

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tuỳ Bút
Chủ đề: ngựa
Tác giả: Trần Quán Niệm

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Từ
Đông sang Tây, hàng ngàn năm nay trước khi nền văn minh cơ khí
lan tràn kể từ thế kỷ thứ 20, ngựa là bạn đồng hành gần nhất của
loài người. Tuy liệt vào hàng gia súc nhưng ngựa chiếm một địa
vị cao quý. Các bộ lạc du mục Ả Rập quý như vợ con, và đãi ngộ
hết sức đặc biệt, khát uống sữa lạc đà, đói ăn trái chà là, đêm
ngủ chung lều với chủ. Sự giàu có và địa vị trong bộ lạc Da Đỏ
được căn cứ trên số ngựa sở hữu. Ở nước nào cũng vậy, ngựa phục
vụ hàng vua chúa, tướng lãnh, các nhà quyền quý, trại chủ, và
nổi bật nhất là ngựa được coi như chiến hữu của các tay tráng
sĩ. Hình ảnh người tráng sĩ gắn liền với "thanh gươm, yên ngựa".
Tráng sĩ mà lội bộ chắc chắn là mất vẻ hào hùng. (xệ quá)
Thử hỏi còn hình ảnh nào đẹp bằng
"Áo chàng đỏ tựa
ráng pha.
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in" –[Chinh Phụ
Ngâm/CPN]
Hoặc còn gì hùng tráng hơn là "da ngựa bọc
thây" trong những vần sau đây:
"Chí làm trai dặm nghìn da
ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa Hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến
bào
Thét roi cầu Vị, ào ào gió Thu" –[CPN]
Sau tiệc
rượu giã từ, chàng sẽ "một mình một ngựa" rong ruổi đường xa vạn
dặm. Đó cũng là giây phút người chinh phụ thầm ghen với con ngựa
diễm phúc được kề cận bên chàng.
"Đưa chàng lòng dặc dặc
buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền" –[CPN]
Và kể từ đây chàng chỉ còn ngựa là bạn đường, ăn ngủ có nhau
"Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn
Dòng nước sâu, ngựa nản
chân bon
Ôm yên gối trống đã chồn
Nằm vùng cát trắng, ngủ
cồn rêu xanh" –[CPN]
Một ngày kia, chàng lập nên "công
lao hãn mã", trở về đoàn tụ trong vinh quang, thì hạnh phúc biết
bao. Nếu chàng không bao giờ trở lại, nàng đành ôm con, hóa đá
đợi chồng trên đầu non.
Văn nhân cũng cần có ngựa. Ngày
Xuân phơi phới, các nàng Kiều dạo chơi đầy đường, chàng thót lên
lưng ngựa "lỏng buông tay khấu" theo tà tà cho ra vẻ hào hoa
phong nhã. Chàng diện đồ vía và con ngựa chàng cưỡi cũng đặc
biệt:
"Tuyết in sắc ngựa câu giòn
Cỏ pha mầu áo, nhuộm
non da trời" –[Kiều]
Ngựa có mặt khắp nơi. Ngựa đưa ông
Nghè về làng vinh quy bái Tổ "Chồng em xuống ngựa, cả làng ra
xem". Ngựa tô điểm ngày vui của chàng và nàng "Ngựa anh đi
trước, võng nàng theo sau".
Ngựa chia sẻ nỗi vất vả của
chủ nhân khi gặp cơn thất thế "vó câu khấp khểnh, bánh xe gập
gềnh".
Lịch sử nước nhà còn chép chuyện "Phù Đổng Thiên
Vương" cưỡi ngựa sắt, phá giặc Ân. Lúc lâm trận, ngựa sắt phun
khói lửa mù mịt, cháy vàng những bụi trúc làng Gióng, di tích
còn truyền lại tới bây giờ.
Bên trời Âu, con ngựa gỗ
Trojan, thành Troie (1574) được nhắc đến như một điển tích về
mưu mẹo chiến trường, cảnh cáo những kẻ khờ khạo "cõng rắn cắn
gà nhà".
Kể từ ngày dân tỵ nạn Việt lưu vong khắp thế
giới, lâu lâu báo chí lại nói đến tích "ngựa Hồ, chim Việt" hàm
ý so sánh loài cầm thú còn biết lưu luyến chốn cố hương, nữa là
loài người sao đành quên "Quê cha đất tổ". Ngựa Hồ là loài ngựa
quý của nước Hồ đem cống cho nước Tầu. Loài ngựa này sống ở vùng
thảo nguyên gió lộng tại đất Hồ, nên mỗi khi đến mùa gió Bấc
thổi, lại cất tiếng hý ai oán vì nhớ quê hương. Tương tự, chim
Việt cũng là phẩm vật triều cống từ phương Nam, luôn chọn cành ở
phương Nam làm tổ.
Đầu năm ngựa, xin kể hầu quý vị những
truyện về ngựa, mua vui trong mấy ngày Xuân nhàn tản để rồi xong
ba ngày Tết, quý vị lại "làm thân trâu ngựa" "kéo cày trả nợ" tư
bản Mỹ. Đến đây thế nào cũng có quý vị cười thầm, anh chàng này
nói chuyện nọ xọ chuyện kia, trâu, bò mới kéo cày chứ. Xin thưa
đó là chuyện bên nuớc mình, bên Âu Châu ngựa phải kéo cày như
điên. Thế mới biết cái đúng ở nơi này, chưa chắc là cái đúng ở
nơi khác [1]. Cũng như dân ta và dân Mỹ, chê thịt ngựa, làm thức
ăn cho súc vật, trong khi dân Âu châu lại cho là món tuyệt hảo.
Tuy nhiên mấy chuyện đó để dành hồi sau. Bây giờ xin nói về lịch
sử loài ngựa.
LỊCH SỬ
Theo các nhà khảo cổ, ngựa
có mặt trên trái đất từ 50 triệu năm. Mới đầu nó nhỏ như con nai
có tên khoa học là Eohippus, có khả năng chạy rất nhanh để thú
dữ khỏi ăn thịt. Con người chỉ xuất hiện mới 3 triệu năm, nhưng
với trí khôn hơn mọi loài, nên bắt ngựa làm gia súc. Không ai rõ
con ngựa đầu tiên trở nên nô lệ cho con người vào giai đoạn nào,
và trường hợp đó xảy ra như thế nào, nhưng điều mà người ta biết
chắc là nhờ ngựa mà văn minh nhân loại lan tràn rộng rãi, và
cũng nhờ ngựa mà mộng chinh phục các quốc gia lân cận của các vị
lãnh chúa hiếu chiến mới có thể thực hiện được.
Khoảng
năm 700 sau Tây Lịch, nhà tiên tri Mohamed, tin mình là truyền
nhân của Đấng Allah, có nhiệm vụ rao giảng đạo Hồi cho nhân loại
nhưng có điều, ông ta chọn cách rao giảng đầy máu lửa bằng cách
dẫn đoàn kỵ mã Ả Rập dẫm nát Âu châu, chinh phục nhiều quốc gia.
Dân bại trận chỉ có một chọn lựa độc nhất: "theo Allad hay
chết". Đế quốc Ả Rập rộng lớn tới bờ Địa Trung Hải, rồi tràn
sang Phi Châu bao gồm cả Tây Ban Nha. Trước khi đế quốc này sụp
đổ, Tây Ban Nha bị người Hồi cai trị cả trăm năm, nhân dịp đó
ngựa Ả Rập pha giống với ngựa Tây Ban Nha thành một giống ngưạ
tốt, là tổ tiên của ngựa Mỹ Châu, như sẽ nói tới sau này.
Mấy trăm năm sau Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo bộ lạc rong ruổi
trên yên ngựa chinh phục gần hết nước Tầu, Tây Hạ, Triều Tiên,
Ba Tư (Iran), Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, và một phần Nga Sô, từ Âu sang
Á. Lính Mông Cổ nổi tiếng về tài cưỡi ngựa, suốt ngày ở trên
lưng ngựa không biết mỏi mệt, khát uống máu ngựa, đói ăn thịt
ngựa, cũng như nổi tiếng về sự hung bạo, hiếu sát, người ta loan
truyền là vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu cỏ cũng không mọc nổi. Dân
chúng Âu Châu kinh hoàng trước đoàn kỵ mã Mông Cổ đến nỗi mệnh
danh chúng là "horses from hell". Đoàn ngựa từ địa ngục gieo rắc
chết chóc máu lửa khắp Á châu và Âu châu.
Tuy nhiên đoàn
quân bách chiến bách thắng này 2 lần qua xâm lấn nước Việt tý
hon đều thảm bại. Lần thứ nhất vào đời nhà Trần (1288). Danh bất
hư truyền, lúc đầu quân kỵ mã Mông Cổ tiến như vũ bão, khiến
quân ta thua chạy. Nhưng với tài điều binh, khiển tướng thần sầu
của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, quân Nam dùng mẹo đánh
tan quân Mông Cổ tại sông Bạch Đằng. Trên bộ danh tướng Phạm Ngũ
Lão tiêu diệt đoàn quân kỵ của Thái tử Thoát Hoan và tùy tướng
bằng lối phục chiến.
Lần thứ hai vào năm 1427 quân Minh
sang đánh nước ta dưới sự chỉ huy của tướng Vương Thông, nhưng
bị quân nhà Lê vây khổn ở Đông Đô. Viện binh hùng hậu của Tàu do
Liễu Thăng chỉ huy gồm 10 vạn quân và 2 vạn ngựa. Trước thế giặc
mạnh Bình Định Vương Lê Lợi dùng chiến thuật "dĩ dật đãi lao"
(lấy khỏe đánh mệt), và dùng du kích chiến cộng với phục binh
đánh tan quân địch. Ta hãy đọc đoạn trích dẫn sau đây từ Việt
Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim:
"Ngày 18 tháng 9, quân
Liễu Thăng đến gần Ải Chi Lăng, Lê Sát sai Trần Lựu ra đánh rồi
bỏ chạy. Liễu Thăng mừng lắm, chỉ đem 100 quân kỵ đuổi theo, bỏ
đại binh ở lại, đuổi một đoạn, sa vào chỗ đầm lầy, ngựa đi không
được. Phục binh ta đổ ra đánh, chém Liễu Thăng ở gò Đảo Mã Pha
(tục gọi là Gò Té Ngựa) bây giờ là Mã Yên Sơn ở làng Mai Sao
thuộc Ôn Châu. Việc xảy vào ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi."
Trở lại chuyện ngựa, nhờ sự bành trướng của Hồi Giáo và Mông
Cổ, ngựa lan tràn khắp thế giới, trong đó ngựa pha máu Ả Rập và
Tây Ban Nha được gây giống ở các nước Âu Châu, còn ngựa Mông Cổ
thì ở Á Châu. Giở trang sử Mỹ Châu, có thể nói không thể sai lầm
là chính ngựa đã chinh phục miền đất mới này. Lý do là năm 1518,
một nhà phiêu lưu ngưòi Tây Ban Nha tên là Don Fernando Cortés
dẫn một toán quân nhỏ và 16 con ngựa đổ bộ lên Mễ Tây Cơ với mục
đích tìm vàng. Khắp châu Mỹ vào thời đó không có bóng dáng một
con ngựa, vì thế dân Da Đỏ thấy lính Tây Ban Nha cưỡi ngựa, rất
sợ hãi, tưởng người và ngựa là một loài quái vật đầu người mình
ngựa, dữ dằn kinh khủng do đó dù quân số đông gấp bội nhưng đành
chịu đầu hàng. Cortés viết biểu về tâu với vua Tây Ban Nha "nhờ
Trời phù hộ, nhưng chính ngựa đã chiến thắng trận chiến này."
Một con ngựa của Don Fernando Cortés tên Morzillo được dân
Da Đỏ thờ là vị thần sấm, chớp. Chúng ta coi xi nê thấy dân Da
Đỏ cưỡi ngựa chạy như bay, thật khó mà tin nổi đã có thời dân Da
Đỏ sợ ngựa như vậy, dù rằng sự việc đã ghi trong sử sách rõ
ràng. Sau này họ học lóm cách cưỡi ngựa của người Tây Ban Nha sử
dụng ngựa để săn bắn và chống lại người da trắng một thời gian.
Sau nhiều trận đánh, người Mỹ thấy rằng ngựa là một khí cụ lợi
hại của người Da Đỏ nên có lệnh tiêu diệt cả người và ngựa. Điển
hình năm 1874 Đại tá Ronald Mackenzie, chỉ huy đoàn kỵ binh số
IV đã thảm sát toàn bộ lạc Kiowas và 1,400 con ngựa. Ôi luật đời
mạnh được yếu thua. Mỹ đã chiếm đất còn đánh, giết cả chủ nhà.
SỞ TRƯỜNG VÀ SỞ ĐOẢN
Sở trường của ngựa là chạy.
Chúng ta thường nghe mấy ông Tầu Phù nói phét "thiên lý mã" là
con ngựa chạy một ngày ngàn dặm. Thật ra tốc độ cao nhất của
ngựa khoảng 30 miles một giờ tương đương 45 cây số. Đó là ngựa
đua chạy vài vòng về tới đích, ăn giải. Nhưng "đường dài mới
biết ngựa hay", trên đường trường ngựa chạy trung bình 15 tới 20
miles một giờ, chừng vài tiếng là đã mệt nhoài, bằng chứng toán
kỵ mã thuộc Pony Express vào thời kỳ lập quốc của Mỹ phải đổi
ngựa thường xuyên mỗi một trăm dặm để mang thư tốc hành trên
khoảng đường 2,000 dặm từ Missouri đến San Francisco (thời đó xe
lửa chỉ chạy từ miền Đông tới Missouri là hết đường).
Ngoài khả năng chạy, ngựa chỉ còn ngón tự vệ độc nhất là đá. Món
võ này chẳng có biến chiêu gì cả, cũng như Trình Giao Kim chỉ có
3 búa gia truyền, không thắng được kẻ địch thì huề cả làng hay
đánh bài "tẩu mã" có nghĩa là chạy. "Quất ngựa truy phong" cũng
có nghĩa là chạy, nhưng kiểu chạy này khác, ai không rõ xin hỏi
anh chàng Sở Khanh –[truyện Kiều].
Cổ Học Tinh Hoa kể
chuyện nguời anh em của ngựa là con lừa đất Kiềm (Kiềm lư), mỗi
lần hổ tới chàng chỉ ra chiêu có một ngọn cước, riết rồi hổ biết
tẩy, không sợ mà vồ lấy, ăn thịt. Tuy nhiên chớ coi thuờng mà
nguy. Món đá hậu này không hiệu quả khi áp dụng với thú dữ to
lớn như hùm, beo, sư tử, nhưng với con người yếu đuối, thì cũng
lợi hại lắm. Lơ tơ mơ vỡ mặt như chơi. Do đó đừng có dại mà đứng
luẩn quẩn sau đuôi nó, nó tưởng bạn muốn "mó dế ngựa" mà phóng
ra một đá bất chợt là nguy to. Chẳng thế mà ngày xưa các cụ đã
có câu "mồm chó, vó ngựa" là có ý nhắc chúng ta nên đề phòng,
nhất là gặp loại ngựa tơ, lại càng đề phòng lắm lắm vì "ngựa non
háu đá mà". Bị ngựa đá, thì vừa đau vừa tức "đau như ngựa đá"
hay "tức như ngựa đá". Có lẽ cũng đau đớn thấm thía như bị ngưòi
yêu bỏ, vì sau này các chàng trai thường than thở với bạn bè là
"bị bồ đá", mỗi khi tình yêu gãy gánh.
Còn sự thông minh
của ngựa thì sao? Dựa trên đồ biểu của các nhà khoa học, ngựa
không khôn bằng khỉ, voi, và chó, nhưng hơn hẳn loài mèo và bò.
Điều này mới nghe thật khó tin. Chả lẽ ngựa chỉ khôn hơn bò thôi
sao. Bề ngoài trông ngựa có vẻ tinh nhanh hơn nhiều, giúp người
đủ mọi việc, nào chạy đua, nào kéo cày, kéo xe, nào dùng để
cưỡi, để đánh trận. Các nhà khoa học giải thích rằng, về sự
thông minh, ngựa không khôn hơn các loài khác, nhưng có một đặc
điểm mà các loài khác không có là khi học được điều gì, không
những nó nhớ mãi mà còn truyền cho con, cháu như một yếu tố di
truyền. Thí dụ con cháu của loài ngựa chiến, dễ huấn luyện thành
ngựa chiến hơn là con cháu của ngựa kéo xe, hoặc ngựa để cưỡi.
Câu "ngựa quen đường cũ" đề cập tới một khía cạnh của sự
thông minh của loài ngựa, nhưng ai đã từng ở thôn quê thì thấy
trâu, bò cũng biết tìm về chuồng mỗi khi chiều về, chỉ có điều
là tại sao người ta chỉ nhắc đến loài ngựa. Và oái oăm thay, câu
này thường ngụ ý không tốt đẹp, áp dụng cho các bà, các cô hư
hỏng, chứng nào tật ấy, không sửa đổi được.
NGỰA VÀ NGƯỜI
Thông thường chúng ta nhầm tưởng ngựa sinh ra để loài người
cưỡi. Thật ra Tạo Hoá không sinh loài này để phục vụ loài kia.
Vì thế bẩm sinh, ngựa thích tự do chạy nhảy, không thích bị loài
người buộc mồm, khớp mỏ, rồi nhảy lên lưng, điều khiển đi đây đi
đó, kể cả ngựa sinh ra ở nông trại. Có hai cách để huấn luyện
ngựa. Một chậm và một nhanh. Phương pháp thứ nhất là huấn luyện
ngựa con mới độ vài tháng, vì còn nhỏ nên nó không sợ người khi
bị cột dây, dắt đi vòng vòng. Độ 3 năm, ngựa được mang yên ít
lâu cho quen, rồi từ từ học những bài học đầu tiên, tùy theo
loại ngựa để cưỡi, kéo xe, đánh trận. Năm thứ tư trở đi, ngựa
bắt đầu làm việc được (ngựa sống trung bình 20 năm).
Phương pháp hai là đợi ngựa lớn cỡ 4,5 năm mới bắt đầu tập. Cần
có hai người thật khoẻ giữ ngựa đứng yên, trong khi nguời khác
đặt yên lên lưng ngựa và cột dây cương. Khi tất cả đã xong,
người tập ngựa nhảy lên yên trong khi ngựa được thả lỏng. Dĩ
nhiên ngựa sẽ nhảy dựng lên để hất người xuống, nếu không được
thì bắt đầu chạy dài dài cho tới khi mệt nhoài. Một vài lần như
vậy ngựa sẽ quen, trở nên thuần tính, phục vụ con người.
Đó là đối với ngựa đã được người nuôi từ lâu, còn đối với ngựa
hoang, sức kháng cự dữ dội hơn nhiều, thường phải bỏ đói ít ngày
cho yếu sức rồi mới tập, và dĩ nhiên là tốn nhiều thì giờ hơn.
Tuy nhiên không phải ngựa nào cũng chịu thúc thủ khi bị huấn
luyện. Có nhiều có con bướng bỉnh, nhất định hất văng người cưỡi
bằng mọi giá. Loại ngựa này người ta kêu là "ngựa chứng" hay
"ngựa bất kham", hết hy vọng huấn luyện, nhưng lại được sử dụng
trong các cuộc "rodeo" để thử tài các chàng "cao bồi" thường
huyênh hoang ta đây là kỵ mã thứ thiệt. Ta có thể nói "dụng nhân
như dụng mộc" thành "dụng mã như dụng mộc". Đối với ngựa chứng,
anh nào chịu đựng 10 giây mà không ngã, được coi như ăn giải.
Ngựa chứng có thể do bẩm sinh hoặc vì một lý do nào đó tự nhiên
dở chứng.
Muốn cưỡi ngựa không phải bạn khơi khơi phóng
lên lưng ngựa cầm cương cho nó chạy là được đâu, có ngày ngã sặc
máu. Phải học, như học lái xe vậy. Ngày trước, khi ngựa còn
thịnh hành, con nít học cưỡi ngựa tại nhà. Đến tuổi đủ lớn, một
ngày đẹp trời nào đó, ông bố sẽ dẫn cậu con trai ra sân tập cưỡi
ngựa, giống hệt như các ông bố thành thị ngày nay, hì hục chạy
theo tập xe đạp cho con. Còn bây giờ, ngựa hiếm hơn, muốn học
phải đến các hội kỵ mã hay đến một trại ngựa nào đó, trả tiền để
học. Ngày nay Hoa Kỳ không còn duy trì đoàn quân kỵ mã, nhưng
trước đây kỵ mã được gửi tới trường huấn luyện kỵ mã ở Fort
Riley, Kansas để trau dồi môn cưỡi ngựa. Hiện nay trường này vẫn
được duy trì nhưng chi dạy cho những ai muốn sử dụng ngựa trong
những môn thể thao như polo, đi săn hay cuỡi ngựa thi tại Thế
Vận Hội Quốc Tế.
Kể cả những kỵ mã giỏi nhất đôi khi cũng
ngã ngựa như thường. Cố Tổng thống "cao bồi" Reagan thường cưỡi
ngựa rong chơi cũng ngã bể đầu phải giải phẫu. Tài tử Superman
ngã ngựa bị thuơng trầm trọng nơi cổ phải ngồi xe lăn. Ngã ngựa
là thất thế, cho nên người xưa thường nói "không đánh người ngã
ngựa" và gọi đó là "tinh thần mã thượng".
MÃ ĐÁO CÔNG
THÀNH
Ở đoạn trên có đề cập tới loại ngựa hoang (mustang)
do tiếng Tây Ban Nha mestéro mà ra. Thật ra nó không hoàn toàn
là ngựa hoang như giống ngựa hoang ở Á châu, mà là con cháu của
đàn ngựa đầu tiên người Tây Ban Nha mang sang châu Mỹ, khoảng
thế kỷ thứ 16. Sau khi định cư được ít lâu, di dân Tây Ban Nha
không chịu nổi khí hậu ở miền đất mới, lại bị người Da Đỏ tấn
công nên đành phải rút về. Đàn gia súc mang theo trong đó có
ngựa thành thú hoang sinh sôi nảy nở đông vô số kể. Gần một trăm
năm sau khi người Âu Châu quay lại Mỹ khẩn hoang thì ngựa chạy
hàng đàn, có đàn cả ngàn con. Hình ảnh đàn ngựa tung vó, tung
bờm, sải nước đại, bụi cuốn mù trời, là hình ảnh đời sống tự do
phóng khoáng như thường thấy vẽ trên tranh Tầu. Đôi khi họa sĩ
Tầu vẽ đôi ngựa phi nhanh trên đường, tượng trưng cho lời chúc
"mã đáo công thành" để thiên hạ mua về tặng nhau trong các dịp
cần chúc tụng.
NGỰA TRONG THỜI HIỆN TẠI
Năm 2018, nước Mỹ có 29 triệu con ngựa, năm 1960 chỉ còn 3
triệu. Đó là do ảnh hưởng của nền văn minh cơ giới bắt đầu từ
thế kỷ thứ 20. Xe hơi, xe máy cày, xe vận tải thay thế dần dần
cho xe kéo bằng sức ngựa. [2]
Chỉ còn nước Anh vẫn duy
trì đội quân kỵ mã nhưng chỉ xuất hiện trong nghi lễ long trọng
của Hoàng Gia.
Chuyến thăm cấp Nhà nước (State Visit) của
Tổng thống Donald Trump và Đệ nhất Phu nhân Melania Trump đến
Hoàng gia Anh vào tháng 6 năm 2019 quả thực là một trong những
sự kiện đón tiếp xa hoa và mãn nhãn nhất. Hình ảnh đoàn kỵ binh,
xe ngựa cổ điển song mã, tứ mã đẹp huy hoàng tráng lệ như trong
truyện cổ tích và nghi thức uy nghiêm tại Đại lộ The Mall để lại
ấn tượng rất mạnh.
Ngựa tham gia trong buổi lễ đón tiếp
ông Trump tại Điện Buckingham và cuộc diễn hành mừng Sinh nhật
Nữ hoàng (Trooping the Colour) diễn ra cùng đợt đó, Hoàng gia
Anh huy động khoảng 300 con ngựa tuyệt đẹp từ đơn vị Pháo binh
Kỵ Binh Hoàng gia (King's Troop Royal Horse Artillery) và Trung
đoàn Kỵ binh Hoàng gia (Household Cavalry). Sự xuất hiện đồng
điệu, nhịp nhàng cùng tiếng vó ngựa vang động trên đường phố
London tạo ra hiệu ứng thị giác và âm thanh vô cùng hấp dẫn,
khiến người xem có cảm giác như một đại quân kỵ binh thời cổ
đại.
Đến đây thấy cũng tạm đủ về ngựa. Xin kính chúc quý
độc giả rũ bỏ phiền muộn tận hưởng những ngày Xuân tươi đẹp vì
cuộc đời vốn ngắn ngủi, phù du, như "bóng câu (ngựa) qua cửa sổ"
và những được, mất, hơn, thua nào có khác gì "Tái ông mất ngựa".
Những người không biết áp dụng triết lý "tri túc" (biết đủ) suốt
đời vất vả bôn ba lo làm giàu tựa như người "cưỡi ngựa xem hoa",
đến chặng cuối đời, buông xuôi tay trắng, có tiếc nuối cũng đã
muộn màng.
Thế nên có thơ rằng:
"Đời người như
bóng câu qua.
Một hơi không kịp vào ra, chết rồi
Hơn, thua
chi nữa khổ đời
Tìm nơi thanh tịnh, thảnh thơi kiếp nhàn."
Trần Quán Niệm
(Bính Ngọ tân niên)

Tác giả chú thích:
[1] Sự thật ở bên này dãy Pyrénées là
sai lầm ở bên kia. (ngạn ngữ Pháp). Câu ngạn ngữ nổi tiếng này
của triết gia và nhà toán học người Pháp Blaise Pascal.
[2] Tuy không còn ngựa nhưng đơn vị
về lực kéo/đẩy vẫn là "mã lực" ngay cả lực đẩy của hỏa tiễn
phóng phi thuyền không gian.

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by psxh chuyển
Đăng ngày thứ Năm, September 17, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH