

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tuỳ Bút
Chủ đề:
ngày xuân lính kể
Tác giả:Trần Đông Kinh

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Lời Tác giả: XUÂN LẠI VỀ. Tùy bút của: TRẦN ĐÔNG KINH Tưởng nhớ cố Thiếu uý Nguyễn Đức Chính (SVSQ 10B/72 ĐĐ) và những đồng đội đã bị sát hại trong các trại tù cộng sản. –tđk

Thu đi, đông tàn rồi xuân sẽ đến sau cái mùa
đông lạnh lẽo tàn lụi dần của mỗi năm, cái vòng luẩn quẩn 365
ngày cứ qua đi, qua đi. Ngồi tính lại từ ngày rũ áo chinh nhân
mới đây mà đã 33 lần xuân qua rồi xuân lại về, nhìn qua gương
với mái tóc mình đã nhuộm đầy sương trắng. Tuổi già kéo đến,
bệnh tật vây quanh cái thân xác rã rời vì phải vật lộn với cuộc
sống bon chen nơi xứ người bằng thân phận kẻ ly hương sầu cố
quốc, mòn mỏi lê từng bước nặng trĩu để bước vào cái tuổi “Đáo
Tuế” của một kiếp nhân sinh.
Xuân lại về với muôn ngàn
nổi nhớ miên man, những kỷ niệm buồn, vui, thương, hận trong quá
khứ hiện rõ như những chuyện mới vừa xảy đến hôm qua. Đôi lúc
trong giấc ngủ chập chờn hay những cuộc trà dư tửu hậu những câu
chuyện ngày xưa trong tiềm thức, rồi nó lại xuất hiện trong cơn
mơ như một cuốn phim cũ được quay lại.
Tuổi thư sinh với
màu áo trắng học trò, mài mòn đũng quần trên ghế gỗ của những
mái trường xưa yêu dấu. Rồi “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972” đậm nét lửa máu
trên quê hương tang tóc điêu tàn vì bom đạn của chiến tranh,
Trị–Thiên vùng dậy, Kontum kiêu hùng, và chứng tích “Bình Long
An Lộc” với trang sử oai hùng và đau thương đối với binh chủng
Liên Đoàn Biệt Cách 81 Nhảy Dù mà mọi người dân Miền Nam lúc bấy
giờ không ai có thể quên được:
“An Lộc Địa sử ghi chiến
tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân”.
Chúng tôi, đoàn
trai trẻ lúc bấy giờ ngoài việc sách đèn biết chi đâu là lửa máu
hận thù, đành xếp lại việc bút nghiên theo “Tiếng Nói Động Viên”
trong tình trạng khẩn trương của đất nước. Lũ chúng tôi đi vào
quân ngũ khoác chiến bào làm thân lính chiến, ôm súng trận sống
chết xem thường, những tưởng đóng góp một phần xương máu để gìn
giữ quê hương miền Nam VN thoát khỏi nanh vuốt của bọn cộng sản
vô thần chỉ mong mỏi đến một ngày bình yên để trở lại với mái
trường xưa yêu dấu.
Nhưng số phận của miền Nam nói riêng
hay là số phận của dân tộc Việt nói riêng quá nghiệt ngã nên
chúng tôi phải đành buông súng đầu hàng một cách tức tưởi cho dù
binh hùng tướng mạnh bởi sự phản bội của người bạn đồng minh và
sự giựt dây của một nhóm người có cái tên gọi là “Phản Chiến”.
Một số rất nhỏ trong anh em chúng tôi có điều kiện hoặc may
mắn thoát được ra khỏi nước rồi đi định cư ở một nước thứ ba,
cũng một số nhỏ không chịu đầu hàng nhưng không đủ can đảm tự
sát như ngũ hổ Đại Tướng Anh Hùng “Nam, Hưng, Phú, Vỹ, Hai”. Họ
đã tự đi vào rừng sâu những mong tìm đường “Cứu Quốc”. Nhưng rồi
họ cũng bị lũ sói lang truy bắt giết hại hay hành hạ cho đến
chết trong ngục tù hoặc cũng đã làm mồi cho thú dữ. Đa số còn
lại bị đưa vào “trại tập trung cải tạo”, một mỹ từ để che đậy
một trại tù khổ sai, nơi đó họ đang trả thù Quân Cán Chính miền
Nam một cách văn minh tàn độc nhất trong hậu bán thế kỷ thứ 20.
Số tù nhân cộng sản này hầu hết đã làm thân trâu ngựa trong
những trại tù, một số không ít đã chết vì kiệt sức, đói khát,
bệnh tật và một số không chịu nỗi những khắc nghiệt, nhục nhả
nên phải tìm phương vượt thoát, hầu hết bị bắt lại xử bắn tại
chỗ hoặc làm mồi cho thú dữ trong rừng sâu, rất ít người trốn
trại mà thoát ra được nước ngoài.
Một câu chuyện thương
tâm và quá đau lòng mà tôi chỉ mới biết tin từ hơn một năm qua,
“Bạn tôi” một SVSQ 10B/72, một Thiếu uý của QLVNCH, hắn đã bị
bắn chết trong trại tù cộng sản khi tìm đường vượt trại mà không
thoát. Hắn là NGUYỄN ĐỨC CHÍNH, người bạn cùng khoá, là KS/DBSQ
cùng ĐĐ 103F, TĐ Trương Tấn Bửu, Liên Đoàn B thuộc Trung tâm
huấn luyện Quang Trung, có một kỷ niệm giữa tôi và hắn tuy là
ngắn ngũi nhưng không thể nào quên.
Tôi và hắn ngẫu nhiên
trở thành đôi bạn trong tuần lễ ứng chiến vào khoảng cuối tháng
01 và đầu tháng 02/1973 trong một ngôi Đình trên bờ sông Gò Vấp
để giữ an ninh mặt hậu của kho Quân Cụ trong những ngày Tết
Nguyên Đán. Chúng tôi chẳng phải là đôi bạn thân trước đó, không
là tâm giao tri kỷ, và cũng chẳng phải là nối khố tri bỉ của cái
thời áo trắng học trò. Chúng tôi cùng ngủ chung một lều vải của
lính mà mỗi người ½ tấm ráp lại lúc đi ứng chiến, Nguyễn Đức
Chính là một thanh niên nói tiếng Bắc Hà Nội khàn khàn nghe rất
hay và rất dễ chinh phục người nghe, dáng nho nhả khiêm tốn
nhưng rất phong trần và có vẻ hơi bất cần đời.
Tính hoạt
bát và tháo vát trong nhiều công việc nên được hầu hết khoá sinh
đồng đội thương mến, Chính đã được toàn đại đội đề cử làm khoá
sinh Đại đội trưởng trong suốt giai đoạn 1 tại trung tâm huấn
luyện Quang Trung.
Thật là ngẫu nhiên cho sự gần gũi,
thân thiện giữa tôi và Chính trong khoảng thời gian này dù không
hơn một tuần lễ nhưng trong ký ức tôi không thể phai nhòa một
chút nào kỷ niệm.
Từ lúc biết được tin Chính đã gục ngã
trước họng súng man rợ của bè lũ sói lang, tâm tư tôi quá đỗi
bàng hoàng, đôi khi trong giấc ngủ tôi còn nghe văng vẳng bên
tai tiếng còi mà Chính đã thổi theo nhịp bước quân hành khi điều
động đại đội di chuyển “1, 2, 3, 4... 1, 2, 3, 4...” hay là
tiếng bắt giọng cho bài ca:
“Trên đầu súng quê hương Tổ
Quốc đã vươn mình...
trên lưỡi lê căm hờn hờn căm thôi gục
ngã 2, 3...”
Và tiếng hô:
–
“thao...d...i...ễ...n... NGHỈ!
– N...G...H...I...Ê...M...!”
Khi Chính tập họp đại đội để trình diện cho cán bộ Đại đội
trưởng.
Cái giọng Bắc khàn khàn của hắn vẫn còn vang vang
từ một cõi xa xăm nào đó vọng về.
Thôi rồi, Chính đã gục
ngã trong căm hờn tủi nhục của một người lính thua trận, thật là
đau xót cho anh, cầu xin Thượng Đế ban bố cho anh sự an lành nơi
chốn bình yên.
Những ký ức về con người của Nguyễn Đức
Chính còn lại trong tôi rất đẹp: tôi nhớ đêm giao thừa 30 Tết,
sau phiên gác của tôi khoảng 2 giờ sáng mồng 1 Tết khi chui vào
lều để tiếp tục ngủ, tiếng khua động giữa khẩu M16 và dây đạn 7
băng đã làm Chính thức giấc, hắn hỏi tôi:
– “mấy giờ rồi
Đ...?”
Tôi nói:
– “2 giờ 10 của năm mới rồi đó sếp
ơi!” (tôi thường đùa và gọi hắn là “Chief” không ăn chuối).
Hắn ngồi bật dậy như một cái máy, rồi đưa tay về phía đầu
nằm với chụp lấy dây T.A.B. và bình–đông nước, hớp một ngụm sục
sục rồi vạch lều phun ra ngoài, vừa hỏi tôi:
– Còn thuốc
lá không mậy?
Tôi vừa trả lời “còn” vừa rút từ trong túi
áo đưa cho Chính bao thuốc BASTOS LUXE vàng cho hắn. Chính cầm
lấy nhưng lại bỏ lại trên tấm chiếu ny lông rồi vén lều đứng dậy
bước ra ngoài vừa đi hắn vừa nói:
– Tao phải đi một vòng
mới được.
Nói rồi hắn vội vã bước đi trong màn đêm trừ
tịch. Chính là Đại đội trưởng khoá sinh nên không có giờ phiên
gác như những khoá sinh viên, mà hắn chỉ có nhiệm vụ tuần tra
đốc canh mà thôi.
Bóng Chính vừa khuất trong tầm nhìn,
tôi vói tay tìm bao thuốc lá rút một điếu châm lửa rồi ngã đầu
trên chiếc ba lô rít một hơi thuốc dài và hít sâu vào phổi cho
thật đã, tôi nhả làn khói qua ánh sáng lờ mờ của điếu thuốc bay
lên nóc lều rồi tự tan biến đi.
Tôi nhắm mắt lại suy nghĩ
miên man, vị đắng của điếu thuốc lá đen thắm trên bờ môi và thắm
sâu tận đáy tâm hồn với một tâm trạng ưu tư, buồn, thương,
nhớ... vì đây là đêm giao thừa của cái Tết đầu tiên trong cuộc
đời quân ngũ và cũng là lần đầu tiên mà tôi phải xa nhà trong
cái giờ phút thiêng liêng truyền thống này. Chính trở lại vén
lều chui vào cũng là lúc điếu thuốc tôi vừa tàn, hắn vừa thu dọn
chỗ nằm vừa hỏi:
– Ngủ rồi sao mậy? Thuốc đâu rồi cho tao
đốt một điếu.
Tôi trả lời với giọng nhừa nhựa buồn ngủ:
– Ngủ sao được mà ngủ, cái Tết đầu tiên xa nhà tao cảm giác
làm sao ấy! Mầy thế nào nói tao nghe với.
Hắn không trả
lời tôi mà chỉ đưa lại cho tôi bao thuốc sau khi gắn điếu thuốc
lên môi bật lửa, hắn rít liên tiếp mấy hơi dài một cách ngon
lành, vừa nhả khói vừa trả lời tôi với giọng buồn buồn:
–
Tao thì chả cảm giác mẹ gì, những cái tết vừa qua tao cũng lang
thang với mấy thằng bạn, năm nay vào đây thì cũng là con “Bà
Phước” có ma nào thăm viếng gì đâu, vẫn thế! Vẫn thế! Vẫn là cô
lữ đêm đông không về nhà.
Sau một hơi thở dài và rít một
hơi thuốc lá đen hắn cất tiếng hát nho nhỏ chỉ vừa đủ 2 đứa nghe
trong đêm vắng sắp tàn canh với giọng hát trầm buồn và khào khào
của hắn nghe thật là buồn.
“Đêm đông...!
ta mơ giấc mơ
gia đình yêu đương...
đêm đông ta lê bước chân phong trần tha
phương...
có ai thấu tình cô lữ đêm đông không nhà.”
Chính dứt tiếng hát hình như có tiếng nấc và uất nghẹn trong cổ
họng, tôi nghĩ có lẽ nội tâm hắn có chuyện buồn gì đó mà hắn
không tiện nói ra mà cứ để trong lòng nên có lúc thấy trên gương
mặt có nét đăm chiêu suy tư khi đứng một mình và đốt thuốc liền
tay, Chính lại đốt thêm điếu thuốc nữa, tôi cố tình lái sang
chuyện khác và thiếp đi lúc nào không hay cho đến khi nghe tiếng
còi tập họp đại đội của Chính tôi mới choàng dậy.
Tôi vội
vàng chỉnh trang quân phục chạy vào hàng quân tập họp để trở về
vị trí một ngày bình thường của người khoá sinh/DBSQ giai đoạn 1
đi ứng chiến Tết.
Tôi và Chính suốt 7 ngày đêm thường hay
tâm sự khi nằm chung với nhau trong lều vải những buồn vui và
thế sự của cuộc đời. Hắn đã nói với tôi về những mơ ước thật
bình thường không cao vọng nếu một mai hắn không còn làm thân
lính chiến.
Chính nói:
– Nếu tao không chết ở
chiến trường thì tao mong mỏi được lành lặn và đầy đủ tay chân
khi trở về đời sống dân sự, tao rất sợ khi trở về trên đôi nạng
gỗ hay phải ngồi trên chiếc xe lăn. Thà là được phủ màu cờ để
được lên “LON” giữa 2 hàng nến một lần trong vinh quang còn hơn
là kéo lê suốt một kiếp người bằng một mảnh thân tàn phế.
Rồi Chính ngâm nga:
“Ước mơ bé nhỏ vô cùng
Một
gian nhà nhỏ đôi dòng khoai lang
Thế thôi mà lại mười phương
Hai mươi năm lẻ chưa tròn ước mơ.”
Niềm ước mơ của Chính
thật là bình dị thế mà hắn cũng không có được trong cuộc đời.
Chính đã nằm xuống, chưa chắc gì đã có một chiếc quan tài gói
xác thì nói chi đến chuyện phủ màu cờ và lên “LON” giữa 2 hàng
nến chong. Ôi! Xót xa thay một kiếp người! Tuần lễ ứng chiến
trôi qua chúng tôi trở lại quân trường chuẩn bị cho buổi lễ gắn
“Alpha” tạm cho 8 tuần Chiến Dịch để tuyên truyền cho cái Hiệp
Định Paris vừa ký.
Có lẽ trong QLVNCH chỉ có duy nhất
khoá 10B/72 là khoá duy nhất có 2 lần làm lễ gắn “Alpha” và tại
trung tâm huấn luyện Quang Trung lần đầu tiên và duy nhất có
buổi lễ gắn “Alpha” cho KS/DBSQ có 2 con cá vàng trên bâu áo để
đi chiến dịch.
Thế là bọn tôi cũng tạm chia tay mỗi người
mỗi nẻo trên khắp các Tiểu khu của Quân Đoàn III & IV chiến
thuật.
Từ đó tôi và Chính không còn gặp nhau cho đến khi
chiến dịch kết thúc rồi chúng tôi cùng trở lại quân trường để
sửa soạn ngày lễ hoàn tất giai đoạn căn bản quân sự rồi tiếp tục
lên đường thụ huấn giai đoạn 2 [tại quân trường] Đồng Đế.
Có một câu chuyện vui vui và cũng khá buồn cười mà có lẽ chỉ
có khoá 10B/72 mới có mà thôi.
Câu chuyện là như thế này:
khi kết thúc chiến dịch trở về thì có lệnh từ Cục Quân Huấn là
phân nửa phải đi Đồng Đế thụ huấn giai đoạn 2 còn một nửa được
đưa sang trường Bộ Binh Thủ Đức (với quân số toàn khoá vào
khoảng 1,100), và sẽ có cuộc bắt thăm hên xui được tiến hành và
có kết quả ngay sau đó. Lệnh từ BCH/TTHL Quang Trung cho phép
chúng tôi được hoán đổi nếu có sự thoả thuận của đôi bên.
Đa số khoá chúng tôi thuộc Vùng III & IV chiến thuật đều
muốn được thụ huấn giai đoạn 2 ở Thủ Đức, chỉ một số ít ở Vùng I
& II thì lại muốn thụ huấn ở Nha Trang mà thôi.
Thế là có
một cuộc thương lượng trao đổi có điều kiện xảy ra. Tôi thì
trúng thăm đi Nha Trang, tôi cũng muốn tìm người trao đổi để
được ở lại Thủ Đức nhưng không có đành chịu.
Chính thì
trúng thăm Thủ Đức nhưng không hiểu vì lý do gì mà hắn lại hoán
đổi cho người bạn học cũ ở lại Thủ Đức không điều kiện, gặp hắn
tôi thắc mắc thì hắn vừa cười vừa trả lời:
– Tao muốn đi
Nha Trang với mày cho có bạn.
Tôi biết câu trả lời này
của Chính không thật nhưng nội dung câu nói cũng làm cho tôi cãm
xúc một phần. Trớ triêu thay! Đến giờ thứ 24 thì một Quân Lệnh
sau cùng từ cục Quân Huấn là cả khoá 10B/72 đều đi thụ huấn giai
đoạn 2 ở trường HSQ Đồng Đế, Quân Lệnh này đã làm dở khóc dở
cười một số khoá sinh vì muốn được gần gia đình nên phải mất đi
một số hiện kim hay hiện vật.
Thế là chúng tôi lên đường
trực chỉ Nha Trang:
“Đồng Đế đêm ngày nghe sóng vỗ
Dây
tử thần không làm bận chí nam nhi.” – Đời Lính Phong Sương
Tôi và Chính ít liên lạc hay gặp nhau từ dạo đó, bởi vì khi
được đưa ra Đồng Đế thụ huấn giai đoạn 2 thì mỗi đứa ở riêng một
đại đội nên suốt giai đoạn 2 tôi và Chính chỉ gặp đôi lần gì đó
ở câu lạc bộ hay quán chè Đông & Tây mà thôi. Cho đến ngày mãn
khoá chúng tôi ra trường mỗi đứa đi về một nơi, tôi cũng không
biết Chính về đơn vị nào và ngược lại cho đến khi biết được hắn
không còn trên cõi đời này nữa.
Có một chút bàng hoàng và
xốn xang tận đáy lòng, hai mắt cay xoè và hình như có những giọt
nước mắt đang rơi xuống lúc nào tôi chẳng kìm được khi hay tin
Nguyễn Đức Chính không còn nữa.
Tôi khóc đây không phải
cho riêng mình Nguyễn Đức Chính mà tôi khóc cho tất cả những
người đã nằm xuống trong những trại tù cộng sản như tôi đã chứng
kiến và chính bàn tay tôi đã có tham gia đào đất chôn xác 2
người bạn tù bị bắn chết trong trại tù Cây Cầy “A” Đồng Ban, Tây
Ninh. Đó là Cố Trung uý TQLC Nguyễn Nguyên Hoàng (K25/VB Đà Lạt)
và cố HQ Trung uý Mai Vỹ Hạnh, và có thể còn rất nhiều người
giống như vậy trong những trại tù từ Nam ra đến Bắc.
Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Nguyên Hoàng, Mai Vỹ Hạnh, v.v.!!! các
anh đã nằm lại trên quê hương một cách tức tưởi, đau đớn, và căm
hờn.
Thôi các anh hãy yên nghỉ và nghe trong gió tiếng
thở than oán hận về số phận điêu linh của dân tộc Việt trong 33
năm qua dưới sự thống trị độc tài của đảng csVN. Chúng tôi những
người bạn còn lại trên cõi đời này luôn nhớ đến các anh, những
đồng đội đã một thời cùng kề vai chiến đấu. Kính xin truy tặng
hương linh các anh bài thơ “NGÀY LÊN ĐƯỜNG” của nhà thơ lính
PHAN LẠC GIANG ĐÔNG. Ngày lên đường – Cha đi chiến đấu.
Không có gì để tặng con thơ
Dòng họ di truyền một bầu máu
nóng
Chảy nồng nàn trong thân thể Cha
Ngày lên đường – Cha
không nhớ rõ
Sớm thu buồn hay sương lạnh đêm mưa
Xa xôi
quá! Làm sao nhớ được.
Ngọn cỏ ưu phiền giăng bước chân
khuya
Gươm Can Tương un hồn thiêng sông núi
Chôn nghìn năm
trên chót vót non cao.
Cha để đó! Con tìm cho thấy
Gươm Tung Hoành gió lộng ngàn sao
Hành lý đời Cha hồn mây
phiêu bạt
Đếm âm thầm từ độ đông qua
Quan san đó ngàn
người dong ruổi
Bạc áo phong trần bạc hết ngày xanh
Hoài
bão đời người theo từng chiếc lá
Rụng lối về ngập cả đường xa
Nếu một mai theo bạn bè nằm xuống
Để lại cho con bát máu hồng
Chiến bào đó con mặc vào che lửa đạn
Ngựa hồng ơi! Hãy giục
vó câu
Rừng thu rồi cũng thay màu lá
Màu lá xanh ngời nhịp
thúc tiếng ca.
Nguyễn Đức Chính! Bây giờ anh đã ngủ yên
rồi, tôi và các đồng đội khoá 10B/72 còn tồn tại trên quả đất
luôn luôn tưởng nhớ đến anh người bạn đồng ngũ đã một thời ôm
súng trận giữ Quê Hương. Hôm nay dù nước đã mất nhà đã tan nhưng
cái tên Nguyễn Đức Chính sẽ bất diệt trong lòng tất cả những
đồng đội khoá 10B/72 nơi này.
Rồi mùa xuân thứ 36 lại về
kể từ lúc tôi và anh không còn nằm chung trong lều vải nữa – sau
cái đông tàn lạnh lẽo này. Tôi đang nhớ đến anh và nhớ tất cả
những kỷ niệm tôi và anh có được tuy bất chợt ngắn ngũi nhưng
rất ấm áp nồng nàn trong trong cái thâm tình đồng đội. Tôi đang
nghe Thiên Kim hát bài “cuộc chờ vô vọng” hay quá! Hãy cùng
thưởng thức với tôi Chính nhé!
Cuộc Chờ Vô Vọng
Tác
giả: Đinh Trầm Ca
“Này hỡi người tình!
sao anh không
lại?
sáng nay con chim hót trên đồi thương nhớ!
Này
hỡi người tình!
sao anh không về?
tối qua em nghe gió trên
đồi than van!
Hè đến thu qua đông sang,
mùa xuân héo
khô bao dung nhan mà chưa thấy anh về
em ngồi chờ một mình!
Nhà trống mênh mang mênh mang,
từng cơn gió du sang du sang
ngỡ chân bước anh về
ơi hỡi gió ơi!
Này hởi người
tình!
sao anh biền biệt?
phải chăng anh không có trên trần
gian nữa!
Là hết đợi chờ!
Thôi anh yên ngủ
tháng năm có
tiếng gió trên đồi thở than.”
Chào vĩnh biệt NGUYỄN ĐỨC CHÍNH.
Cuối THU 2008
TRẦN ĐÔNG KINH

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by psxh chuyển
Đăng ngày thứ Bảy, January 31, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH