Gia
Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Phiếm
Xuân
Chủ đề:
rồng...
Tác giả:
Francis Assisi Lê Đình Bảng
Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Trong thế giới muôn hình muôn vẻ của
“giống má”, có lẽ chỉ có con Rồng là lạ hoắc, chẳng rõ ngọn ngành
nó ra làm sao. Khi hư khi thực, lúc ẩn lúc hiện, vừa dữ tợn, vừa
hiền khô. Chẳng hiểu Rồng xuất hiện trên trái đất này từ đời thuở
nào và đến nay có còn rơi rớt chút gì về tông tích không? Chỉ
biết một cách rất ư hàm thụ rằng nó thuộc diện biểu động vật
V.I.P... kể cả lớp hậu duệ bảy mươi bảy đời của nó là “Khủng
long” tuyệt chủng từ khuya – những con vật mang hình thù, diện
mạo cổ quái, đến nỗi chỉ nghe nói thì người ta đã khóc thét lên.
Cũng may, tàn dư hậu tích của chúng chỉ còn là những bộ xương
cồng kềnh vô hồn được trưng bày trong các phòng thí nghiệm động
vật hoặc giả được máy móc hóa để dàn dựng mua vui cho đám trẻ con
hiếu kỳ trong thể loại phim hoạt hình. Đến như sách thánh Khải
Huyền mà còn phải đặc tả: “Đó lá một con Rồng lớn, toàn thân đỏ
như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện.
Đuôi nó quét hết một phần ba tinh tú trên trời mà quăng xuống
đất. Rồi con Rồng đứng chực sẵn trước mặt người phụ nữ sắp sinh
con, để khi bà hạ sinh xong là nó nuốt chửng ngay đứa con của bà”
(KH 12,1).
Nếu ở bên Tây bên Mỹ và vùng cận Đông, hình tượng và thuộc tính
của Rồng ghê tởm, xơ cứng, hung dữ bao nhiêu thì đối với phương
Đông – đặc biệt vùng Đông Bắc và Nam Á – nó lại hiền như đất,
thật như đếm, mềm nhũn như con chi chi bấy nhiêu. Thậm chí, Rồng
còn được cất nhắc lên, xếp vào hạng mục “tứ linh” cùng với “lân,
quy, phượng”, là biểu tượng cho những chuẩn mực giá trị về văn
hóa tâm linh: cao quý, phúc đức, sung mãn... Đọc Vỹ Thư Pháp và
Thượng Thư Trung Hậu bên nước Ngô thuật truyện “Vua Nghiêu đi
chơi sông Hà, thấy con Rồng đỏ; Vua Thuấn đến xứ Hạ Tắc gặp con
Rồng vàng”, mới hiểu hàm ý của tác giả: Hẳn hai đấng minh quân là
Vua Nghiêu Vua Thuấn đã có cơ duyên gặp được Rồng là điềm lành,
vận tốt mở ra một “thuở thái bình, cửa thường bỏ ngỏ”, Vua sáng
tôi hiền, trăm họ ấm no hạnh phúc. Chẳng thế mà hình ảnh, màu sắc
cùng tư thế uốn lượn sinh động của Rồng thường xuyên được mô tả,
ký họa, bài trí, điêu khắc rất hoành tráng trên các đền đài, lăng
tẩm, vương trượng, trang phục, văn võ miếu, ngai báu của hầu hết
các vua chúa, hoàng tộc, danh gia xưa. Con nhà dân giả nào dám
bén mảng, xí phần?
Ở Việt Nam ta – một dân tộc khởi thủy
từ nền văn minh lúa nước – trong cái nhìn và quan niệm rất riêng
– chuyện con Rồng vừa mang màu sắc kỳ bí của huyền thoại, lại vừa
toát ra đậm đà tính hiện thực, đôi lúc pha trộn ít nhiều sự bông
đùa, ví von của dân gian. Có “Rồng bay phượng múa”, “Rồng đến nhà
tôm”, “song Long chầu ngọc”; đồng thời cũng có “gan Rồng, mỡ
phượng” và “vẽ Rồng vẽ rắn”... Rõ nét hơn cả là truyền thuyết
mang nặng tính văn hiến văn vật khẳng định về nguồn gốc phát sinh
của người mình: con Rồng cháu Tiên. Tiên và Rồng – dù chỉ là sản
phẩm của hư cấu, của tưởng tượng – vẫn được mặc nhiên công nhận
là cặp – vật – tổ, một cặp âm dương hòa hợp, thủy tổ của người
mình. Trong đó, Tiên được trừu tượng hóa từ chim Hồng chim Lạc,
đúc kết nên Mẹ–Âu–Cơ đẻ trăm trứng nở trăm con; Rồng được trừu
tượng hóa từ rắn–cá sấu–thuồng luồng, hình thành Cha–Long–Quân.
Cả hai đều mang ý nghĩa truyền sinh hóa kiếp, làm chủ nguồn lực
phong phú của núi non, đất đai, cương vực, sông biển. Có thể tìm
thấy dấu tích của mảng “văn hóa Rồng” ấy khi mở sách Tiền Hán
Thư, đọc lại truyện người Giao Chỉ cổ đại có tục xâm vẽ nhiều
hình nét lên thân thể (văn thân) khi xuống nước, đi thuyền hoặc
qua sông, vượt biển, khi phải đấu tranh với những thủy quái mà họ
gọi là “giao long” nổi lên quấy phá mùa vụ làng nghề. Để chọn thế
hướng đất, để xây dựng quy hoạch thổ cư, đình chùa, miếu mạo, kho
tàng, giếng làng, nhà vườn, đường xá, cầu cống, ao chuôm, thuật
“phong thủy” dạy người ta phải tuân thủ nghiêm ngặt cái nguyên
tắc cố hữu của ngũ hành “tả thanh long, hữu bạch hổ”, có nghĩa là
Rồng bên trái, hổ bên mặt, trọng hướng Đông hơn hướng Tây. Ngay
cả đến việc tìm đất (tầm long) tổ tiên ta cũng không dám xem
thường. Phải sử dụng một công cụ gọi là “tróc long”, tạm hiểu như
là cái la bàn, để dò tìm đất tốt xấu, có đủ vượng khí, dài hơi.
Và một khi đã xác định được phương hướng, chủ mạch chỗ đất tốt
(long mạch) thì mới ra tay khai phá, làm nhà, gieo vãi, nuôi
trồng để an cư lạc nghiệp.
Không lạ gì, Rồng cũng đã có mặt – cùng
với chim và rùa – trong bộ vật biểu tượng của người mình. Rồng là
con vật do nhà nông vùng Nam Á tưởng tượng ra trên cơ sở nguyên
mẫu là cá sấu và rắn. Tính cách thiên trọng tình cảm và hiếu hòa
của mình – theo lý giải của các nhà nghiên cứu dân tộc học – đã
biến Cá sấu – Rắn ác độc, xấu xí thành con Rồng hiền lành, dễ
thương. Rồng là con vật hội đủ hai nét đặc trưng căn bản là tổng
hợp và linh hoạt với các đối lập nước – lửa; đất – trời. Bản thân
nó sinh ra từ nước (thủy long, tiềm long, long vương), có thể bay
lên trời cao (thăng long), vừa phun nước thành mưa, lại vừa phun
lửa, dự báo một điềm gở mà ta thường gọi là hiện tượng “vòi rồng”
trong chuyển đổi thời tiết khí hậu thuỷ văn của vũ trụ. Tóm lại,
có phải là nghịch lý chăng, trong khi văn hoá duy lý thực nghiệm
và sùng thượng sức mạnh cơ bắp của Âu Mỹ xem trọng những con thú
dữ như sư tử, hổ, chó sói, chim ưng, đại bàng thì phương Đông có
vẻ như ưa chuộng những con vật hiền lành, gần gũi với đời thường
như trâu bò, hươu nai, chó, gà lợn, rắn rùa. Khi con cá “vượt vũ
môn” để hoá kiếp thành Rồng cũng chỉ là biểu tượng của một ước
vọng muốn đổi đời, từ hàn vi đến xuất chính để kinh bang tế thế,
từ đói kém cơ nhỡ đến ăn nên làm ra, phát tài phát lộc, nở mặt nở
mày với thiên hạ. Trẻ con ta ở nhà quê, chẳng mấy đứa không thuộc
nằm lòng bài đồng dao “Rồng rắn lên mây, có cây ngũ sắc, có nhà
hiển vinh”? Và cả đến bao thế hệ nho sĩ, hiền nhân quân tử, ai
chả đợi mong khao khát đến cháy lòng cái cơ may ngàn năm một thuở
để đổi đời, thay vận:
“Rồng mây khi gặp hội ưa duyên,
Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ
Đường
mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng
trang trắng vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ
túi, rượu bầu”
–(Nguyễn Công Trứ)
Như trên đã nói, đất nước – dân tộc nào
mà chả có cả một gánh, một bồ những huyền thoại. Căn cước, hộ
tịch của người Việt mình rõ ràng thuộc dòng dõi “con Rồng cháu
Tiên” đứt đuôi con nòng nọc rồi đấy nhé. Mà đã gọi là huyền thoại
thì y như rằng phải nhắm mắt mà tin như thánh phán. Ai hồ nghi,
ấm ớ hội tề là đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc ngay. Cho nên, hễ
người đã là Tiên là Rồng thì đất nước ắt cũng phải linh thiêng,
bờ xôi ruộng mật mới xứng hợp. Không tin, cứ đi khắp mọi miền quê
hương gấm vóc này mà coi, đâu đâu cũng thấy những Rồng là Rồng.
Nói một cách nôm na, Việt Nam ta có hẳn một mảng “văn hoá địa chí
Rồng”.
Thật
bất ngờ, địa danh mang tên Rồng lâu đời nhất nước ta là thủ đô Hà
Nội. Số là, xửa xưa, Hà Nội mang tên Long Đỗ, cái rốn, cái bụng
con Rồng. Mãi đến năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Hà
Nội và đặt tên là Thăng Long, vì theo chuyện kể, nhà vua thấy
vượng khí của mảnh đất mới này bay lên, nom cứ như là một bầy
rồng múa lượn, quấn quýt. Cả đến cái truyền thuyết Rùa vàng ngậm
gươm báu dâng vua Lê đặng trị quốc an dân sau này cũng mang ý
nghĩa tương tự. Phía hữu ngạn sông Hồng, có Long Biên; nội vi Hà
Nội có Hàm Long. Đã có Thăng Long để Rồng bay lên thì phải có bãi
đáp Hạ Long để Rồng hạ cánh chứ. Vịnh Hạ Long, một quần thể đảo
với hàng nghìn ngọn núi đá vôi xen lẫn núi đất mang nhiều hình
thù, trông tựa nghìn con Rồng chìm nổi rủ nhau bơi lội tắm mát
ngoài khơi. Chính vì vẻ đẹp kỳ vĩ ấy, Hạ Long đã được UNESCO công
nhận là một trong 630 di sản văn hoá thế giới (1994). Ngoài ra,
về phía Đông vịnh Hạ Long, còn thấy Bái Tử Long; phía Tây Nam là
đảo Phù Long (Rồng nổi), tên cũ của đảo Cát Bà và ngoài khơi tỉnh
Quảng Ninh là cụm đảo Bạch Long Vĩ, đặc biệt ở núi Long Tu có
loài cỏ quý chữa bá bệnh, vốn được bảo quản để làm ngự y tiến
vua. Càng xuôi vào phương Nam, càng thấy xuất hiện nhiều địa danh
mang tên Rồng. Ở Nam Định có chợ Rồng nổi tiếng. Ở Thanh Hoá có
núi Hàm Rồng hiên ngang bên bờ sông Mã. Ở Quảng Bình có núi Thanh
Long, Long Tị, Phúc Long, nơi Đào Duy Từ (1572–1634) xây luỹ
Trường Dục và viết nên khúc ngâm “Ngọa Long Cương vãn” thác ngụ
chí khí ẩn nhẫn chờ thời khi mở cõi ở đất phương Nam.
“Chốn này thiên hạ đời dùng,
Ắt là cũng có Ngọa Long ra đời.
Chúa hay
dùng đặng tôi tài,
Mừng xem bốn bể dưới
trời đều yên”.
Tại huyện Phú Lộc (Thừa Thiên–Huế) có
núi Rồng; ở Huế có núi Kim Long (có chùa Thiên Mụ), một thắng
cảnh tầm cỡ, đặc biệt phụ nữ rất đẹp, đến nỗi vua Tự Đức đã phải
dan díu làm nên câu thơ tán dương:
“Kim Long có gái mĩ miều
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi”.
Bình Định có núi Hàm Long, Biên Hoà có
núi Bửu Long, Long Ẩn; Hà Tiên có núi Dương Long. Đấy là chưa kể
đến con sông Mekong chảy qua năm nước, khi vào Việt Nam, rẽ ra
chín cửa, gọi là Cửu Long giang và khu vực vựa lúa của cả nước
rộng hơn bốn triệu ha là đồng bằng sông Cửu Long. Từ Sài Gòn đi
các tỉnh miền Đông Nam bộ, ta bắt gặp Long Khánh, Long Thành,
Long Đất, Long Sơn, Long Điền, Long Giao (Đồng Nai–Bà Rịa–Vũng
Tàu), Phước Long, Bình Long (Bình Phước); về sông nước miền Tây
Nam bộ, sẽ gặp Long An, Long Định (Tiền Giang), Long Hồ (Vĩnh
Long), Long Mỹ (Cần Thơ), Long Xuyên (An Giang), Long Phú (Sóc
Trăng)... Nếu phải liệt kê xã, ấp mang tên con Rồng, e khó mà kể
xiết. Và sẽ là một thiếu sót không tha được, nếu không nhắc đến
Cảng Nhà Rồng lịch sử, nghe đâu có xuất xứ từ đời vua Gia Long
thì phải?
Còn
nhớ những ngày này năm 2010 – nhân kỷ niệm “Nghìn năm văn hiến
đất Thăng Long” cả nước ta đã một phen choáng ngợp với các lễ hội
hoành tráng, xa xỉ. Bao nhiêu công sức, của cải dường như được
huy động cả vào đấy. Vô khối công trình đến nay vẫn còn ngất ngư
con tàu đi, vì xuống cấp rã rời mau chóng. Chẳng lẽ mới đây thôi
mà khách nhàn du phải ngao ngán đọc lại câu thơ cũ của nữ sĩ
Thanh Quan:
“Tạo
hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay, thấm
thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn
thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”
Francis Assisi Lê Đình Bảng
(Sydney, 23 đưa ông Táo)
Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
THIÊN SỨ MICAE – BỔN MẠNG SĐND VNCH
|
Hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
Nguồn: Internet eMail by san le d chuyển
Đăng ngày Chúa Nhật, February 11, 2024
Ban Kỹ Thuật
Khóa 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH
GĐMĐVN/Chi Hội Hoa Thịnh Đốn & Phụ cận
P.O.Box 5345 Springfield, Virginia, VA 22150
Điện thoại & Điện thư:
Liên lạc
Trở lại đầu trang