, vì đã có các chiến sĩ
Liên Đoàn 3 BĐQ, đến để giữ an ninh. Ngày hôm sau, một số cơ
sở kinh doanh đã mở cửa lại. Tôi đã ghé vào một quán cà phê
để tận hưởng ly cà phê cuối cùng, nghe Khánh Ly hát nhạc
Trịnh Công Sơn trước khi thành phố này trở thành đống gạch
vụn. Chiều hôm đó, ĐĐ3 được lệnh trấn giữ Đồi Gió. ĐĐ4 chúng
tôi giữ Đồi 165, nằm giữa Đồi Gió và khu Quản Lợi do ĐĐ1
phòng thủ.
Đêm 7 tháng 4 quận Lộc Ninh thất thủ, các
Trung đoàn 9/SĐ5 và 52/SĐ18 đang bị chận đánh ở ngã ba Bù
Đốp.
Đêm 8 tháng 4, ĐĐ3 bị địch tấn công và chiếm mất
một phần Đồi Gió. Sáng ngày 9/4, tôi được lệnh tăng cường
cho Trung uý Tỉnh, để lấy lại ngọn đồi bằng mọi giá, vì đây
là ngọn đồi chiến lược, nằm ở phía Đông Nam thành phố. Dưới
sự yểm trợ của Không Quân, khoảng giữa trưa, chúng tôi đã
đánh bật được chúng ra khỏi các công sự và làm chủ lại toàn
bộ ngọn đồi này.
Đêm 9/4, sau hơn 20,000 trái đạn đủ
loại pháo vào Bình Long, khoảng 3:00g sáng, cộng quân tung
chiến xa và bộ binh tấn công từ mọi hướng. Phòng tuyến phía
Bắc do Trung đoàn 8/SĐ5 và Tiểu Đoàn 31/BĐQ bị lủng. Phòng
tuyến phía Tây bị co lại đến “tiểu lộ ái ân”, nơi có tượng
Ki–tô Vua và nhà thờ Bình Long. Phòng tuyến phía Nam do các
Tiểu Đoàn Địa Phương Quân trấn giữ đã bị tràn ngập. Riêng
phòng tuyến phía Đông, do Tiểu Đoàn 36/BĐQ trấn giữ khu Sóc
Gòn và TĐ52/BĐQ trấn giữ từ Quản Lợi đến Đồi Gió là còn đứng
vững. Nhờ sự can đảm và hy sinh của Đại uý Tâm, ĐĐT/ĐĐ1/36
BĐQ, khi địch dùng chiến xa và dùng biển người để tấn công
vào phòng tuyến, ông đã kiên cường chống trả. Trước khi bị
địch tràn ngập, ông đã yêu cầu Không Quân dội bom ngay lên
phòng tuyến. Hành động này đã bẻ gãy mũi tấn công ở phía
Đông, khiến hơn 10 chiến xa bị bốc cháy và hàng trăm cộng
quân bị giết. Nhưng Đại uý Tâm và nhiều anh em ĐĐ1 đã vĩnh
viễn ở lại với đất Bình Long. Tuy chiến xa địch đã tiến vào
thành phố, chiếc chiến xa gần hầm của Tướng Hưng bị bắn
cháy, đã lấy lại tinh thần cho chiến sĩ các đơn vị. Sau
nhiều đợt phản công, các chiến sĩ Sư Đoàn 5 và TĐ31/BĐQ đã
đẩy lui địch qua phía bắc của “Đại lộ Hoàng hôn”.
Ngày 10/4 Trung Đoàn 7/SĐ5 và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù,
được trực thăng vận đổ xuống phía chân Đồi Gió để vào tăng
cường.
Ngày 11/4 Lữ Đoàn III Nhảy Dù vào tăng cường,
bàn giao phòng tuyến lại cho Tiểu Đoàn 6 Dù. Chúng tôi được
lệnh kéo vào thành phố. ĐĐ1 của Trung uý Hiếu được lệnh
chiếm lại dãy phố bên trái ngã tư “Đại lộ Hoàng hôn”, và
Quốc lộ 13. Đại Đội tôi tiến chiếm dãy trường Tàu Quốc Quang
bên tay phải. Sau khi nhổ xong hai cái chốt bên hông, chúng
tôi tiến vào trường Quốc Quang. Ngôi trường 4 tầng lầu, tràn
ngập xác chết nằm ngổn ngang, ước chừng gần 200 xác, đa số
là dân chúng. Một vài xác anh em quân nhân cùng chạy vào
lánh nạn với vợ con. Để lại 1 Trung Đội chốt tại dãy nhà bên
cạnh, tôi mang phần còn lại của ĐĐ về phòng thủ dọc theo dãy
cống bên kia đường. Đêm 11 rạng sáng 12/4, lại một đợt pháo
khủng khiếp hơn lần trước, gần 30,000 trái đạn đủ loại, được
chia đều cho một diện tích không đầy 1 cây số vuông. Nếu
chia đều cho những anh em tử thủ tại đây, mỗi người cũng
được 5 trái. Gần 4:00g sáng, các loạt đạn 100ly, trực xạ từ
các chiến xa vừa tiến vào, vừa bắn như chỗ không người. Đoàn
chiến xa 8 chiếc T54, có bộ đội tháp tùng, chạy từ phía Tây
sang phía Đông, trên Đại lộ Hoàng hôn (Đại lộ Trần Hưng Đạo)
ngang qua công viên Tao Phùng, đã bị Pháo Binh nằm tại đây
trực xạ tiêu diệt hết 7 chiếc. Chiếc còn lại chạy đến chỗ ĐĐ
tôi thì bị lãnh 2 phát M72 khựng lại. Vài anh em đã leo lên
xe, ném vào mấy trái lựu đạn, tiêu diệt nó.
Đoàn
chiến xa từ phía Bắc, chạy dọc xuống theo Quốc lộ 13, thấy
một chiếc đã bị cháy ngay ngã tư, biết không xong, chúng
dừng lại bắn tứ tung rồi chui vào ẩn trong các căn nhà hai
bên đường. Thêm một lần tiền pháo hậu xung bằng chiến xa của
chúng bị bẻ gãy, nhưng Tiểu Đoàn bị thiệt hại nặng. Trung uý
Tỉnh, ĐĐT/ĐĐ3 hy sinh. Trung uý Trường ĐĐT/ĐĐ2, Thiếu uý
Đức, và nhiều binh sĩ khác bị thương nặng. Phía ĐĐ4 chúng
tôi thì Thiếu uý Nghị bị gãy chân, 3 binh sĩ hy sinh, trong
đó có thằng em thân tín của tôi. ĐĐ1 bị nặng hơn, toàn bộ
dàn cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan đã hy sinh hoặc bị thương
nặng. Tổng số thương vong đã trên 20 chết, gần 20 bị thương.
Việc tải thương bây giờ thật khó khăn, họa hoằn mới có 1
chiếc trực thăng lọt qua được giàn lưới phòng không đáp
xuống. May mắn cho Trung uý Trường và Thiếu uý Nghị được tải
thương kịp. Số anh em còn lại đều được chữa trị tại BV Tiểu
khu. Vừa thiếu thuốc men, vừa bị pháo liên tục, nên số tử
vong càng tăng cao. Tôi cũng bị mất thêm 3 binh sĩ trong
trường hợp này.
Dường như lực lượng Thiết Giáp của
cộng quân bị thiệt hại nặng, nên từ sau đêm 12/4, chúng đã
rúc vào sau những căn nhà, không thấy ngo ngoe nữa. Nhưng
hằng đêm, các mũi đặc công vẫn tìm cách đột nhập, tấn công
vào phòng tuyến chúng tôi. Những chiếc dù tiếp tế đã được
thả xuống, lương khô và đạn dược được chúng tôi tự phân phối
lấy, hoặc trao đổi lẫn với nhau. Từ đơn vị này với đơn vị
khác, ĐĐ tôi được lệnh thay thế vị trí của ĐĐ1 để ĐĐ1 rút về
Ty Chiêu hồi. Tôi cho củng cố lại hệ thống phòng thủ, đào
giao thông hào trên nền nhà, dùng các thùng gạo sấy thay bao
cát. Tôi cho lật tôn bịt lại những lỗ tường vỡ để tránh sự
quan sát của địch. Những đêm trời tối đen, tôi lệnh cho toán
quan sát săn chiến xa trên lầu 3. Cứ vài phút lại cho ném ra
1 trái lựu đạn, hoặc dùng súng cối 60, cho bắn không “sạc”,
từ phía trước nhà ra phía sau để ngăn ngừa bọn chúng lén đột
nhập. Vì đã có 2 lần chúng bò sát vào đến chân tường, bị
chúng tôi phát giác. Hàng chục trái lựu đạn được tuôn qua lỗ
châu mai. Lần đầu 4 tên chết tại chỗ, lần sau 7 tên, báo hại
chúng tôi lại phải lôi chúng vào rồi đào lỗ chôn tập thể bên
cạnh nhà. Đã mấy lần cùng phối hợp với ĐĐ3/81 BCD, tìm cách
bung ra, nhưng đều bị đánh bật vào, bởi hỏa lực của chiến xa
T54, chỉ cách chúng tôi hơn 100 mét.
Đêm 18 tháng 5,
lại một đợt pháo cường tập như hai lần trước và gần 4:00g
sáng. Đoàn chiến xa lại băng qua những căn nhà đổ nát, hung
hăng vừa bắn, vừa tiến. Lần này, chúng phối hợp với bộ đội
ăn ý hơn, nhưng chúng tôi cũng có nhiều kinh nghiệm hơn. Đợi
cho chúng tiến tới sát ngang hông nhà, chúng tôi dùng lựu
đạn và vũ khí cá nhân tiêu diệt đám bộ binh. Đồng thời tổ
săn chiến xa do TS1 Bá, người hạ sĩ quan 19 tuổi đời, 1 tuổi
lính, đã sẵn sàng giáng xuống thật chính xác những trái M72
từ trên lầu 3, khiến chiếc PT.76 chỉ rú lên một tiếng, rồi
bốc cháy và phát nổ. Bá gọi xuống báo cáo, nghe ở ngoài rõ
hơn trong máy:
– Tôi rang nó rồi, Minh Hiếu.
–
Kỳ này tao sẽ chạy cho mày cái lon thượng sĩ đeo cổ cho nó
hách. Nhắc em út cẩn thận, coi chừng còn những chiếc khác từ
phía Đồi Đồng Long xuống.
Phía ĐĐ3/81BCD cũng hạ 1
T54 ngay trên tuyến phòng thủ. Riêng phòng tuyến ĐĐ1/52 của
Trung uý Hiếu bị hai chiếc chiến xa chọc thủng. Đám VC tràn
sang. Tôi cho mang thêm 2 cây M60 lên lầu 2 để ngăn cản
nhưng vô hiệu. Đại Đội 1 đã phải bỏ phòng tuyến và thế là
sau lưng tôi bị bỏ trống. Tôi chưa kịp rút tổ chiến đấu 4
người dưới lỗ cống bên kia đường về thì đã bị tấn công từ
sau lưng. Hạ sĩ 1 Thương và Binh 1 Vân bị thương nặng. Phải
mất hơn 1 giờ chúng tôi mới kéo được 4 anh em về. Nhìn
Thương và Vân đang bắt chuồn chuồn, kinh nghiệm cho biết khó
qua khỏi. Tôi bảo TS1 Thóc đi đào hai cái hố ngang hông nhà,
rồi ngồi nhìn tụi nó đi. Gần 1 giờ sau, tờ giấy vấn thuốc
không còn phập phồng nữa. TS Tắc, y tá báo cho tôi biết tụi
nó đã đi. Hai hàng nước mắt chảy xuống, tôi vừa định đứng
lên thì Thường trọc báo tin Trung uý Hiếu vừa tử trận. Thật
là “phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Vừa nhìn hai thằng
em ra đi, lại được tin bạn thân tử trận. Tôi chạy lên lầu 2,
ôm cây M60 nhả đạn như mưa sang phía bên kia đường: “Đ.M tao
bắn chết mẹ chúng mày hết”. Mắt tôi như mờ đi. Câu nói của
Tạ Tơ hôm ở Dục Mỹ, ngỡ là dị đoan mà lại ứng nghiệm như vậy
sao!!! Thiếu tá Dậu gọi tôi bảo:
– Hiếu nó đi rồi,
mày liệu mang con cái nó về ở với mày. Chiều hôm đó, Thượng
sĩ Đông dắt hơn 20 anh em còn lại của ĐĐ1 đến. Ổng nói với
tôi:
– Trung uý Hiếu ổng liều quá, bị chúng chiếm mất
phòng tuyến, ổng tức chịu không nổi nên ổng đã xách cây M16
rồi lôi thằng Thành Sún mang máy xông thẳng vào bọn chúng và
bị chết ngay trên phòng tuyến không kéo xác về được.
Hơn nửa tháng sau, tôi nhổ được cái chốt ở phía sau lưng,
rồi nhờ Biệt Cách Dù yểm trợ, tôi cho ĐĐ càn sang, đánh bật
chúng ra khỏi Ty Chiêu Hồi thì xác Trung uý Hiếu đã nát bét.
Tôi cho gói gọn lại vào tấm poncho, chôn ở chỗ BCH/Liên
Đoàn. Sau chỗ này được chỉnh trang lại thành nghĩa trang của
Liên Đoàn 3/BĐQ.
Khoảng ngày 10/6, các đơn vị đồng
loạt phản công. Bên phải tôi là TĐ36/BĐQ. Bên trái là
ĐĐ3/81BCD. Chúng tôi tiến như chẻ tre. Các cán binh VC ngơ
ngác, hoảng hốt không kịp bỏ chạy hoặc đầu hàng. Chẳng cần
đếm xác lượm súng nữa, chúng tôi cứ tiến. Đến 5:00g chiều ĐĐ
tôi đã làm chủ lại sân bay An Lộc. Tại đây, tôi tìm thấy
Chuẩn uý Tôn Thất Minh, thuộc TĐ74/BĐQ biên phòng và một bé
gái 6 tuổi, còn hơi thoi thóp thở, người gầy đét, da xanh
như tàu lá chuối. Họ từ Lộc Ninh chạy về đến đây đã hơn hai
tháng, nằm hứng chịu bao bom đạn, kể cả bom B52, ăn toàn cỏ
và lá cây cùng uống sương. Vậy mà họ vẫn sống sót, thật quả
là phép lạ.
Đầu tháng 7, sau khi đẩy lui bọn cộng
quân đến gần cầu Cần Lê, thì được lệnh bàn giao vị trí lại
cho Liên Đoàn 5/BĐQ vừa từ Quảng Trị về. Chúng tôi được trực
thăng vận về Lai khê, rồi trực chỉ xuống Phước Tuy, nghỉ 1
ngày sau đó hành quân giải tỏa Bình Ba, Bình Giã, như Đại uý
Khuê đã viết trong số báo trước. Rồi lại ngược về giải tỏa
Hưng Lộc, Dầu Giây, xuống Trảng Bom nhổ chốt khai thông Quốc
lộ 1, tăng cường cho LĐ81 vào chiến khu D, tham dự trận Búng
ở Lái Thiêu. Tôi gặp lại Đức Hòa ở Búng, ông vừa thăng cấp
thiếu tá ở Quảng Trị. Ông cho tôi biết Thiếu uý Nhiều đã tử
trận trên đường từ Tha La về Bến Sỏi. Xe nó bị trúng B40.
Tôi cũng cho ông biết Trung uý Hiếu và Trung uý Tỉnh đã hy
sinh tại Bình Long. Ông chửi thề:
– Đ.M, hết người
đánh giặc rồi, mấy thằng “nâng bi, đội đĩa” thì đéo chết.
Cuối năm 1972, chúng tôi trở lại Bình Long. Tôi có hứa
với chị Hiếu, khi nào tình hình yên, tôi sẽ cố đưa chị lên
thăm anh ấy một lần. Nhưng chưa kịp thực hiện, thì chưa đầy
một năm sau khi anh hy sinh, chị quá buồn, lâm bệnh rồi mất,
để lại hai cháu Hùng và Cường cho ông bà ngoại nuôi dưỡng.
Sau gần 8 năm tù, khi về, tôi được TS 1 Toàn báo cho
biết, ông bà đã mang các cháu đi vượt biên thoát. Xin tạ ơn
Trời và cám ơn đời, đã có những ông bà quên cả đời mình, để
cưu mang những đứa cháu côi cút, bất hạnh. Hy vọng nơi đất
khách quê người, dưới sự dạy dỗ của ông bà, các cháu sẽ trở
nên người hữu dụng cho đất nước, để cha mẹ các cháu mỉm cười
nơi chín suối. Và nếu các cháu đọc được những dòng này, các
cháu sẽ hãnh diện vì có người cha đã anh dũng kiên cường vị
quốc vong thân.
“Bạn tôi thương mến đã liệt oanh ngã xuống, khắp đơn vị tiếc thương......”
Mũ Nâu Đoàn Trọng Hiếu
Viết từ New Mexico
Nhớ về KBC 3506 thân thương



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by cathy chuyển
Đăng ngày Thứ
Ba, July 15, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH