

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự truyện
Chủ đề:
lính kể
Tác giả: MĐ Đoàn Phương Hải

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

Như
thường lệ sáng nào tôi cũng vừa nhâm nhi ly cà phê, vừa đọc
email Võ Bị để biết tin tức, sinh hoạt của các bằng hữu anh em
khắp mọi nơi trước khi làm việc. Nhưng buổi sáng hôm nay, buổi
sáng thứ Tư ngày 21 tháng 6 năm 2000, tôi đã sững sờ đánh đổ ly
cà phê khi đọc những hàng chữ báo tin Thanh Râu Nguyễn Viết
Thanh khoá 19 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN) vừa mới
qua đời vì bạo bệnh tại Canada!
Tôi không biết phải bắt
đầu từ đâu, dùng chữ nghĩa như thế nào để viết cho đủ, chuyên
chở cho hết những ngày trên Võ Bị, những tháng năm cùng chung
đơn vị với những trận chiến mịt mù bom đạn khi ở Tiểu Đoàn 7
Nhảy dù với Thanh!
Thẫn thờ
nhìn tấm hình để trên bàn làm việc, tấm hình nhà binh duy nhất
mà tôi có do Thanh râu gửi tặng mấy tháng trước đây. “Bùi Đăng”
Phạm Kim Bằng, “Ngọc Nga” Lê Minh Ngọc, “Thanh Tâm” Nguyễn Viết
Thanh, tôi, và Bác sĩ Trọng chụp chung ở một căn nhà hoang hồi
Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tham dự hành quân với Chiến đoàn 333 bên
Cambodge vào khoảng tháng sáu năm 1970.
Ở một nơi nào đó,
tôi nghe như Thanh đang nói nói cười cười trêu chọc anh em, mắt
như thấy Thanh ngồi trên thiết vận xa chỉ tay xua quân qua biên
giới. Qua khung cửa nắng đã lên cao, rặng thông bên kia đồi ngả
nghiêng rì rào trong gió. Trên những cành sồi, hoa nắng tròn
tròn lung linh trên bộ áo hoa dù! Thanh như thoáng hiện ở đâu
đây!
Ngoài kia những con chim mỏ đỏ cánh đen, giống như
những con sáo ở quê nhà cất giọng hót trong cao nghe thật buồn
đang bay chuyền trên cành cây maple lá đỏ. Và như thế là Thanh
đã thực sự nhắm mắt xuôi tay, bỏ vợ bỏ con, bỏ Toronto tổ ấm
cuối đời để về một nơi xa thật xa. Có thể là rừng dương bãi biển
ở quê nhà, có thể là thung lũng mù sương Dakto, Hạ Lào, A Sao, A
Lưới... Hay có thể là một chốn bình yên, không danh không lợi...
Nhưng đó là nơi yên nghỉ cuối cùng của một đời người!
Cuối năm 1962 khi những chuyến xe lửa cuối cùng
vừa vượt núi băng rừng, uể oải lăn bánh vào sân ga Đà Lạt trong
ánh nắng héo hắt, hanh vàng co ro lạnh của thành phố cao nguyên
thì tôi gặp Thanh và nhiều bạn hữu chờ xe vào trường Võ Bị. Thời
gian thụ huấn ở quân trường, tuy ở hai Đại Đội khác nhau, nhưng
tuần nào chúng tôi cũng gặp nhau trong những đêm trực gác súng
cối gần kho đạn.
Nhiều đêm mưa lạnh co ro trong cái áo
gác “lính cà” màu olive dài tới gót chân, Thanh thường kể tôi
nghe về Phan Thiết quê anh. Thanh cao lớn đẹp trai, đôi mi cong
như lông mi con gái, nổi bật với hàm râu quai nón dù đã cạo
nhưng vẫn đen đậm quanh hàm, vì thế bạn bè gọi anh là Thanh Râu
hay Thanh Tây Lai.
Cuối năm 1964 khi mãn khoá ra
trường, Thanh và tôi nhảy múa reo hò, mua ngay chiếc nón đỏ đội
lên đầu vì được về binh chủng Nhảy Dù. Thanh về Tiểu Đoàn 3 Nhảy
Dù ở trại Phạm Công Quân. Anh bắt đầu làm quen với những người
lính phong trần, len lỏi chiếc Vespa dọc theo những hàng cây cao
su, cây bã đậu cao xanh rợp bóng đậm màu vôi trắng dưới gốc cây
tại ngã tư Bảy Hiền.
Còn tôi thì leo lên chiếc GMC ngồi
bên những người lính dù mặt sạm đen, áo trận còn vương mùi thuốc
súng vừa từ mặt trận Tây Ninh về phép thăm gia đình. Chiếc xe
nhà binh vút trên xa lộ về hậu cứ Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tại trại
Vũ Đào Ánh nằm khuất dưới những rặng cao su xanh mát trong căn
cứ Không Quân Biên Hòa.
Sau hơn một tháng hành quân trong Chiến Khu D,
cả khoá chúng tôi về học nhảy dù. Đứng ngay cửa máy bay chờ nhảy
“saut” đêm, Sài Gòn dưới chân, cả một vùng rộng lớn lấp lánh ánh
đèn xanh đỏ, sông Đồng Nai như một giải lụa bạch ôm lấy thành
phố uốn khúc xuôi về phía biển. Khi đứng lên móc khoá dù, Thanh
nheo mắt chọc tôi:
– Coi chừng nhảy vô đồn nghe Bắc Kỳ
con!
Đèn xanh vừa nháy lên, liền với tiếng “Go” tôi lao
mình theo Thanh Râu phóng ra khỏi thân tàu. Trời trong vắt đầy
sao, gió đêm hơi lạnh thổi mạnh từ bờ sông, hoa dù tản mạn bung
trong gió, lòng lâng lâng với một cảm giác thích thú kỳ lạ khi
dù nhẹ nhàng bay. Làng mạc xóm nhà quanh khu Quang Trung và bãi
nhảy Ấp Đồn mờ đục trong đêm. Đôi chân hụt hẫng trong không khí,
tôi vội co chân lấy thế. Cách tôi không xa Thanh đang kéo dù
ngược chiều gió để khỏi rớt vào đồn. Lũ trẻ trong làng tay bấm
đèn pin chạy đuổi theo những hoa dù căng gió, từ trên cao nhìn
xuống như một bầy đom đóm, vừa chạy vừa la kéo dù như những tay
chuyên nghiệp!
Chân vừa chạm đất, tôi lăn mình một vòng
và cảm thấy hơi thốn ở chân. Lũ trẻ chăn trâu chợt la lên:
– Cố vấn, cố vấn Mỹ tụi bây ơi!
Rồi một số bỏ chạy về
phía Thanh râu. Trong nháy mắt tụi nhỏ đã dồn dù của tôi vào
bao, vui vẻ nhận tiền “lì xì.” Cách tôi không xa Thanh đang
chống nạnh la oai oái:
– Ê nhóc con, tao là Việt Nam chứ
không phải là Mỹ, lấy đỡ tí tiền còm đi mấy em!
– Thiếu
uý trông giống Mỹ quá! Cho thêm chút nữa đi, dù vướng vào đồn mà
Thiếu uý.
Tôi rít một hơi thuốc thơm rồi thủng thẳng đến
bên Thanh ngâm nga câu thơ chợt đến trong đầu để trêu chọc Thanh
râu:
– Dù bay Nam Bắc Đông Tây. Sao Ông lại kéo... dù
ngay vào... đồn!
Lũ trẻ nhảy lên ôm bụng ngặt nghẽo cười.
“Râu” lườm tôi:
– Đồ Bắc Kỳ đểu!
Rồi hai đứa lủi
nhanh vào mấy hàng cháo, chè, hột vịt lộn... của các cô gái
trong vùng bán hàng cho các toán nhảy dù ngày và đêm. Chân gác
lên chiếc ghế dài, rít một hơi thuốc Pall Mall, tu liền một hơi
mấy lon bia, Thanh nhe răng cười hích hích rồi chỉ mặt tôi hát
chọc cái gốc Bắc Kỳ mang rau muống và dắt theo con chó vào Nam.
– Quê hương tôi cái mùng mà kêu cái màn.
Hay:
– Từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau, tay kia cầm sợi dây và dắt theo
con cầy...
Mấy thằng bạn cùng khoá và lũ trẻ cùng phá ra
cười.
Sau “saut” dù đêm mãn khoá chúng tôi ít có dịp gặp
nhau, nếu có thì cũng chỉ một thoáng vội vàng trong núi trong
rừng, vừa bàn giao khu vực hành quân, vừa chia nhau điếu thuốc,
rồi lại mỗi đứa mỗi nơi miệt mài trên khắp bốn quân khu.
Chiến trường càng ngày càng khốc liệt, chúng tôi đã trưởng thành
trong lửa đạn chiến tranh. Xương thịt bạn bè, máu huyết anh em
đã thực sự thấm đỏ quê hương. Hết Kháng, hết Hùng ra đi ở Bình
Giã thì lại đến Châm, Trí, Chu, Bôn, Quang... một đời mũ đỏ, mũ
nâu nằm xuống ở Hậu Nghĩa, Củ Chi hay Cần “bơi” vừa kịp thấy đứa
con đầu lòng thì ngã gục ở Khe Sanh.
Chiến tranh đã thực
sự chuyển mình, không còn CKC bá đỏ, không còn mìn bẫy hầm
chông. Chiến tranh đã lớn, hung dữ như một con quái vật, vươn
những cánh tay lông lá khổng lồ ác độc từ Nga sô, Trung cộng đưa
xe tăng đại pháo, hỏa tiễn súng bom, những vũ khí cực kỳ tinh
xảo và hàng hàng lớp lớp tuổi trẻ miền Bắc chết dọc Trường Sơn
để xâm chiếm miền Nam.
Sau Tết Mậu Thân tôi đang ở Tiểu
Đoàn 11 Nhảy Dù, hành quân lội nát vùng An Phú Đông, Nhị Bình,
Mười Tám Thôn Vườn Trầu, vòng đai ven đô thành phố thì được lệnh
thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù đang hành quân hỗn hợp với
Sư Đoàn Không Kỵ của Mỹ tại Tây Ninh. Tôi ghé về thăm hậu cứ
Tiểu Đoàn. Vẫn những căn nhà vòm thân yêu nằm dưới những hàng
cây xanh mát. Vẫn những tiếng rơi khô cứng của những trái cao su
khô trên mái tole. Hàng cây cao su trước sân Đại Đội 72, nơi tôi
vẫn tập họp binh sĩ ngày xưa vẫn xanh tươi, những chiếc lá khô
vàng bay như bươm bướm phủ đầy trên sân Đại Đội mỗi khi có cơn
gió thổi về.
Cảnh cũ còn đây nhưng người xưa chắc chỉ còn
mình tôi trở về đơn vị. Chiến tranh đã cướp đi hầu hết những
người lính cũ mà tôi biết mặt quen tên! Tiếng kèn hạ cờ buổi
chiều tan loãng trong không gian, lướt thướt trên rặng cao su,
quyện tròn theo những căn nhà vòm, len lỏi thật sâu trong ký ức
để tôi nhớ về những người lính cũ năm xưa!
Người lính kèn
cúi đầu chào khi nhận ra tôi, những sợi tóc ngắn bạc trắng bên
mang tai. Chiếc kèn với vết đạn xuyên một lỗ tròn ngay tay cầm
nay đã ten màu đồng ngả sang màu xám, người lính đã thực sự già
sau những năm dài chiến trận.
Đến Tây Ninh chiều 27 Tết,
ở một thành phố xa lạ tôi thấy lạc lõng không biết về đâu, nên
lái xe đến Thánh Thất Cao Đài, đến để chắp tay cầu xin an lành
cho chính tôi, cho đơn vị, cho bạn bè, và đồng đội của tôi. Sáng
hôm sau ngồi trực thăng bay vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn tại căn cứ
Sandra.
Đời lính chiến xa nhà, nhớ vợ, nhớ con, nhớ người
tình nên mấy anh Cố Vấn Mỹ thường mượn tên người đẹp để đặt tên
cho một dãy căn cứ hỏa lực nằm rải rác trong vùng rừng núi Tây
Ninh. Sandra, Vicky, Carolyn, Barbara... những cái tên dễ
thương, dễ gọi để phi cơ và pháo binh dễ liên lạc, dễ nhận trên
bản đồ mỗi khi yểm trợ, tiếp tế hay tản thương. Trực thăng vừa
đáp tôi đã thấy “Ngọc Nga” Lê Minh Ngọc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu
Đoàn 7 Nhảy Dù và anh cố vấn Mỹ đang cầm bản đồ chờ trực thăng
để bay thám sát đổ quân. Ngọc Nga vui vẻ bắt tay và giới thiệu
tôi với anh cố vấn. Chỉ trên bản đồ cho tôi biết các vị trí đóng
quân, tình hình đơn vị rồi kéo tôi lên trực thăng bay với anh để
chỉ huy các Đại Đội đang chạm địch.
Trời trong xanh, từng
vạt mây trắng mỏng quấn quít thân tàu. Rừng già xanh ngắt nằm
dưới gót chân, hàng loạt hố bom B–52 đầy nước xanh lơ ẩn hiện
trong rừng cây. Tôi nghe tiếng Nguyễn Lô, Võ Trọng Em, Thanh Râu
oang oang trên máy. Nhận lệnh Ngọc Nga xong xuôi, Thanh Râu cười
hích hích hát trên máy để trêu chọc tôi.
Mấy họng pháo
binh 105ly nòng còn đang bốc khói vì vừa bắn yểm trợ cho các đơn
vị hành quân. Vừa đáp xuống Sandra tôi gặp Trần Trung Nhất, anh
kéo tôi đi một vòng căn cứ coi vị trí đóng quân. Nhất và tôi,
bạn cùng khoá 19 Võ Bị, cùng có với nhau những ngày máu lửa khó
quên tại Đồng Xoài.
Đứng tựa chiến hào nhìn những cành
mai nở vàng trên góc một chòi canh, bên bức tranh Tết pháo đỏ
với lũ trẻ bịt tai dán trên bao cát cạnh lỗ châu mai của khẩu
đại liên làm Nhất sực nhớ và kêu lên, ngày mai đã là 28 Tết!
Mặc dù mới đổi về Tiểu Đoàn, nhưng tôi không thấy xa lạ mà cảm
thấy quá thân quen. Tiểu đoàn trưởng Ngọc Nga là cán bộ Đại đội
trưởng của tôi từ ngày còn ở Đại Đội A trên trường Võ Bị. Còn 4
Đại đội trưởng tác chiến thì tất cả đều là đàn anh hoặc là bạn
cùng khoá 19 mày tao chi tớ của tôi. Ngọc Nga chỉ định tôi làm
sĩ quan hành quân, đáng lẽ do đàn anh Nguyễn Lô khoá 18 đảm
trách, nhưng vì anh thích coi Đại Đội nên tôi đảm trách chức vụ
của anh.
Thời gian này thì Trần Trung Nhất của khoá 19
coi Đại Đội 71. Hiền, ít nói từ ngày ở quân trường, nhưng khi
tức giận thì trời đất cũng phải ngả nghiêng. “Hồng Hà” Võ Trọng
Em khoá 19 nắm Đại Đội 72. Em trông có vẻ hiền lành nhưng thực
ra là “tẩm ngẩm tầm ngầm đấm... chết voi”. Tại sao tên là Em mà
lại lấy danh hiệu truyền tin là Hồng Hà thì không ai hiểu. Có
thể là tên người thân hay có thể là tên bồ nhí!
Có lần
Thanh Râu tình cờ lấy được bức thư tình Em đang viết dở cho
người yêu, Thanh chạy xuống câu lạc bộ Tiểu Đoàn, tu một chai
bia rồi hinh hích cười đọc cho chúng tôi nghe... “Em thương mến
của Em.” Hay “Em hôn Em ngàn cái...” Cả bọn ngây người không
hiểu Em nào là Em nào!
Thanh Râu hay Thanh Tây lai Nguyễn
Viết Thanh, khoá 19, Đại đội trưởng Đại Đội 73, tính tình cởi mở
phóng khoáng nhưng ưa trêu chọc bạn bè và luôn luôn... lỗi hẹn
với đào để đi theo ông “Budweiser, ông 33... và ông Lô lọ rượu!”
Trời nắng cũng như trời mưa, trời gió cũng như trời yên, lúc nào
cũng có ve dầu nhị thiên đường và gói thuốc Pall Mall trong túi.
Nhiều lần đang lâm ly ái tình lẻ với đào, Thanh nhớ mùi lấy dầu
xoa lên mũi, hít hít vài cái, đào hiểu lầm là chê mùi thơm của
em nên phụng phịu ra đi. Thanh vẫn tỉnh bơ, hinh hích cười và
thoa... dầu tiếp tục! Khi nhậu hơi ngà ngà Thanh thường lấy dầu
bôi lên điếu thuốc, tròn mồm thở khói, sau đó bắt đầu đi trêu
chọc anh em.
“Lôi Hổ” Nguyễn Lô là Đại đội trưởng Đại Đội
74, đàn anh khoá 18 Võ Bị, đánh giặc có nét nhất của Sư Đoàn.
Bằng hữu giang hồ đặt tên anh là “Lô lọ rượu,” người nhỏ con,
uống rượu như hũ chìm, tính tình hào sảng, phóng khoáng. Sống
rất điệu nghệ giang hồ, chí tình với bằng hữu anh em.
Đó!
Đơn vị tôi đó! Tiểu Đoàn tôi đó! Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù! Tiểu Đoàn
đã đứng lên ngạo nghễ, dũng mãnh sau trận Đồng Xoài. Tiểu Đoàn
đã theo “Ngọc Nga” chạy bộ từ cây số 17 đánh tung cả Trung Đoàn
địch độn thổ phục kích tại nghĩa địa An Hòa, vượt sông vào Thành
Nội Huế, tấn công cửa An Hòa, tiêu diệt địch tại Mang Cá giải
vây cho Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng (Tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ
Binh), khi cả cố đô đắm chìm trong bom đạn hồi Tết Mậu Thân! Sau
đó không vận về thủ đô, khí thế hừng hực như bão lửa, mạnh như
cuồng phong, lùa Đại Đội 73 của Thanh Râu tiêu diệt gọn 1 Đại
Đội đặc công của địch tại khu nghĩa địa Tây giữa cổng Phi Long
và ngã tư Bảy Hiền trong đợt tổng công kích Mậu Thân lần thứ 2
tại Sài Gòn. Sau đó lại cũng chính Thanh Râu kéo quân đánh thốc
vào khu xưởng dệt sau nhà thờ Đắc Lộ kéo Lôi Hổ ra khỏi vòng
vây, rồi cả 2 dẫn quân theo Ngọc Nga xung kích như vũ bão tiêu
diệt sạch sẽ 1 Tiểu Đoàn địch, giải tỏa áp lực cho Bộ Tổng Tham
Mưu và phi trường Tân Sơn Nhứt.
Đó, đơn vị tôi đó! Anh em
tôi đó! Đơn vị đầy tình nghĩa đệ huynh, ấm tình niên trưởng niên
đệ từ ngày trên trường Võ Bị.
Chẳng gì thì cũng cùng thầy
cùng trường, chia nhau Đồi Bắc, chung nhau Miếu Tiên Sự Thái
Phiên, Chi Lăng đi chung một con đường, trưa chiều quây quần
chung một phạn điếm, đêm đến ngủ chung một đỉnh đồi. Ngày ngày
ngạo nghễ nhìn đỉnh Lâm Viên, và nhất là sắt son chung một lời
thề ngoài Vũ Đình Trường khi kiếm cung xuống núi.
Anh em
nương nhau mà sống, mang tình huynh đệ vượt qua những lúc nguy
nan, dìu nhau lướt qua những cơn bão lửa.
– Mày kẹt thì
tao vô, mày bị vây thì tao giải cứu, thiếu đạn thì tao chia,
thiếu máu thì tao tiếp máu...
Sống như thế thì không thân
thiết cũng thành thân thiết, không ruột thịt cũng thành ruột
thịt, nghĩa đệ huynh còn đậm hơn tình nghĩa anh em. Phòng thủ
căn cứ Sandra là Đại Đội 71 của Trung Nhất, Đại Đội Chỉ Huy và
một pháo đội pháo binh Dù.
Thanh Tâm, Lôi Hổ, Hồng Hà
hành quân biệt lập ngoài căn cứ, ngày nào cũng nhảy diều hâu,
trực thăng vận, phối hợp với Sư Đoàn Không Kỵ Mỹ tìm địch rồi
dùng phi pháo để tiêu diệt địch trong vùng rừng núi Tây Ninh.
Đầu năm 70 chiến trường đột nhiên cực kỳ sôi động. Đại Đội
72 đụng địch ở “Đuôi Cá,” trận đánh tàn khốc kinh hoàng ngay từ
giờ phút đầu khi 1 Trung Đoàn thuộc Công Trường 9 cục R tao ngộ
chiến với Đại Đội 72. Dưới hỏa lực khủng khiếp và quân số vượt
trội của địch, Võ Trọng Em gồng mình chiến đấu, một mất một còn
chống trả nhiều đợt xung phong cuồng sát, đẫm máu của địch.
Thanh Râu, Lôi Hổ đã đội pháo mà đi, đã xẻ rừng mà tiến, ào
ào như giông bão đánh qua đầu địch, bằng mọi giá phải phá vỡ
vòng vây để cứu thằng bạn cùng khoá, để gỡ cho thằng Em 19 thoát
khỏi nguy nan. Khi gần bắt tay được với Hồng Hà thì Thanh Râu
đụng nặng. Địch pháo như mưa, rồi như lũ thiêu thân lao mình vào
lửa.
Tôi nghe Thanh gầm lên trong máy, chỉnh pháo binh
chạm nổ ngay trước phòng tuyến, ra lệnh cho Dalton anh cố vấn Mỹ
đen phóng rocket, trải hỏa lực của trực thăng võ trang Cobra
cách quân bạn không đầy 50 thước. Dalton la hoảng vì rocket bắn
quá gần. Nhưng chính nhờ lối yểm trợ liều lĩnh và gan dạ đó mà
địch bị tổn thất nặng nề, hàng ngũ rối loạn. Thanh Râu giẫm trên
xác giặc mà đi để vào tiếp ứng cho Đại Đội 72.
Trên trời
Ngọc Nga, cố vấn Mỹ, và tôi suốt ngày bay trực thăng, điều chỉnh
khu trục, pháo binh trút hàng tấn bom tấn đạn lên đầu địch. Ngày
thứ hai Ngọc Nga cho trực thăng bay sát ngọn cây, đạp được mấy
thùng đạn và lựu đạn tiếp tế cho Đại Đội 72 thì trực thăng bị
trúng phòng không bể ống dẫn dầu, khói bốc sau đuôi, chập choạng
lết về rớt ngay ngoài căn cứ.
Sau 3 ngày đêm hứng bom
hứng đạn của pháo binh và không quân Mỹ Việt, thêm hai cánh quân
của Lôi Hổ và Thanh Tâm đánh ngang hông. Lại thêm Chi Đoàn Thiết
Giáp của Không Kỵ Mỹ thọc sâu sau lưng đánh trúng Bộ Chỉ Huy và
những đơn vị mới của địch đang bôn tập kéo de. Hơn lúc nào hết
chúng tôi hiểu thế nào là tình nghĩa anh em.
Sau trận
“Đuôi Cá” thì Thiếu tá Phạm Kim Bằng khoá 16 Võ Bị về giữ chức
vụ Tiểu đoàn phó với danh hiệu truyền tin là Kim Bằng (sau này
bạn bè gọi anh là “Bùi Đăng” đọc ngược lại là “Bằng đui” vì anh
bị thương ngay mắt trong trận đánh rực lửa hãi hùng tại Đồi Gió
khi anh mang quân đánh giải vây cho thị xã An Lộc trong mùa hè
rực lửa 1972. Từ đó danh hiệu truyền tin “Bùi Đăng” đã thay thế
danh hiệu Kim Bằng).
Khi ở hậu cứ hễ khi nào rảnh rỗi là
chúng tôi kéo nhau ra tiệm phở Thanh Bình ngay gần rạp hát Biên
Hùng của Kim Bằng để thưởng thức phở, la de củ kiệu, và món “xíu
quách” độc đáo, hết sảy, sau đó tà tà kéo nhau ra... ghi sổ.
Mỗi khi túng tiền đi bay bướm tụi tôi thường đưa Thanh Râu
ra làm đầu tàu lên gặp Ngọc Nga. Với tài trêu chọc và câu hát sở
trường “Xin mặt trời hãy ngủ yên... Cho tôi xin dăm thước mặt
trời...”
Niên trưởng khoá 16 chỉ biết cười trừ, bỏ tiền
vào phong bì, nghe Thanh Râu hích hích cười, giơ tay ra hiệu cho
mấy “Cùi” đứng chờ sẵn ở ngoài sân. Cả bọn lại tiếp tục chương
trình kéo nhau ra Quán Thịt Rừng hay vi vút ở Văn Cảnh, Tự Do.
Nhiều hôm “Đích thân” cao hứng đi theo, hôm đó kể như đàn anh
trúng số. Những ngày đóng quân ở vườn Tao Đàn, cả bọn thường kéo
nhau ra Đêm Màu Hồng hay Blue Dragon. Thanh Râu lúc nào cũng là
người gây gió bão. Ngọc Nga chỉ biết ôm đầu và... ký giấy lãnh
đủ những ngày trọng cấm vì mấy đàn em!
Chiến trường Quân
Khu 3 đột nhiên bùng nổ dữ dội với những trận đụng độ ác liệt
tại các đồn điền cao su vùng Hớn Quản, tỉnh Bình Long. Trung
tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn III, quyết định tung quân
vượt qua biên giới Cao Miên đánh thẳng vào các mật khu, cơ quan
đầu não và hậu cứ an toàn tiếp tế chính của địch. Tiểu Đoàn 7
Nhảy Dù được lệnh tăng phái cho Chiến Đoàn 333, phối hợp với
Biệt Động Quân, Thiết Giáp vượt biên giới qua ngả Gò Dầu Hạ đánh
từ tỉnh lỵ Soài Riêng lên thị trấn Kratie rồi vòng về Kompong
Cham trong cuộc hành quân Toàn Thắng của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn
III.
Đụng liên miên khi tiến quân vào thị trấn Soài
Riêng, phố xá vắng tanh, cửa tiệm đóng cửa im lìm. Quân đội Miên
trang bị đủ loại súng ống hỗn tạp, quân phục không đồng nhất,
nói tiếng Pháp như gió và chuyển quân toàn bằng xe vận tải
Mercedes! Ra khỏi Soài Riêng, Tiểu Đoàn được lệnh tùng thiết với
Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh của Trung tá Thoàn tiến quân về thành phố
Kompong Cham. Kỳ này Đại Đội 73 của Thanh Râu đi chung với Bộ
Chỉ Huy Tiểu Đoàn nên tôi và Thanh có dịp gặp nhau tăng cường
cho mặt trận. Địch rối loạn hàng ngũ tổn thất nặng nề nên rút
quân bỏ chạy, để lại chiến trường hơn 300 xác giặc, bắt sống một
số tù binh và tịch thu hàng trăm vũ khí đủ loại. Trực thăng đáp
ngay trên trận địa, Ngọc Nga, Phương Hải, Lôi Hổ, Thanh Tâm,
Hồng Hà siết chặt tay nhau giữa lúc chiến trường còn vương mùi
lửa đạn.
Quê hương xứ Chùa Tháp bằng phẳng không có núi
non, chiến xa như nước vỡ bờ xua quân ngang dọc trên những cánh
đồng xanh rì cây cỏ. Xóm làng rải rác nằm bên lũy tre xanh.
Những chiều dừng quân Thanh và tôi hay ngồi hàng giờ trên pháo
tháp chiến xa phì phèo điếu thuốc, ngắm hoàng hôn đang từ từ
xuống phía chân trời. Mặt trời xuống ngang tầm mắt, những mái
chùa cong, những đỉnh tháp nhọn, hàng cây thốt nốt phất phơ hoa
trắng, cao thẳng như những hàng cau ở quê nhà, nổi bật trên nền
trời xám đỏ dưới những tia nắng tím vàng chìm dần trong cảnh
hoàng hôn.
Trên cánh đồng đàn bò nâu, vàng chậm chạp di
chuyển trên bờ đê, theo sau là mấy ông Lục áo vàng (các nhà sư
Cam Bốt, bận áo vàng, thường được gọi là “ông Lục”) đang đi về
phía những ngôi chùa lớn. Hình ảnh thật êm dịu và chiến tranh
hình như còn ở mãi nơi xa! Thanh nói tới quê anh, ngày xưa cũng
là một phần đất của dân Chàm nên thỉnh thoảng đó đây cũng còn
lại những tháp, những đền đài hoang cổ ngày xưa!
Trên
đường tiến quân vào Kompong Chak, Đại Đội 71 chạm địch ở Phum
Long Giêng. Sĩ quan liên lạc Cambodge cho chúng tôi biết làng
không còn dân chúng và đã bỏ hoang từ lâu. Khi 2 Trung Đội đầu
tiên của Trung Nhất rời chiến xa dàn hàng ngang tiến gần tới bìa
làng thì súng bắt đầu nổ. Nhất lùa Đại Đội xung phong như vũ bão
đánh chiếm bìa làng. Lợi dụng hệ thống phòng thủ kiên cố và
chuẩn bị kỹ lưỡng nên địch nổ súng khi binh sĩ còn cách làng có
mấy chục thước. Nhất bị trúng đạn gãy tay, con cái ngã mấy mạng
trong đợt khai hỏa đầu tiên. Tuy nhiên 1 Trung Đội đã dùng tối
đa hỏa lực và đánh toàn bằng lựu đạn chiếm được bìa làng. Nhất
bám sát bìa làng tung con cái thanh toán những hầm hố chung
quanh. Ngọc Nga cho Kim Bằng kéo Thanh râu dùng hỏa lực của
chiến xa đánh vào bên hông làng và để Lôi Hổ lên thay thế Trung
Nhất chỉ huy Đại Đội 71. Đột nhiên tôi thấy máu đỏ phun lên mặt,
máu và óc nhờ nhờ trắng nhỏ trên bản đồ, tôi quay sang thì thấy
Thiếu uý Thức, sĩ quan truyền tin ngồi giữa tôi và Ngọc Nga, đầu
nghiêng trên vai, óc và máu hòa nhau nhầy nhụa trên vai áo đang
nhỏ giọt trên khẩu Rouleau P38. Thức bị trúng đạn ngay đầu, viên
đạn thượng liên quá mạnh xuyên thủng qua nón sắt cướp đi sinh
mạng của anh. Chúng tôi vội nhảy xuống xe thì vừa lúc hàng loạt
đạn bắn trúng pháo tháp chiến xa kêu chát chúa, tóe lửa bên
thành xe. Thiết Giáp xả đại liên về phía ổ thượng liên còn sót
lại giữa bụi tre dầy kín ngay bìa làng. Kể như chúng tôi đã may
mắn thoát khỏi loạt đạn của ổ Thượng liên!
Chi Đội thiết
vận xa dùng súng phun lửa xung phong vào chính diện. Lửa cuồn
cuộn đốt cháy bìa làng, lũy tre xanh vặn mình bốc cháy. Đại liên
50, súng phóng lựu M79, hỏa tiễn M72, và đủ loại vũ khí khác đan
những tấm thép lửa chụp xuống địch quân.
Ngọc Nga và tôi
theo cánh quân tiến vào làng, xác địch ngổn ngang trên các hầm
hố. Tôi lợm giọng khi thấy hàng loạt xác cháy đen. Lửa đã đốt
hết khí trời buộc cả Đại Đội địch phải chui ra khỏi hầm hố để
làm mồi cho đạn và lửa. Vũ khí đủ loại nổ giòn phía Đại Đội của
Thanh Tâm, Đại Đội 73 đang thanh toán Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn của
địch. Tôi nghe Thanh ra lệnh cho các Trung đội trưởng đánh bằng
lựu đạn để thanh toán nốt những hầm hố kiên cố cuối cùng. Một
lúc sau Thanh báo cáo bắt sống hết Bộ Chỉ Huy của địch. Phía sau
làng “Hồng Hà” Võ Trọng Em điều động Đại Đội 72 dứt điểm cuối
cùng khi những tên địch chém vè chạy ra khỏi mục tiêu. Trận đánh
chấm dứt, nguyên một Tiểu Đoàn thuộc Trung Đoàn 95 thuộc Công
Trường 9 Cục R bị xóa sổ hoàn toàn với hàng trăm xác địch và vũ
khí, gần 20 tên địch trong đó có viên thủ trưởng bị bắt làm tù
binh. Trần trung Nhất bị thương nặng gẫy cánh tay vì loạt đạn AK
khi tấn công vào bìa làng. Nhất rất tỉnh táo, băng bó xong xuôi
ngồi chờ trực thăng tản thương. Thanh râu ngồi trên chiếc nón
sắt, móc điếu thuốc, bôi tý dầu hít một hơi dài rồi nói với
Nhất:
– Về nhà là để dưỡng thương chứ không phải là để du
dương đâu cha nội. Vớ vẩn là cưa tay đó em!
Sau đó hích
hích cười, rồi cho tôi cây K54 mà anh mới tịch thu của tên chính
trị viên Tiểu Đoàn. Gần đó Tubib Trọng và toán y tá đang điều
trị, băng bó cho những binh sĩ bị thương. Xác Thiếu uý Thức và 9
đồng đội tử thương được gói ghém trong những tấm poncho màu lá
rừng chờ trực thăng đưa ra khỏi vùng hành quân. Phía bên kia, tù
binh ngồi sắp lớp, vũ khí chiến lợi phẩm của cả Tiểu Đoàn địch
chất đầy cánh đồng.
Nhìn Thức bó kín trong tấm poncho,
nhớ lại tấm công điện vừa từ hậu cứ gửi ra chiều hôm qua báo tin
Thức đã có lệnh giải ngũ sau 25 năm quân vụ! Sao cuộc đời lại có
những cái oái oăm trùng hợp đến lạ lùng! 25 năm lính, Thức đã
vào sinh ra tử trên khắp các chiến trường từ Bắc vào Nam, anh đã
nhảy dù xuống Cao–Bắc–Lạng, đã vào Hòa Bình, đã chiến đấu ở Điện
Biên Phủ, đã leo từ binh nhì lên đến sĩ quan. Ở giờ phút thứ 25
khi đã có lệnh giải ngũ thì tử thần lại đến kéo anh đi, chắc khi
nằm xuống anh cũng không hiểu tại sao định mệnh lại quá tàn nhẫn
đối với anh!
Chiều hôm đó trực thăng đến thật nhiều, các
sĩ quan cấp lớn cầm “can” chỉ huy đứng chống nạnh nhìn tù binh,
rồi quay sang hỏi tôi và Thanh coi đếm được bao nhiêu xác địch,
tịch thu được bao nhiêu vũ khí. Và cũng như bao nhiêu lần chiến
thắng khác, rất ít ai tới hỏi han các binh sĩ tử thương hay bị
thương!
Và mặc dù đã được Ngọc Nga ra lệnh là phải chở
thương binh và các tử sĩ ra khỏi trận địa trước để binh sĩ khỏi
nhìn thấy cảnh poncho bó xác các đồng đội tử thương, nhưng các
quan lớn vẫn dùng trực thăng chở tù binh và vũ khí chiến lợi
phẩm đi trước.
Thanh râu đứng cạnh tôi chửi thề um sùm,
ai nấy đều không vui. Thanh lấy thuốc ra hút, tiến lại gần các
binh sĩ tử thương, anh cắm mấy điếu thuốc đang cháy xuống đất
ngay cạnh những người đã chết rồi đứng nghiêm chào. Anh muốn đốt
thuốc thay nhang để cúng vái, tiễn đưa các chiến hữu đã ra đi!
Chiều hôm đó trực thăng quay lại chở hết các binh sĩ tử thương.
Anh Thức ơi, dù có hơi muộn màng, nhưng cuối cùng rồi anh cũng
được chở đi. Tù binh và vũ khí dầu sao cũng được ghi vào chiến
tích vì đó là dấu hiệu của sự chiến thắng, đâu có ai đếm xác bạn
mà được nhận huy chương! Ở phía bờ làng những người lính đang
lấp đất chôn những tử thi của địch trong các hầm hố trong làng,
những bộ đội cộng sản sinh Bắc tử Nam. Rồi gió núi mưa rừng sẽ
gột sạch máu xương, chim chóc muông thú sẽ lại kéo về, cỏ cây
hoa lá sẽ xanh tươi trở lại, thời gian sẽ xóa mờ vết tích chiến
tranh.
Một hôm giữa đêm khuya khi chúng tôi đang ngủ thì
có tiếng trực thăng chỉ huy của Trung tướng Đỗ Cao Trí vần vũ
trên đầu và đáp ngay vị trí đóng quân. Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh và
Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù được lệnh di chuyển nội trong đêm nay phải
đánh vào mật khu Damber, nơi Công Trường 9 Việt cộng đặt Bộ Chỉ
Huy. Mấy sĩ quan Thiết Giáp nói với tôi, Trung tướng Trí đang
ngồi trên chiến xa chỉ huy, xua quân ào ào như nước vỡ bờ trực
chỉ Damber. Trời chưa sáng chiến xa đã nghiền nát Damber. Cuộc
tấn công chớp nhoáng, bất ngờ đã phá vỡ hậu cần tiếp liệu và
tiêu diệt hầu hết Bộ Chỉ Huy, bắt được một số cán bộ cao cấp
nhưng Tư lệnh Công Trường 9 trốn thoát.
(Sau này giữa năm
1971 ở Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, tôi lại cùng với Anh Năm Nguyễn
Đình Bảo tùng thiết với Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh của Thiếu tá Lộc
vào lại Damber, và đã đánh một trận kinh hoàng, trời long đất lở
với địch trong mấy ngày đêm. Chiến xa ào ạt xung kích, xoáy trên
xác và máu địch nghiền nát mục tiêu, phối hợp nhịp nhàng nhị
thức bộ binh Thiết Giáp tiêu diệt nguyên 1 Trung Đoàn Cộng quân
ngay tai Damber, mang lại chiến thắng lớn lao cho Quân Đoàn
III).
Cuối năm 1970 tôi được lệnh về lại
Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù làm sĩ quan hành quân thay cho Thiếu tá
Nguyễn Quang Sáng đi làm Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù. Sau
mấy ngày ăn Tết ở nhà, toàn bộ Sư Đoàn Dù không vận ra phi
trường Ái Tử ngoài Đông Hà trong cái giá rét mưa lạnh của mùa
đông miền Trung để tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ
Lào.
Ngày 8 tháng 2 năm 1971, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù
sau khi dừng quân ở nhà tù Lao Bảo, gần căn cứ Tà Bạt thì được
lệnh xuất phát theo Quốc lộ 9 vượt sông Tchepone đánh qua biên
giới để thiết lập căn cứ hỏa lực Bravo. Tôi gặp lại Ngọc Nga và
Thanh râu ngay chân “Đồi Ma, Suối máu”. Lúc này Thanh Râu là sĩ
quan hành quân của Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù.
Đang hút điếu
thuốc Pall Mall bôi dầu của Thanh Râu thì một trái 75ly không
giật của địch bắn trúng ngay vách núi cách chỗ chúng tôi đứng
không đầy 2 thước. Cả hai bị sức ép ngã chúi xuống đường, đất đá
bay ào ào phủ kín hết người. Chú đệ tử mang máy truyền tin cho
tôi bị một mảnh ngay bả vai. Nhưng tôi, Thanh Râu, và Ngọc Nga
không hề hấn gì. Vì Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù không phải thiết lập căn
cứ hỏa lực nên hễ chỗ nào đụng nặng là phải đến tiếp viện tăng
cường, vì thế đụng địch liên miên trên Quốc lộ 9. Chiều 18 tháng
3/71 qua hệ thống truyền tin tôi được biết đơn vị của Ngọc Nga,
Thanh Râu bị pháo nặng nề và đại bác 90ly không giật của địch
bắn trúng ngay Bộ Chỉ Huy giữa lúc đang giao tranh đẫm máu với
địch. Cả hai đều bị thương nặng, trực thăng cứu thương của Mỹ
phải tắt đèn bay đêm để tránh phòng không tác xạ như đan lưới
của địch, và sau nhiều lần liều lĩnh đáp mới cứu được Ngọc Nga
và Thanh Râu ra khỏi Hạ Lào. Sau đó Thanh râu và Ngọc Nga về làm
việc nhẹ, dưỡng thương tạm thời tại Trung Tâm Huấn Luyện Vương
Mộng Hồng ở Quang Trung. Tôi vẫn không quên lần ghé thăm Thanh ở
Trung Tâm, gặp Nhật Trường Trần Thiện Thanh, bạn học từ nhỏ,
cùng làng cùng xứ Phan Thiết với Thanh Râu. Ngọc Nga, Lôi Hổ,
Hồng Hạnh, và một số bạn bè đang có “độ.” Lần đầu tiên tôi thấy
Thanh râu nổi hứng hát theo tiếng đàn. Ai cũng tưởng Thanh lại ê
a mấy câu hát chọc ghẹo anh em. Nhưng không, lần này Nhật Trường
đàn và Thanh râu như trút cả tâm sự của mình vào bài “Tâm Sự
Người Lính Trẻ” mà Nhật Trường hình như muốn viết để tặng cho
thằng bạn Phan Thiết của mình khi giã từ học đường, chia tay với
người yêu để bước chân vào quân ngũ.
Thanh như kể lể, như tâm sự đâu đó cho
một người tình nhỏ về những:
“mùa xuân xuôi quân về
biên khu,
cho tới đông tàn chỉ nhận một lần thư...”
Những chiều ngồi trên pháo tháp chiến xa nhìn cảnh tà dương
hồng, những đêm nghe nhạc ở phòng trà, băng nhạc, sách báo không
thể thiếu trong những chuyến hành quân. Và sau một thời gian dài
ở chung đơn vị, tôi tìm thấy sau cái dáng ngang tàng Thanh còn
là một người rất văn nghệ, đầy tình cảm, nhiều tình đầy nghĩa
với anh em.
Sau buổi nhậu chiều hôm đó, chúng tôi và thằng
bạn học Phan Thiết mày tao chi tớ cũng tên Thanh của Râu trúng
“độ” đến quên cả đường về! Bẵng đi một thời gian Ngọc Nga báo
tôi biết Thanh về làm Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù.
Sau cuộc triệt thoái Cao Nguyên của Quân Đoàn II năm 1975 thì
chiến sự càng ngày càng khốc liệt. Tháng 3, tháng 4/1975, tháng
của những cơn bão lửa đang mang bao nhiêu tang tóc đổ ập xuống
quê hương, và chiến tranh đã kéo tới sát nách Sài Gòn. Mặt trận
Long Khánh hừng hực lửa, trận thư hùng anh dũng cuối cùng của
quân đội miền Nam ngăn chặn Cộng quân ngay cửa ngõ Sài Gòn.
Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng tại tuyến đầu thì Thiếu tá Nguyễn
Viết Thanh được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 8 Nhảy
Dù thay thế Trung tá Đào Thiện Tuyển về giữ chức vụ khác tại Lữ
Đoàn II Nhảy Dù. Cùng với các chiến hữu trong Lữ Đoàn I Nhảy Dù
và các cánh quân bạn thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Tiểu đoàn trưởng
Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, Thanh Râu Nguyễn Viết Thanh, đã đánh một
trận đẹp nhất trong đời, đốn ngã tất cả mọi cuộc tấn công cuồng
sát biển người của địch tại vườn Cam Ông Tỵ. Long Khánh đã đứng
vững trước sức tấn công vũ bão của 3 Sư Đoàn Cộng quân. Bị tổn
thất quá nặng nề Cộng quân đã ngưng tấn công chờ lệnh mới của
Bắc Bộ Phủ, Hà Nội. Khi được lệnh rời bỏ mặt trận Long Khánh,
Thanh Râu và toàn bộ Lữ Đoàn I Nhảy Dù kéo quân về Bà Rịa. Tại
vùng đất đỏ Phước Tuy, Tiểu Đoàn lại dàn quân tử chiến với địch
tại thành phố, sau đó cùng Tiểu Đoàn 1 và 9 giữ từng tấc đất
ngăn chặn địch ở Cầu Cỏ Mây, cây cầu huyết mạch dẫn vào thị xã
Vũng Tàu.
Ngày 30 tháng 4/1975 ập xuống
như một định mệnh nghiệt ngã cho dân tộc, cả nước để tang khi
Tổng thống Dương văn Minh ra lệnh cho quân đội buông súng đầu
hàng. Nguyễn Viết Thanh kéo quân ra biển, neo thuyền tại Gò Công
chờ mang quân xuống Vùng 4. Nhưng vận nước cơ trời đã định, đại
đơn vị Lữ Đoàn I Nhảy Dù gồm các Tiểu Đoàn 1, 8, và 9 trôi theo
vận mạng mà đi. Và đó cũng là đơn vị Nhảy Dù đông đủ quân số
nhất, ngồi trên tàu nhìn về cố hương, nhớ vợ nhớ con, nhớ gia
đình, nhấp nhô theo sóng gió đại dương xa rời đất mẹ!
Thanh Râu thân mến,
Tao vừa viết để kể cho bạn bè,
anh em, và các chiến hữu biết về mày. Dĩ nhiên là thiếu sót,
nhưng dù có thiếu ra sao, quên những khúc nào thì mày cũng đừng
có buồn, vì cái thằng bạn Bắc Kỳ của mày không còn trẻ như ngày
xưa, tóc sợi trắng sợi đen, trí nhớ không còn minh mẫn như ngày
trước.
Sau cái ngày bỏ nước ra đi tao gặp lại mày ở đảo
Guam. Mặc dù ở chung với binh sĩ anh em nhưng cứ chiều chiều là
mày rủ tao ra bãi biển Gap, ngồi trên ghềnh đá nhìn sóng đại
dương để nhớ gia đình, nhắc đến bạn bè cùng khoá và nói về những
trận đánh cuối cùng đẫm máu, kinh hoàng ở Long Khánh, Phước Tuy.
Rồi mày về Canada, tao vào đất Mỹ, xa cách mấy ngàn miles
nên dễ chừng cả chục năm không hề gặp mặt. Mãi đến giữa mùa hè
năm 1990 khi cùng anh em Mũ Đỏ lên Washington, D.C. dự lễ “rước
ngọn cờ vàng” thì tao gặp lại mày. Cũng vẫn hàm râu quai nón
ngày xưa, vết sẹo trên cằm ngày đánh Đồi 1416 ở Dakto để treo
cho được chiếc mũ đỏ danh dự của quân đội trên đỉnh đồi. Sẹo dù
có mờ đi, nhưng chiến tích khó quên của một đời mũ đỏ thì vẫn
hằn sâu ở đó. Mày buồn buồn nói với tao là mày bị bệnh tiểu
đường, phải chích thuốc hàng ngày. Nhưng chỉ một lúc sau gặp lại
Bùi Đăng, Lôi Hổ, Ngọc Nga, Hồng Hà Võ Trọng Em thì lại hích
hích cười, móc điếu Pall Mall xoa tý dầu rồi lâng lâng nhả khói.
Ngày khoá 19 họp đại hội ở Orange county cuối năm 1998 tao
lại gặp mày. Bạn bè bu tới hỏi thăm, hỏi thăm “thằng Râu” cầm cờ
Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan trên trường Võ Bị độ này ra sao. Sau
đó tụ lại bàn của hai thằng nước mắm “Phan Thiết” Thanh, Thừa để
cùng chung chai lọ. Mày bảo là quá vui và hứa với bạn bè là sẽ
trở về San Jose họp mặt kỳ tới. Vui, thì dĩ nhiên là phải vui,
cứ 2 năm con cháu cụ Nguyễn Trãi, những con “đại bàng” xa xứ, từ
mọi góc biển chân trời xoải cánh bay vượt rừng, vượt núi, vượt
biển cả trùng dương quay về tổ cũ. Và chỉ ở tổ này mới lại được
nghe những tiếng nói thân quen, để mày tao chi tớ nhớ lại quãng
đời trai trẻ sóng gió hào hùng, để nhìn vết sẹo trên tay, trên
mặt... vết tích của một thời trận mạc, huy chương đích thực phải
trả bằng máu bằng xương, điểm danh thằng đi thằng ở, thằng còn
thằng mất! Trước khi về mày nói với tao là độ này mày yếu hẳn
đi, và người lính Nhảy Dù nào ra trận mà không có thương đau.
Sau đó mày “dô” một cái rồi phá ra hinh hích cười bình thản.
Lần tao gọi điện thoại thăm thì mày đã yếu lắm rồi. Ngọc Nga
qua thăm, anh kể với tao là hai anh em kéo nhau lên thượng tầng
của tháp Toronto, “Chuồng Cu” của lính Nhảy dù, khui chai Cognac
rồi tự dưng mày nói với giọng thật buồn những chữ đầu của chai
rượu Martell “Mai anh rời tình em lạnh lẽo,” những chữ mà ngày
xưa đi nhậu mày hay nói. Nhưng lần này như một lời trăn trở ở
những ngày cuối của cuộc đời, rồi chỉ thành phố Toronto phía
dưới mà nói với Ngọc Nga:
– Tôi đã giữ đúng lời hứa là
chỉ cho anh coi hết thành phố Toronro.
Sau đó đệ huynh
cạn hết chai Martell rồi chập choạng ra về. Trời Toronto lạnh
lẽo đầy tuyết giá, nhưng mày lại thiếu chiếc áo gác “lính cà”
màu cứt ngựa mà mày vẫn mặc khi đổi gác với tao trên trường Võ
Bị ngày xưa!
Trung tuần tháng 2, Huyện Móm gửi email cho
bạn bè trong khoá biết là mày đang nằm nhà thương qua tin của
Nguyễn Kim Ngôn và Nguyễn văn Đối là 2 người bạn cùng khoá ở gần
mày nhất. Những ngày trong bệnh viện Đối và Ngôn thường lui tới
an ủi, nhất là Đối cũng cùng bệnh như mày, nhưng nay đã khỏe trở
lại nên ngày nào cũng ngồi hàng giờ để san sẻ, tâm sự với mày
thật nhiều về hy vọng chữa khỏi bệnh tình. Trần Thanh Huyện sẽ
qua thăm mày vào cuối tuần này rồi cho anh em biết sự tình. Tao
kêu nhà mày nhưng không gặp ai, vội phone qua Ngọc Nga, Anh cho
biết mày đau nặng. Đùng một cái thì ngày 21 tháng 2, Ngọc Nga
email Võ Bị báo tin mày đã ra đi!
Thanh Râu, Ngọc Nga gọi
tao, đêm nay anh sẽ làm mâm cơm, có chai VSOP, có bao Pall Mall,
có ve dầu Nhị thiên đường để nhớ mày. Anh tin là mày sẽ về vì
người mới ra đi thì hồn hay về thăm những người thân cũ. Tao gọi
cho Võ trọng Em, Nhật Trường, và Bùi Đăng rồi chạy ra báo cho
Sông Lô, độ này anh làm chung với tao nên anh em ngày nào cũng
gặp và hay nhớ tới mày.
Đặt bao Pall Mall trước tấm hình,
lấy một điếu thuốc, bôi chút dầu lên trên rồi tao hít một hơi
dài. Cái mùi ngái ngái của thuốc quyện với mùi thơm thơm của dầu
làm lưỡi tao tê tê. Khói cay bốc lên quyện với mùi dầu làm tao
chảy nước mắt. Nhưng tao biết tự đáy lòng tao đang nhớ mày. Tao
đang nhớ những ngày đơn vị, những chuyện tâm tình ở đảo Guam,
khẩu súng K54 mày cho tao, và nhất là cái tiếng cười hích hích
của mày hay trêu chọc anh em, tự nhiên mắt tao nhòa đi và thấy
mày nói nói cười cười quanh quẩn đâu đây.
Thanh Râu,
Mày đã biết trước ngày đi nên trăn trối với gia đình, vợ con
là muốn được hỏa táng rồi đem tro rải trên biển cả. Vì biển
chính là cái nôi nuôi dưỡng mày từ bé cho tới lúc lớn khôn.
Trước khi nhắm mắt xuôi tay mày đã thực sự muốn sóng gió trùng
dương đưa mày về Phan Thiết bãi biển quê nhà! Ở đó có dòng sông
Mường Mán từ rừng núi Trường Sơn đổ về, có những lớp sóng bạc
đầu ngoài bãi biển Thương Chánh. Lầu nước, vườn bông, dòng sông
Cà Ty, và những hàng cây đầy hoa vông vang rực đỏ, vang tiếng ve
kêu mỗi mùa hè. Trường trung học Phan Bội Châu, cây cầu đúc
đường Trần Hưng Đạo, quán cà phê hủ tiếu trên đường Gia Long.
Hay những lần theo ông bác ngồi trong chiếc thuyền thúng đi vớt
cá ngoài bãi biển rừng dừa Mũi Né đầy thơ mộng.
Bãi biển,
ngôi trường, lối đi xưa, bờ sông cũ, hoa cỏ quê nhà... Tất cả
như xôn xao, rung động, như cùng đứng lên thì thầm gọi tên cậu
bé ngày xưa, để cùng được chạy nhảy nô đùa với nhau như những
ngày thơ ấu!
Thanh Râu thân mến,
Ngày tiễn đưa mày
đi có Ngôn, có huynh đệ anh em chung một mái trường. Trần Thanh
Huyên từ DC, đại diện cho bạn bè đồng khoá từ các nơi xa đến
chia buồn cùng gia đình mày, rồi cùng Đối, Ngôn thắp nhang tiếc
thương tưởng niệm.
Sinh lão bệnh tử rồi ai cũng phải một
lần, khi đã nằm xuống thì Hạ Lào, Quảng Trị, Khe Sanh, Phan
Thiết hay Toronto thì nào có khác gì nhau. Tao mới làm hai câu
thơ để nhớ mày, câu đầu là lúc Trung đội trưởng Thanh Râu của
Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù, đã đánh một trận vang danh chiến sử tại
đỉnh Đồi 1416 Ngok Wan ngoài Dakto với vết thương trên cằm, trên
má. Câu thứ hai là trận đánh anh dũng cuối cùng của Tiểu đoàn
trưởng Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù Nguyễn Viết Thanh tại Long Khánh đã
làm cho kẻ thù kinh sợ, rúng động nát tan.
“Vung
kiếm bên trời,
Dakto xưa lềnh thây máu giặc.”
“Long
Khánh tung hoành,
giặc cờ đỏ run sợ khiếp tan.”
Viết để nhớ mày. Vĩnh biệt! Vĩnh biệt! Tiểu đoàn trưởng TĐ8 Nhảy
Dù Nguyễn Viết Thanh, K19 Trường VBQGVN.
MĐ Đoàn Phương Hải,
K19 VBĐL, TĐ11ND

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by cathy chuyển
Đăng ngày thứ
Sáu, February 27, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH