

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Xã luận
Chủ đề:
tết & tiếng việt
Tác giả: Lão Móc

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Ông
giáo sư phân tâm học người Mỹ John Sanford là một người theo
trường phái phân tâm học của Karl Jung. Ông John Sanford có viết
một quyển sách có cái tựa là “The Kingdom within”, tạm dịch là
“Vương quốc ở bên trong”. Trong cuốn sách đó, ông giáo sư có kể
lại một câu chuyện. Quê của ông giáo sư John Sanford ở New
Hampshire. Thuở nhỏ, ông sống ở nông trại. Mấy chục năm về
trước, nông trại đó chưa có nước máy như bây giờ, chỉ xài nước
giếng mà thôi. Ở gần nhà ông bà nội của giáo sư hồi đó có một
cái giếng rất nhiều nước. Cái giếng này đủ nước để cung cấp cho
một nông trại lớn, kể cả những ngày hè đồng khô cỏ cháy. Không
bao giờ cái giếng ấy cạn nước. Ông giáo sư John Sanford hồi nhỏ
đã có nhiều kỷ niệm đẹp với cái giếng này.
Lần này về
thăm quê cũ sau mấy chục năm xa cách, ông giáo sư liền ra thăm
cái giếng. Ông mở cái nắp giếng lên thì lạ quá, cái giếng đã cạn
từ bao giờ,
không còn lấy một giọt nước. Ông đem cái thắc mắc
này ra hỏi, bà nội ông mới nói lý do. Ngày xưa người ta xài nước
giếng. Càng lấy nước thì nước trong mạch càng chảy ra không bao
giờ cạn. Còn sau này, người ta xài nước máy, không ai lấy nước
giếng nữa. Nước giếng trở thành nước tù, bụi bậm lắng xuống. Còn
các mạch không được thông, dần dần tắc nghẽn. Mạch nước bị vít
lại rồi, còn bao nhiêu nước lâu ngày chầy tháng rồi cũng bốc hơi
hết. Thế là cái giếng cạn.
Chưa bao giờ trong lịch sử mấy
ngàn năm, dân tộc Việt Nam lại có cái cảnh như bây giờ, đó là
một phần không nhỏ của dân tộc phải bỏ xứ ra đi rồi sống tản lạc
khắp nơi trên thế giới. Tại vì sao hàng triệu người phải bỏ nước
ra đi thì ai nguời ta cũng biết rồi.
Tính đi tính lại
người ta nói Việt Nam đã định cư ở trên bốn chục quốc gia. Không
nói đâu xa, ngay một ông đồng hương với tôi có cả thảy sáu đứa
con, định cư ở bốn nước khác nhau. Năm 1978, hồi lúc có vụ người
Hoa đi bán chính thức, ông làm giấy tờ giả, chèn nhét được hai
đứa con một trai, một gái đi lọt được qua Mã Lai. Hai anh em
định cư tại Bỉ, ở một vùng mà người ta nói tiếng Đức. Năm 1981,
một đứa con trai nữa vượt biên chui tới đảo. Anh chị em nó ở bên
Bỉ viết thơ cho em dặn dò nếu có nước nào nhận thì cứ đi trước
đừng chờ đợi. Thằng này cuối cùng định cư ở Úc. Còn vợ chồng ông
và ba đứa con cũng vượt biên năm 1984, trong đó có thằng con lớn
nhất đi học cải tạo về. Gia đình năm người qua Mỹ.
Đứa
con gái bên Bỉ năm sau lấy một người chồng Việt Nam ở bên Pháp.
Mới đây, nhân đám cưới thằng con út ở Mỹ, cái gia đình tứ xứ ấy
gom về San José. Người lớn tay bắt mặt mừng sau bao nhiêu năm xa
cách. Chỉ có đám con nít mới là rắc rối.
Ông đồng hương
than thở với tôi, ông không có cách gì nói chuyện với hai đứa
cháu ngoại ở Pháp và đứa cháu nội ở Bỉ. Hai đứa con ông phải làm
thông dịch viên. Với mớ tiếng Anh bập bẹ, ông có thể nói chuyện
chút đỉnh với đứa cháu nội ở bên Úc, nhưng nói tiếng Việt với
chúng thì vô phương. Mặc dù ông mới bảy mươi ngoài, ông than với
tôi một câu đứt ruột: “Tôi mà nằm xuống rồi, chắc anh em tụi nó
sẽ trở thành người dưng nước lã.”
Lời than ấy tuy bi quan
nhưng không phải là không có một phần sự thực. Cái cảnh đau
lòng, tan đàn xẻ nghé ấy đã xảy ra với rất nhiều gia đình Việt
Nam. Hoàn cảnh nó buộc người ta phải chịu như vậy. Sống ở đâu
cũng được, miễn sao chạy cho thoát cái đám ôn dịch là được. Biết
làm sao hơn bây giờ! Nhiều người so sánh hoàn cảnh những người
Việt Nam tha hương chúng ta bây giờ giống như những người Do
Thái trong những thế kỷ trước đây. Sự so sánh này cũng có vài
phần đúng. Nhưng hai hoàn cảnh đó không hoàn toàn giống nhau.
Ngày 14/5/1948, Do Thái lập quốc. Nhưng trước đó trong hàng
ngàn năm, người Do Thái không có tổ quốc, phải ăn nhờ ở đậu khắp
nơi trên thế giới. Có một điểm đặc biệt là trong hoàn cảnh sống
lang thang vô tổ quốc như vậy suốt hàng ngàn năm, người Do Thái
vẫn là người Do Thái. Có thể trên bàn ăn của một người Do Thái ở
Nga sẽ có những thức ăn không hoàn toàn giống với người Do Thái
sống ở Tây ban nha. Nhưng nếu hai người ấy gặp nhau ở Pháp,
người Do Thái, Tây ban nha, và người Do Thái Nga vẫn giao tiếp,
nói chuyện, cảm thông với nhau được. Chính điều đó mà khi tái
lập quốc, những người Do Thái từ khắp nơi trên thế giới đã quần
tụ với nhau được và bắt tay xây dựng đất nước Do Thái từ con số
không. Những người Do Thái từ khắp bốn phương trời với những địa
bàn cư trú khác nhau, những mức sống khác nhau..., người Do Thái
ở Mỹ, người Do Thái ở Phi Châu, người Do Thái ở Ba Lan đã sống
cạnh nhau trên một đất nước Do Thái mới. Cái gì đã giữ cho họ
vẫn là người Do Thái sau hàng ngàn năm bị xé nhỏ và sống lọt
thỏm giữa những dân tộc và những nền văn hóa xa lạ? Cái gì đã
giúp những người Do Thái từ hàng trăm quốc gia vẫn cảm thấy họ
vẫn có một sợi dây liên kết?
Mới chỉ đến thế hệ thứ hai
mà mấy đứa cháu nội, cháu ngoại của ông bạn tôi đã không còn
giao tiếp được với nhau. Cậu không thể nói chuyện với cháu. Bác
ở Mỹ gọi thì cháu ở Bỉ giương mắt ra nhìn. Ông bạn tôi lo rầu là
phải. Đến đời sau nữa thì ôi thôi, chúng nó sẽ là người dưng
nước lã với nhau chứ còn gì nữa! Con cô nói tiếng Pháp, con cậu
nói tiếng Anh; không gọi điện thoại nói chuyện được, không viết
thư cho nhau được, mỗi lần gặp nhau phải vất vả tìm một ngôn ngữ
trung gian để có thể đạt được một chút cảm thông tối thiểu.
Tại sao cái cảnh không vui ấy lại xảy ra trong khi trước đó
một thế hệ thôi, người ta vẫn ăn cùng mâm và vẫn ở cùng nhà, có
cùng một cha một mẹ; hoặc nói rộng hơn, cùng một dân tộc? Sự
việc chắc sẽ đơn giản hơn nếu tất cả những ai có tổ tiên là
người Việt đều biết nói tiếng Việt. Ngôn ngữ là một trong những
phương tiện chính để đạt đến sự cảm thông. Anh em một nhà mà
phải dùng đến một ngôn ngữ xa lạ để nói chuyện với nhau quả thực
là một điều chua xót. Ngôn ngữ nào cũng vậy, biết mà không nói
thì ngày càng quên đi.
Những thế hệ Việt Nam sinh ra trên
xứ người, ai sẽ là người dạy tiếng Việt Nam cho các thế hệ ấy?
Cha mẹ chứ ai!
Ngôn ngữ là một phần của văn hóa dân tộc.
Còn giữ được tiếng nói chung thì người Việt năm châu vẫn còn cảm
thông được với nhau. Còn giữ gìn được văn hóa dân tộc thì còn
cái cội rễ mà tìm về gặp nhau ở đấy.
Chuyện ăn Tết cũng
là một nét đặc thù của nền văn hóa dân tộc. Một gia đình nào mà
hăm ba Tết có đưa ông Táo, ba mươi Tết rước ông bà, có thịt mỡ
dưa hành, có bánh dày, bánh chưng thì nhất định đó phải là một
gia đình Việt Nam, không lẫn lộn đi đâu được.
Nói như thế
không có nghĩa là nếu một gia đình ngày Tết mà không có được
những thứ ấy thì không phải là một gia đình Việt Nam. Hoàn cảnh
nơi xứ người không được thì đành chịu chớ biết làm sao. Nhưng
những tục lệ ngày Tết là một phần trong gia tài văn hóa dân tộc
mà chúng ta cần nên trân trọng giữ gìn. Cái gia tài văn hóa dân
tộc ấy sẽ là một sợi dây liên kết người Việt năm châu. Trăm năm
sau, cũng nhờ sợi dây đó mà người Việt Bắc Âu sẽ nhìn ra người
Việt Úc Châu, người Việt ở Mỹ sẽ nhìn ra người Việt ở Nhật giữa
bao nhiêu người cũng tóc đen, da vàng. Ngôn ngữ cũng như văn hóa
dân tộc, nếu sử dụng và duy trì bồi bổ thường xuyên thì còn mãi.
Hễ bỏ xó thì mỗi ngày sẽ mai một, biến mất lần hồi. Cái nguồn
mạch của dân tộc, nhất là trong hoàn cảnh tha hương phải hết sức
trân trọng và chăm chút thường xuyên. Cũng như cái mạch nước
giếng mà ông giáo sư John Sandford đã nói tới. Không sử dụng
đến, cái mạch giếng dân tộc ấy sẽ bị vít lại và khô cạn dần. Cho
dù bây giờ đã có nước máy, thỉnh thoảng chúng ta cũng nên ra
giếng kéo nước lên tưới hoa, tưới cỏ hoặc tắm mát một lần. Vừa
tìm lại những phút thoải mái tinh thần và tiện thể duy trì cái
mạch nước ấy. Cũng như chuyện chúng ta duy trì truyền thống ăn
Tết ở xứ người vừa vui vẻ thoải mái tinh thần, vừa góp phần duy
trì truyền thống văn hóa, nên lắm chớ!
Tự điển Việt Nam
định nghĩa: Ăn Tết: Mua sắm, vui chơi trong dịp Tết. Thí dụ: Ăn
Tết lớn.
Còn học giả Lê Văn Siêu định nghĩa: Ăn Tết: là
ăn uống vui chơi trong ngày Tết. Thí dụ: Tháng Giêng ăn Tết ở
nhà...
Như vậy có nghĩa là ăn Tết không phải chỉ là ăn
không mà còn nhiều thứ nữa. Càng lớn người ta càng thấy Tết bớt
vui. Chớ tôi hồi nhỏ, hễ cứ lễ thượng điền xong là nhấp nhổm đợi
cho tới Tết. Con nít hồi đó Tết mới có quần áo mới, Tết mới có
tiền bỏ túi chớ không phải như bây giờ. Tết được ăn uống phủ
phê, đi chơi tối ngày sáng đêm mà không bị rầy rà. Tết được chơi
bầu cua, bông vụ, Tết được đi coi người lớn đá gà ăn tiền, Tết
có thi lột dừa khô bằng tay không, mỗi đứa cũng có năm ba viên
pháo lẻ dằn túi mua ở tiệm Chệt. Tết thì đường sá, đồng ruộng
khô sạch, không lầy lội như mùa mưa, gió chướng thổi lồng lộng.
Tóm lại Tết là những ngày sung sướng nhất, ngay cả ông tía hàng
ngày khó tánh cũng đâm ra dễ dãi. Cây chổi lông gà trở lại nhiệm
vụ quét bàn, quét bộ ván ngựa mời khách ngồi chớ không còn đáng
sợ như thường ngày.
Lớn lên một chút đi học xa nhà thì
ngày Tết được nghỉ Tết về nhà đạp xe đạp đi thăm bà con. Có cái
Tết năm Tuất 1946, Tây vô, nhà cửa tản cư, ăn Tết đậu ở nhà
người quen. Dưới bến ghe xuồng cụ bị sẵn sàng chạy giặc. Ở ngoài
các vàm sông lúc nào cũng có người canh chừng tàu Tây. Thét rồi
quen, Tây thì mặc Tây, ăn Tết cứ ăn Tết. Tiếc một cái là tinh
thần yêu nước của dân mình hồi ấy bị cái đám quỷ đỏ kia lợi dụng
gạt gẫm. Tới lúc sau này, năm Mậu Thân, lại ăn Tết chạy giặc
nữa. Tết hai bên tuyên bố hưu chiến. Dân chúng lo sắm sửa, Tết
mà! Chiến tranh thì chiến tranh, đã nói hưu chiến ba ngày thì cứ
tin như vậy. Ai dè súng nổ, đạn bay. Mấy ông vô đốt nhà lồng
chợ, Công chánh ra chữa cháy thì bắn, hụt ăn một cái Tết không
nói làm gì, nhà cháy người chết khắp nơi. Kể lại chuyện Tết Mậu
Thân để nhắc bà con có tin mấy ông thì cũng nên tin vừa vừa
thôi. Ngày Tết mà mấy ông cũng không chừa thì biết nói sao bây
giờ!
Ăn Tết thì phải ăn. Ăn Tết để góp phần bảo vệ văn
hoá dân tộc mà. Tội gì không ăn. Chẳng những ăn Tết mà còn chơi
Tết nữa. Vui Tết cũng như kéo nước giếng lên tắm mát, để cái
mạch văn hóa quê hương mãi mãi tuôn hoài. Nên lắm!
LÃO MÓC

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày thứ Sáu, February 13, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH