

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Bút Ký
Chủ đề:
lính kể
Tác giả: Ngô Xuân Hùng




bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Tổ Quốc Tri Ân
những
Anh Hùng QLVNCH đã hy sinh
cho Tự Do Dân Chủ cho miền Nam
Việt Nam
Biệt Kích Sở Bắc, Biệt Hải, Hắc
Long, Lôi Hổ, Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Lực Lượng Ðặc
Biệt,
Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến,
Biệt Ðộng Quân, Không Quân, Hải Quân,
các Sư Ðoàn Bộ Binh QLVNCH, Thiết Giáp, Ðịa Phương Quân, và Nghĩa Quân... của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Gia
Thế của Cố Ðại tá Ngô Thế Linh
Ðại tá Ngô Thế Linh là
một chiến sĩ chiến đấu cho tự do dân chủ trong suốt cuộc đời
của ông. Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1928 tại làng Thổ
Hoàng, quận Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh miền Bắc Việt Nam, tên
gọi là Ngô Xuân Tường. Hà Tĩnh, Nghệ An, và Thanh Hóa là
những vùng nổi tiếng đào tạo nhiều anh hùng Việt Nam với đặc
tính kiên trì, dũng cảm, và bất khuất.
Ông là con
trai duy nhất của Cụ Ngô Xuân Huân (Tộc Trưởng đời thứ Tám
của dòng họ “Ngô Xuân”) và Bà Trần Thị Loan. Mẹ mất sớm khi
ông lên 4 tuổi. Năm 17 tuổi, Bố ông mất trong một tai nạn và
ông đã lớn lên trong sự đùm bọc của họ hàng. Ông của ông Ngô
Thế Linh đã làm Tể tướng Triều Ðình thời Vua Hàm Nghi (thay
Vua trị nước trong vòng 6 tháng khi Vua Hàm Nghi phải xa
triều đình). Tể tướng Giáo Hoàng xin về hưu vì bất mãn với
những việc người Pháp làm, nhưng vì có công với triều đình
nên được ân thưởng nhiều đất đai bao gồm cả sông và núi. Ông
Ngô Thế Linh là người em họ hàng của Thi sĩ Xuân Diệu (Ngô
Xuân Diệu). Dòng họ Ngô Xuân là một gia đình nho phong, giàu
có, và sùng đạo Công Giáo. Cũng vì những lý do này mà Việt
cộng đã cướp đất, chiếm đoạt tài sản, và giết nhiều người
trong làng của ông tại làng Thổ Hoàng, tỉnh Hà Tĩnh.
Những Năm Ðầu Tiên Chống Cộng ở miền Bắc (1946–1949)
Ông Ngô Thế Linh đã thụ giáo và đi theo tiếng gọi của Linh
Mục Cao Văn Luận và các Linh Mục ở những Giáo Xứ ở Hà Tĩnh,
Thanh Hóa, Nghệ An, Bùi Chu, Phát Diệm, và Bắc Ninh để tranh
đấu đòi tự do cho vùng đất Thanh–Nghệ–Tĩnh tách khỏi sự ảnh
hưởng cai trị của đảng cộng sản. Linh Mục Cao Văn Luận là
một vị Linh Mục rất chống cộng và luôn luôn tranh đấu cho lý
tưởng tự do dân chủ. Ông Ngô Thế Linh và một số thanh niên
Công Giáo Địa Phận Vinh (vùng Thanh–Nghệ–Tĩnh) đã sớm tham
gia vào những hoạt động chống cộng cùng với Linh Mục Cao Văn
Luận, nhằm chống lại ảnh hưởng của Việt Minh vào cuối thập
niên 1940.
Năm 21 tuổi, bị Việt Minh lùng kiếm để thủ
tiêu vì những hoạt động chống lại chúng, dưới sự bảo trợ của
các Giám Mục ông đã phải trốn vào Nam cùng với một số thanh
niên Công Giáo và tu sĩ, và ông đã đổi tên là Ngô Thế Linh.
Trên đường vượt thoát ông đã đi lẫn qua các làng nhỏ dọc
theo bờ biển để đi vào Nam và có lúc phải dùng ghe nhỏ để
vượt sông.
Sau khi vào Nam, năm 1952 tốt nghiệp Sinh
Viên Sĩ Quan Khoá 3 Thủ Ðức, Thiếu uý Linh về làm việc ở Bộ
Chỉ Huy Quân Khu II tại Huế. Sự nghiệp Sĩ Quan Tình Báo của
Thiếu uý Ngô Thế Linh bắt đầu từ năm 1953 tại Huế và Ðà
Nẵng. Từ các Bộ Chỉ Huy của Sở ở Đà Nẵng, Huế, và Sài Gòn
ông đã chỉ huy rất nhiều chuyến công tác tình báo tối mật
cho Việt Nam Cộng Hòa.
Cũng chính bằng những con
đường hẻo lánh dọc theo ven biển các vùng Thanh Hóa, Đồng
Hới, Quảng Bình, và Quảng Trị mà ông đã đi qua nhiều năm
trước đây khi trốn vào miền Nam, Thiếu uý Linh đã gởi rất
nhiều gián điệp Sở Bắc cùng lực lượng Biệt Hải (Nha Kỹ
Thuật) trở lại miền Bắc để tấn công các cơ sở quân sự, bắt
cóc sĩ quan Bắc Việt làm tù binh, gài mìn để đánh chìm tàu
bè, và phá hủy những cơ sở hạ tầng của cộng sản Bắc Việt
trên vùng duyên hải phía bắc của Vĩ Tuyến 17.
Khi còn
là Chỉ huy trưởng Sở Bắc, Đại uý Ngô Thế Linh đã hai lần
đích thân theo các biệt kích Sở Bắc ra vùng Nghệ An và Thanh
Hóa qua đường biển. Từ năm 1964 trở đi, để bảo toàn bí mật
của Sở ông đã không đích thân đi theo các toán nữa.
Tại đây Linh Mục Cao Văn Luận đã giới thiệu ông Ngô Thế Linh
với gia đình cụ Ưng Trạo để được làm bạn với cô Công Tằng
Tôn Nữ Ngọc Khuê (con gái của cụ Ưng Trạo).
Thiếu uý
Ngô Thế Linh và cô Công Tằng Tôn Nữ Ngọc Khuê đã thành hôn
vào năm 1953 tại Huế.

Bố vợ, cụ Ưng Trạo
(Quan Lộc Tự Khanh, Tùng Quan Phẩm Triểu Đình Huế) là cháu
nội của Hoàng Tử Trấn Biên (tên Huý là Miên Thanh) – con
trai út của Vua Minh Mạng). Cụ Ưng Trạo là bạn thân của
Thượng Thơ Ngô Ðình Khả (bố của Cố Tổng thống Ngô Ðình
Diệm).
Cụ Ưng Trạo cũng là cha đỡ đầu của Chuẩn tướng
Lê Văn Thân (Tư lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh) và ông Ngô Ðình Cẩn,
em trai của Cố Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Mẹ vợ, cụ bà Ưng
Trạo là chắt của Thánh Tử Ðạo Paul Tống Viết Bường (ông Ðội
Bường bị Vua Minh Mạng xử trảm vào khoảng thập niên 1840).
Anh vợ là cố Linh Mục Gioan Baotixita Bửu Ðồng cha Chánh
Xứ Giáo Xứ Sư Lỗ An Truyền, Nguyệt Biều, Ðịa Phận Huế (không
có trong hình), bị Việt cộng sát hại vào Tết Mậu Thân 1968.
Anh vợ là cố Trung tá Bửu Thiều (Khoá 4 Hoàng Diệu – Võ Bị
Quốc Gia Ðà Lạt) đứng sau cụ Ưng Trạo.
[ghi chú hình
ảnh: Ngồi hàng đầu: Trưởng Nam Ngô Xuân Huy (bên trái), Vĩnh
Quang (con trai của Trung tá Bửu Thiều), thứ nam Ngô Xuân
Hùng (thứ ba từ trái sang phải), Vĩnh Thao (cháu nuôi của Ôn
Mệ Ưng Trạo), và trưởng nữ Ngô Xuân Hương (được Bà Ngô Thế
Linh bế đứng bên phải).
Cố Hồng Y Phan–xi–cô Xavier
Nguyễn Văn Thuận (không có trong hình) là anh bà con thiêng
liêng của bà Ngô Thế Linh. Cardinal Thuận rất thân với Ðại
tá và bà Ngô Thế Linh. Cố Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Ðiền,
Giáo Phận Huế cũng rất thân thiết gần gũi với gia đình Cụ
Ưng Trạo.
Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục chụp hình
với hai cụ Ưng Trạo với các con và dâu rể trước Vương Cung
Thánh Đường Phủ Cam, Huế.
hình ảnh trích từ sách của
Pháp: một gia đình (An Nam) sùng Đạo lại chính là con cháu
của Vua Minh Mạng, người đã từng bắt đạo Công Giáo.
Gia đình chụp hình lưu niệm với Linh Mục Cao Văn Luận
(Cựu Viện Trưởng Viện Đại Học Huế) tại Cupertino, California
(1976).
Gia đình Ông Bà Ngô Thế Linh định cư tại
thành phố Cupertino
(tiểu bang California) vào ngày 23,
tháng 10 năm 1975.
Gia đình con cháu của Cụ Ưng Trạo
chụp hình lưu niệm với Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận tại thành
phố Frankfurt, Đức Quốc (2001).
Gia đình và con cháu
của Ông Bà Ngô Thế Linh chụp hình lưu niệm
trong ngày Giỗ
của Bà Ngô Thế Linh (San Jose, CA – 1996).
Gia đình
Ông Bà Ngô Thế Linh và mười hai người con (tám trai và bốn
gái) trong ngày đám cưới người con trai cả tại nhà thờ Saint
Joseph of Cupertino, California. Trong hình có 11 anh chị em
chỉ thiếu cô con gái đầu lòng.]
25 Năm đánh phá cộng
sản tại Bắc Việt (1949–1975)
Quyết định chọn binh
nghiệp để phục vụ nền Tự Do và Dân Chủ cho Việt Nam Cộng
Hoà, ông ghi danh vào trường Võ Khoa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức
và đã ra trường Khoá 3 năm 1952. Ông là bạn (cùng khoá) của
Cố Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, một vị Tướng Anh Hùng chống
cộng. Kể từ năm 1952, Thiếu uý Linh bắt đầu phục vụ tại Bộ
Tư Lệnh Quân Khu 2 tại Huế và Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I tại Ðà
Nẵng. Cùng những bạn bè khác, ông đã hoạt động và vận động
cho Thủ tướng Ngô Ðình Diệm về chấp chánh tại miền Nam Việt
Nam. Ðây là thời điểm trước Hiệp Ðịnh Geneva chia đôi đất
nước vào năm 1954.
Cuối năm 1956, Nha Tổng Nghiêm
Huấn Bộ Quốc Phòng giải tán. Vào đầu năm 1957, sau khi ổn
định chính quyền, Tổng thống Ngô Ðình Diệm cho Ðại uý Lê
Quang Tung thuộc Sở An Ninh Quân Ðội, Ðệ Nhị Quân Khu vinh
thăng cấp bậc thiếu tá và gửi đi tu nghiệp nước ngoài. Sau
khi tốt nghiệp, trở về nước năm 1958, Thiếu tá Lê Quang Tung
được vinh thăng đại tá và được Tổng thống bổ nhiệm làm Giám
đốc Sở Liên Lạc trực thuộc Phủ Tổng Thống.
Sơ Lược về
Sở Liên Lạc, Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Phủ Tổng Thống
(1958–1964) và hậu thân: Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu,
QLVNCH (1964–1975)
Sở Liên Lạc hoạt động với sự yểm
trợ và cố vấn của Sở Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (Central
Intelligence Agency – CIA). Sở Liên Lạc gồm nhiều bộ phận
quan trọng, trong đó có Sở Bắc (dưới quyền chỉ huy của Ðại
uý Ngô Thế Linh), Sở Nam (dưới quyền điều hành của Ðại uý
Trần Văn Minh), và Liên Ðội Quan Sát. Sở Nam có trách nhiệm
hoạt động trong miền Nam Việt Nam trong khi Sở Bắc có trách
nhiệm với tất cả các hoạt động biệt kích ở miền Bắc Việt
Nam, Lào, và Cam Bốt.
Ðầu năm 1962 vì Hà Nội đã bắt
đầu biết đến hoạt động của sở, Sở Liên Lạc được đổi thành Sở
Khai Thác Ðịa Hình, nhưng vẫn trực thuộc Phủ Tổng Thống. Sau
khi nền Ðệ Nhất Cộng Hòa bị đảo chánh tháng 11 năm 1963, với
nhu cầu và nhân lực của Sở gia tăng nhanh chóng, vào năm
1964 Sở Khai Thác Ðịa Hình trở thành Nha Kỹ Thuật, tách rời
ra khỏi Phủ Tổng Thống và được đặt dưới quyền chỉ huy của
Ðại tá Trần Văn Hổ, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên Thiếu tá Ngô Thế Linh, Chỉ huy
trưởng Sở Bắc, vẫn tiếp tục điều hành những đặc vụ Bắc Tiến
và các công tác tối mật ở Lào và Cam Bốt.
Tưởng cũng
nên nói thêm là Nha Kỹ Thuật chỉ là một “vỏ bọc” cho Bộ Tư
Lệnh Chiến Tranh Ngoại Lệ, một đơn vị ngang hàng với các Sư
Ðoàn Bộ Binh do một cấp Thiếu tướng làm Tư lệnh. Vì vấn đề
bảo mật cho đơn vị, nhân viên và các sĩ quan của các Sở và
Nha thường không bao giờ được đề cập đến trên báo chí, ngay
cả với các đơn vị bạn; khi nhận ân thưởng thì chỉ trong
khuôn khổ của đơn vị. Ðể biết thêm chi tiết về Nha Kỹ Thuật,
xin đọc bài: Lịch Sử Nha Kỹ Thuật (Trung tá Lữ Triệu Khanh)
và xem hình ảnh của những Anh Hùng Vô Danh.
1.
Trưởng
Phòng 45B (Phòng E), Chỉ huy trưởng Sở Bắc, Phủ Tổng Thống
Vào năm 1958, Tổng thống Ngô Ðình Diệm và Tổng thống
Eisenhower đã chính thức hợp tác với nhau qua Trung Ương
Tình Báo Hoa Kỳ (Central Intelligence Agency – CIA). Ông
William Colby đứng đầu Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ ở Sài Gòn
và bên Sở Liên Lạc vẫn là Ðại tá Lê Quang Tung (dưới sự điều
động trực tiếp của ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu). Cơ quan này là
bước khởi đầu phát động chiến tranh bất qui ước
(unconventional warfare) ngõ hầu thu thập các tin tức tình
báo và đánh phá cộng sản tại Bắc Việt.
Sau khi chỉ
huy nhiều công tác ra Bắc, Ðại uý Ngô Thế Linh đã được sự
tín nhiệm của Tổng thống Diệm, Cố Vấn Nhu, ông William
Colby, và Ðại tá Lê Quang Tung, và đã được giao phó nhiệm vụ
Trưởng Phòng 45 (Phòng E). Ðầu năm 1959, qua sắc lệnh của
Tổng thống Ngô Ðình Diệm, Ðại uý Ngô Thế Linh thành lập Sở
Bắc (từ Phòng 45 cũng gọi là Phòng E) và cũng là vị Chỉ huy
trưởng duy nhất của Sở.
Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham
Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Sở Bắc, cũng gọi là
SB (Special Branch) hoặc là Phòng 45B, là một tổ chức tối
mật trực thuộc Sở Liên Lạc, Phủ Tổng Thống, chỉ trực tiếp
báo cáo cho Tổng thống Diệm và một số rất ít các Cố Vấn An
Ninh Quốc Gia mà thôi. Sở Bắc hoạt động và điều hành các
điệp vụ Bắc tiến và ở Lào với sự yểm trợ của Trung Ương Tình
Báo Hoa Kỳ (CIA) tại Sài Gòn. Ðại tá Lê Quang Tung (Giám đốc
Sở Liên Lạc) và Ðại uý Ngô Thế Linh (Chỉ huy trưởng Sở Bắc)
hoạt động những điệp vụ (Ðặng Chí Bình, Nguyễn Hữu Luyện,
v.v.) ở Bắc cho đến ngày 1/11/1963, ngày các tướng lãnh đảo
chánh và lật đổ nền Ðệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Tổng thống
Ngô Ðình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, Ðại tá Lê Quang
Tung, và một số sĩ quan cao cấp của Phủ Ðặc Ủy Trung Ương
Tình Báo bị sát hại. Tuy nhiên Sở Bắc và Ðại uý Ngô Thế Linh
vẫn tiếp tục hoạt động như trước với Trung Ương Tình Báo Hoa
Kỳ với sự chấp nhận của các tướng lãnh QLVNCH.
Thiếu
tá Ngô Thế Linh (CHT Sở Bắc), Ðà Nẵng, 1964
Sở Bắc
(SB) hoạt động hoàn toàn bên ngoài sự kiểm soát và điều hành
của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Trong suốt thời gian từ ngày
thành lập (1959) cho đến hết ngày 1/11/1963, rất ít người
được biết đến Sở Bắc. Nhân viên của sở được huấn luyện ở
nước ngoài hoặc ở những nhà “an toàn” tại Sài Gòn, hoạt động
bí mật, dùng nhiều tên tuổi khác nhau, sống lẫn lộn trong
dân chúng, mặc đồ thường phục, mang vũ khí rất tối tân, được
tự do hoạt động với giấy phép từ Phủ Tổng Thống Việt Nam
Cộng Hoà. Hoạt động chính yếu của Sở Bắc là để huấn luyện và
gửi các toán dài và ngắn hạn ra Bắc nhằm thu thập tin tức
tình báo không những ở miền Bắc Việt Nam mà còn bao gồm các
điệp vụ trên đất Lào và Cam Bốt nữa. Nói chung, Sở Bắc và
Ðại uý Ngô Thế Linh đảm nhiệm tất cả các công tác thu thập
tin tức tình báo chiến lược bên ngoài lãnh thổ miền Nam Việt
Nam.
Giám đốc Nhân Viên của Trụ Sở Trung Ương Tình
Báo Hoa Kỳ (CIA) tại Sài Gòn, ông William Colby là người cố
vấn chính yếu trong việc điều hành và yểm trợ cho những đặc
vụ của Sở Bắc. Ðại uý Ngô Thế Linh mang bí danh là “ông
Bình”, nhân viên Hoa Kỳ gọi ông là “Mister Bing”. Ông làm
việc rất gần gũi với William Colby từ năm 1958 cho đến đầu
năm 1964. Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) trợ giúp phần
trang bị và đào tạo những gián điệp trường kỳ (long term
agents) ở Long Thành và Nha Trang và gởi đi từ Ðà Nẵng ra
miền Bắc, cũng như huấn luyện những toán Biệt Kích Biển (Lực
Lượng Biệt Hải).
[ghi chú hình ảnh: Ông William Colby
(Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ) thăm hỏi Biệt Kích Sở Bắc,
1962.
Biệt Kích Sở Bắc toán Bull (trang phục như đang
ở ngoài miền Bắc) tại Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Kích ở Long
Thành, 1961.
Toán Trưởng Nguyễn Ðức Nhơn đứng bên
trái ở hàng đầu.]
Với chức vụ Chỉ huy trưởng Sở Bắc,
Ðại uý Ngô Thế Linh tuyển chọn, chỉ huy và điều hành những
nhân viên tình nguyện ưu tú cho những điệp vụ nguy hiểm và
tối mật ra Bắc. Ngoài các bộ phận không vận xâm nhập bằng
đường hàng không (với Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ), Sở Bắc còn có
thêm hai Chi Cục (Atlantic và Pacific) đặt tại Huế và Ðà
Nẵng để xâm nhập bằng đường bộ và đường thủy qua Vĩ Tuyến
17. Ông đã thành lập và chỉ huy Lực Lượng Biệt Hải. Toán
Biệt Hải đầu tiên thành hình gồm có những quân nhân ưu tú
của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đa số thuộc Liên Ðoàn 77 Lực
Lượng Ðặc Biệt và Hải Quân. Họ được huấn luyện ở tại Nha
Trang, Ðà Nẵng, và Ðài Loan dưới sự trợ giúp của Lực Lượng
Ðặc Biệt và Hải Quân Hoa Kỳ (SEAL). Từ năm 1961 đến 1963, Sở
Bắc và Ðại uý Ngô Thế Linh đã thực hiện trên bốn mươi toán
Biệt Kích và Gián Ðiệp Trường Kỳ ở Bắc Việt qua đường biển,
đường bộ, và thả các toán từ máy bay. Những phi vụ này được
đặt dưới sự điều hành của Trung tá Không Quân Hoa Kỳ Bill
Rose với bốn chiếc C–123 không số (Air America – First
Flight Detachment).
Máy bay C–46 thả các toán Biệt
Kích Sở Bắc và tiếp liệu vũ khí trên không phận Bắc Việt,
1961.
Riêng năm 1961, Ðại uý Ngô Thế Linh đã trực
tiếp bay ra Bắc (xuyên qua không phận Lào) với Thiếu tá
Nguyễn Cao Kỳ qua những chuyến đưa toán ra Bắc đầu tiên của
Sở bằng máy bay C–46. Cho đến cuối năm 1962, Biệt Kích Sở
Bắc đã nhảy đến 22 toán (Bell, Remus, Easy, Tourbillon,
v.v.) bằng máy bay. Ngoài ra, Ðại uý Linh và ông William
Colby cũng đã gởi những gián điệp xâm nhập bằng đường biển
ra đến Ðồng Hới, Cẩm Phả, Vinh, và Thanh Hóa với những
thuyền nhỏ ngụy trang như thuyền đánh cá. Những chuyến đi
này Sở dùng những người ngư phủ Bắc di cư vào Nam năm 1954
để đóng tàu, và hơn nữa họ rất thông thạo địa hình và dễ trà
trộn vào những làng ven biển để hoạt động ngầm cho Sở. Sau
này, Sở Phòng Vệ Duyên Hải được thành lập để đưa Biệt Kích
ra Bắc bằng đường biển được hữu hiệu hơn.
Trung uý
Trần Kim Khánh – Thiếu tá Ngô Thế Linh (Sở Bắc), Ðà Nẵng,
1964
Kể từ ngày thành lập Sở Bắc, ông Ngô Thế Linh và
ông William Colby đã nới rộng Chiến Tranh Bất Quy Ước trên
lãnh thổ Bắc Việt, Miên, và Lào. Ông William Colby sau này
trở thành Giám đốc Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ từ 1973
cho đến 1976 (Director of Central Intelligence Agency) dưới
thời Tổng thống Richard Nixon và Tổng thống Gerald Ford.
MACV–SOG The Legacy
1969, tuyên dương công trạng
trước Quân Đội, Trung tá Ngô Thế Linh nguyên Chỉ huy trưởng
Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa.
2. Chỉ huy trưởng Sở Phòng Vệ
Duyên Hải – Biệt Hải (Coastal Security Service)
Kể từ
đầu năm 1964, Sở Bắc được tách rời khỏi Bộ Tư Lệnh Lực Lượng
Ðặc Biệt và trở thành Sở Kỹ Thuật trực thuộc Bộ Tổng Tham
Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà do Ðại tá Trần Văn Hổ làm
Giám đốc. Thiếu tá Ngô Thế Linh được bổ nhiệm ra Ðà Nẵng để
thành lập Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVDH) và là vị Chỉ huy
trưởng đầu tiên của sở này.
[ghi chú hình ảnh: Bộ Chỉ
Huy Sở Phòng Vệ Duyên Hải chụp tại Ðà Nẵng, 1964 (Từ trái
sang phải: không rõ, Ðại uý Trương Duy Tài – CHT LLBH, Ðại
uý Lâm Nhật Ninh – Liên toán trưởng các toán Biệt Hải, Thiếu
tá Ngô Thế Linh – CHT Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Trung uý Trần
Kim Khánh, Chánh văn phòng của Thiếu tá Linh)]
Sở
Phòng Vệ Duyên Hải bắt đầu với hai Chi Cục của Sở Bắc, chi
cục Atlantic ở Huế với Trung uý Trần Bá Tuân, và chi cục
Pacific ở Ðà Nẵng với Ðại uý Hà Ngọc Oánh. Nhân viên của hai
chi cục này là bộ phận nòng cốt đầu tiên của Sở. Sở Phòng Vệ
Duyên Hải còn có thêm hai lực lượng chính yếu là Lực Lượng
Biệt Hải và Lực Lượng Hải Tuần.
Lực Lượng Biệt Hải,
còn gọi là Biệt Kích Biển, dưới sự chỉ huy của Ðại uý Trương
Duy Tài, gồm tất cả các quân nhân tình nguyện thuộc các quân
binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Lực Lượng Ðặc
Biệt, Bộ Binh, Lực Lượng Hải Thuyền, người nhái từ Hải Quân,
Thủy Quân Lục Chiến, v.v.). Lực Lượng Hải Tuần thì được tăng
phái từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân để sử dụng các chiến đĩnh (PTF
boats cung cấp và nhân viên huấn luyện bởi Hải Quân Hoa Kỳ
từ Subic Bay, Phi Luật Tân).
Sở Phòng Vệ Duyên Hải
đồn trú dọc bờ biển Ðà Nẵng từ núi Non Nước xuống đến núi
Sơn Trà và bãi biển Tiên Sa. Hoạt động song song với Sở PVDH
(Coastal Security Service – CSS) là Cơ Quan Cố Vấn Hải Quân
Hoa Kỳ (Naval Advisory Detachment – NAD) thuộc Bộ Tư Lệnh
Thái Bình Dương Hoa Kỳ.
Khinh Tốc Ðỉnh thuộc Sở Phòng
Vệ Duyên Hải sử dụng để đưa gián điệp trường kỳ và các toán
Biệt Hải ra Bắc từ Ðà Nẵng.
Sở Phòng Vệ Duyên Hải từ
năm thành lập đã thi hành hàng trăm công tác tối mật khác
rất ít ai biết đến. Từ các tài liệu đã được giải mật, trong
tháng Hai năm 1964, ba Khinh Tốc Ðỉnh (Patrol Topedo Fast –
PTF boats) thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải đã tấn công và đánh
sập một chiếc cầu bằng chất nổ. Ðến tháng Bảy, Sở đã phá hủy
năm đài radar dọc theo vùng biển Bắc Việt, cũng như đã hai
lần đổ bộ lên bờ tấn công những căn cứ quan trọng khác (hit
and run attacks), đánh phá nhà máy nước ở Ðồng Hới, v.v.
Thiếu tá Linh đã đích thân đi hai lần để trực tiếp chỉ huy
toán Biệt Kích hành quân. Ðây chỉ là một số ít các công tác
của Sở (trong năm 1964) hiện giờ đang được nêu ra trên nhiều
tài liệu và sách báo.
[ghi chú hình ảnh: Các Biệt Hải
(Sở Phòng Vệ Duyên Hải) trong thời gian huấn luyện ở căn cứ
Tiên Sa, Ðà Nẵng, 1964.]
Sau ngày đảo chánh tháng 11
năm 1963, vào đầu năm 1964, Đại uý Ngô Thế Linh đã đi cùng
Trung tá Trần Văn Hổ đại diện cho Sở Liên Lạc, Phủ Tổng
Thống (tiền thân của Nha Kỹ Thuật sau này) tham dự cuộc họp
tại Honolulu (Hạ Uy Di) với Bộ trưởng Quốc Phòng Robert
McNamara, Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ William Colby, Bộ Tư
Lệnh Thái Bình Dương, và MACV (Military Advisory Command,
Vietnam). Sau cuộc họp này MACV–SOG được chính thức thành
lập, và Trung tá Trần Văn Hổ được vinh thăng đại tá và là Vị
Giám đốc đầu tiên của Nha Kỹ Thuật. Đại uý Ngô Thế Linh được
vinh thăng cấp bậc thiếu tá và đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy
trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải tại Đà Nẵng. Sau khi kế hoạch
34 (OPLAN34 – Operational Plan 34) được thành hình vào năm
1964, Sở Phòng Vệ Duyên Hải bắt đầu phối hợp trực tiếp với
Ngũ Giác Ðài và CINPAC (U.S. 7th Fleet and Pacific Command),
và từ đó sự yểm trợ của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA)
giảm dần.
[ghi chú hình ảnh: Paradise island (Cù Lao
Chàm) Chiến Tranh Tâm Lý – Gươm Thiêng Ái Quốc]
Từ
năm 1959 tới năm 1964, Thiếu tá Ngô Thế Linh đã chỉ huy và
điều hành những điệp vụ tối mật với sự yểm trợ của Trung
Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA). Ông chỉ huy Lực Lượng Biệt Hải,
các quân cán sự, và điều hành 16 chiếc Khinh Tốc Ðỉnh cho
những công tác Bắc Tiến. Trụ Sở của Sở Phòng Vệ Duyên Hải
nằm tại tòa nhà Bạch Tượng, thành phố Ðà Nẵng. Sở có nhiệm
vụ gài những gián điệp vào các thành phố ở miền Bắc, đem
Biệt Hải ra Bắc đánh phá hải cảng, kho đạn, gắn mìn nổ chậm
để phá hoại tàu bè tại các quân cảng Bắc Việt. Trong thời
điểm này, Thiếu tá Ngô Thế Linh được vinh thăng lên cấp bậc
trung tá.
Ðến giữa năm 1965, Thiếu tá Ngô Thế Linh đã
bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải qua
cho Hải Quân Trung tá Hồ Văn Kỳ Thoại và từ đó sở được dặt
dưới quyền điều động của Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam Cộng
Hoà về mặt nhân viên. Sở vẫn tiếp tục thi hành thêm hàng
trăm điệp vụ Bắc Tiến nguy hiểm. Sau này Chỉ huy trưởng Hồ
Văn Kỳ Thoại được vinh thăng phó Ðề Ðốc Hải Quân. Ðược vinh
thăng trung tá, ông Ngô Thế Linh được bổ nhiệm chức vụ Phó
giám đốc Nha Kỹ Thuật và hoạt động với SOG với chức vụ
“Strategic Technical Directorate Executive Officer”. Trong
cương vị Phó giám đốc, Trung tá Ngô Thế Linh đã tổ chức và
điều hành thêm hai đoàn Công Tác Ðặc Biệt: 68 và 11 (STRATA)
để đáp ứng nhu cầu gia tăng nhanh chóng những công tác ở Bắc
Trung Phần (Vinh, Hà Tĩnh, Mụ Giạ...) và ở Lào.
[ghi
chú hình ảnh: Anh Dũng Bội Tinh cho Biệt Kích NKT (Long
Thành, 1972)]
Trách Nhiệm của Ðại tá Ngô Thế Linh
trong thời gian từ 1958 đến 1970 gồm có:
1.
Chỉ huy
trưởng Sở Bắc: ngoài các toán không vận ông còn chỉ huy Lực
Lượng Biệt Hải và điều hành nhiều ghe máy (gián điệp)
Nautilus I, II, và III, và các Chiến Ðĩnh (Nasty và Swift PT
boats) tại Ðà Nẵng.
2. Chỉ Huy kế hoạch gởi trên 500
gián điệp (Thép Ðen Ðặng Chí Bình, v.v.) và các toán Biệt
Kích (Vi Văn Nô, v.v.) ra Bắc qua đường biển và hàng không
cho những công tác tình báo và đánh phá những hải cảng Bắc
Việt. Ông điều hành nhân viên và những phi vụ không vận tối
mật từ Ðà Nẵng (với Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ) thả các toán
Biệt Kích qua đường bay từ Lào 1961, 1962. Ông Williams
Colby và 1 số cố vấn từ Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ đã giúp
soạn thảo và yểm trợ những công tác trên, mục 1 và 2.
3. Thành lập và điều hành các Ðoàn Biệt Kích 68 và 11
(sau đó vào năm 1970 ông đã thành lập Sở Công Tác từ các
đoàn Biệt Kích này):
Ðoàn 68: sử dụng các hàng binh
và hồi chánh viên CSBV trong các công tác thu thập tin tức
các đơn vị cộng sản Bắc Việt tại Lào và Cam Bốt, hoặc trong
các công tác lừa địch (Deception) để tạo sự nghi ngờ và xáo
động trong hàng ngũ cộng sản Bắc Việt.
Ðoàn 11
(STRATA): đoàn này có nhiệm vụ hoạt động ngắn hạn (15 ngày)
từ bắc Vĩ Tuyến 17 lên đến Vinh, ở Lào, và Cam Bốt nhằm phá
hoại các đường giao thông, các binh trạm của cộng sản Bắc
Việt dọc theo đường mòn HCM và thu thập những tin tức về các
cuộc xâm nhập của cộng sản Bắc Việt vào miền Nam Việt Nam.
Những đặc vụ này được yểm trợ và cố vấn điều hành bởi Thiếu
tá George “Speedy” Gaspard.
4. Ðiều khiển các hoạt
động Chiến Tranh Tâm Lý tại miền Bắc Việt Nam bằng những đài
phát thanh Tiếng Nói Tự Do, Gươm Thiêng Ái Quốc, Mẹ Việt
Nam, trong công tác tuyên truyền. Các toán Biệt Hải thuộc Sở
Phòng Vệ Duyên Hải ngoài việc đánh phá và bắt tù binh, còn
thả máy thu thanh với tần số cố định (pre–tuned radio),
truyền đơn của Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc, và các phẩm vật
cần thiết cho dân chúng như mùng, cước, vải, áo quần dọc
duyên hải bắc vĩ tuyến 17 lên đến Bạch Long Vỹ.
Trong
thời gian này Trung tá Ngô Thế Linh làm việc dưới quyền của
Ðại tá Trần Văn Hổ (Giám đốc Nha Kỹ Thuật) và với sự điều
hành cộng tác song song của các Sĩ Quan Lực Lượng Ðặc Biệt
Hoa Kỳ: Ðại tá Blackburn, Ðại tá John Singlaub, Ðại tá
Cavanaugh, Ðại tá Sadler, và những cộng sự viên của họ.
Những vị này là Chỉ huy trưởng Tổ Chức Công Tác Ðặc Biệt của
Hoa Kỳ (Chief of Special Operation Group – SOG). Riêng Trung
tá Robert McKnight (Chỉ huy trưởng Kế Hoạch OPLAN 34) là bạn
rất thân của ông. Trung tá McKnight là Bố đỡ đầu của trưởng
nữ của Trung tá Ngô Thế Linh.
3. Chỉ huy trưởng Sở
Công Tác (Special Mission Service – STD) tại Nha Trang
Sau Tết Mậu Thân 1968, qua áp lực của Quốc Hội Hoa Kỳ,
Tổng thống Lyndon Johnson đã quyết định ngưng oanh tạc miền
Bắc và những công tác phá hoại ở phía Bắc Vĩ Tuyến 17. Trong
khi đó, cộng sản vẫn tiếp tục chuyển thêm nhiều Sư Ðoàn vào
Nam dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh. Với chức vụ Phó giám đốc
Nha Kỹ Thuật, vào năm 1970, Ðại tá Ngô Thế Linh thành lập và
đã kiêm chức vụ Chỉ huy trưởng của Sở Công Tác (Special
Mission Service) Nha Kỹ Thuật với trên 1,500 chiến sỉ ưu tú
nhất của Lực Lượng Ðặc Biệt.
[ghi chú hình ảnh: Trực
thăng (đặc biệt hãm thanh) dùng để đưa các toán STRATA –
Biệt Kích Hắc Long
– Sở Công Tác từ sân bay tối mật
Nakhon Phanom (NKP) ở Thái Lan qua 45 phút đường bay ra Vinh
và những địa điểm 180km bắc của sông Bến Hải.]
Tấm
ảnh dưới đây chụp vào dịp Tết 1971 trước tư gia Đại tá Ngô
thế Linh. Cám ơn BCD Phạm Râng (ĐĐ4/TĐ91/BCND) đã gửi tặng.

Sở Công Tác Biệt Kích Hắc Long được tổ chức
thành 5 Chiến Ðoàn. Biệt Ðoàn 68 và Biệt Ðoàn 11 là các toán
nhảy Bắc (STRATA teams) đóng tại Ðà Nẵng và vùng trách nhiệm
vẫn là miền Bắc Việt Nam và Lào. Những Ðoàn Công Tác được
chỉ huy bởi nhiều Sĩ Quan Lực Lượng Ðặc Biệt Anh Dũng như
Trung tá Bùi Văn Thiện (Chỉ huy trưởng Ðoàn Công Tác 71),
Thiếu tá Nguyễn Phan Tựu – Bạch Hổ (Chỉ huy trưởng Ðoàn Công
Tác 72), Cố Trung tá Ðào Ðăng Ðại (Chỉ huy trưởng Ðoàn Công
Tác 11), Cố Ðại uý Hoàng Công Khâm (Trưởng toán Công Tác
Ðoàn 11), v.v. Trong khoảng thời gian này, Ðại tá Ngô Thế
Linh cũng đã cộng tác hoạt động với Tướng Hoa Kỳ Manor trong
công tác giải cứu tù binh Mỹ tại Sơn Tây năm 1970 (Operation
Ivory Coast) và những cuộc hành quân đặc biệt khác của
MACV–SOG với Nha Kỹ Thuật ở Lào dọc theo đường mòn Hồ Chí
Minh.
Sở Công Tác hoạt động ra Bắc và ở Lào rất
nhiều, chỉ riêng trong năm 1968, các toán STRATA đã nhảy ra
Bắc trong 24 công tác đánh phá và tình báo. Liên Ðoàn 71,
72, và 75 đóng tại Nha Trang và từ căn cứ đó những Chiến
Ðoàn Biệt Kích này đã anh dũng xâm nhập và đánh phá các Sư
Ðoàn cộng sản Bắc Việt trên đường mòn Hồ Chí Minh bên Lào.
Phó giám đốc Nha Kỹ Thuật – Bộ Tổng Tham Mưu, QLVNCH
Ðại tá Ngô Thế Linh đã là vị Chỉ huy trưởng Lực Lượng
Ðặc Biệt cao cấp của rất nhiều cơ sở cho những công tác tối
mật để phục vụ Tổ Quốc trên 23 năm. Trong suốt 16 năm với
Nha Kỹ Thuật chỉ huy Chiến Tranh Ngoại Lệ, ông thường đi
công tác ở Hoa Kỹ, Thái Lan, Lào, Phi Luật Tân, Hạ Uy Di, và
Ðài Loan cho những cuộc họp với Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ
và MACV–SOG. Ðại tá Ngô Thế Linh đã nghiên cứu và hoạch định
nhiều đặc vụ, điệp báo, và phản gián. Ông là vị sĩ quan cao
cấp nhất của Nha Kỹ Thuật đã phục vụ Nha từ ngày NKT mới
được thành lập, kể từ Sở Bắc cho đến Nha Kỹ Thuật sau này.
Sau năm 1972, ông về giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Trung Tâm
Huấn Luyện Biệt Kích Yên Thế ở Long Thành.
Từ Sở Bắc
và Sở Phòng Vệ Duyên Hải trong suốt 10 năm, trên 500 anh
hùng Biệt Kích NKT và dân sự đã dũng cảm Bắc Tiến, xâm nhập
trà trộn vào guồng máy chính quyền và quân đội cộng sản Bắc
Việt. Họ đã gây rất nhiều thiệt hại cho chúng, thu thập tin
tức tình báo, bắt cóc, phá hoại, và tấn công vào trung tâm
đầu não và những chiến lược quan trọng của cộng sản Bắc
Việt.
Biệt Kích Lôi Hổ – Sở Liên Lạc – Nha Kỹ Thuật
(Bộ Tổng Tham Mưu) nhảy toán đánh phá, thu thập tin tức tình
báo quân sự dọc theo đường mòn HCM ở Lào.
Nha Kỹ
Thuật còn có Sở Liên Lạc (tức là Biệt Kích Lôi Hổ hoạt động
ở miền Nam Việt Nam và ở Lào) gồm có ba Chiến Ðoàn Xung
Kích: Chiến Ðoàn Một, Hai, và Ba, với trách nhiệm ở ba vùng
Bắc, Trung, và Nam. Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Sở Liên Lạc nằm
ở Ðà Nẵng, KomTum, và Ban Mê Thuột. Trong cơ sở này, Cố
Trung tá Nguyễn Hưng Rỉnh là một vị chỉ huy anh dũng đã từng
chỉ huy cả ba Chiến Ðoàn Lôi Hổ trong nhiều năm. Nhiều người
cũng đã từng nghe tiếng của Bóng Ma Biên Giới, Hùm Xám đường
mòn Hồ Chí Minh (tức là Ðại uý Quản). Những quân nhân trong
các Chiến Ðoàn Xung Kích Lôi Hổ đã sát cánh với những Liên
Ðoàn Lực Lượng Ðặc Biệt 5th Hoa Kỳ trong những công tác
trinh sát, nhảy dù, hoạt động sâu trong hậu tuyến địch để
giải cứu những phi công bị nạn và bắt giữ những sĩ quan cao
cấp của Sư Ðoàn Chính Quy cộng sản Bắc Việt (Operation
Shinning Brass, Tailwind, v.v.)
Ngoài ra Nha còn có
Phi Ðoàn Trực thăng 219 King Bee (căn cứ tại Ðà Nẵng) với
những anh hùng như “Cowboy”, “Mustachio” Nguyễn Văn Hoàng,
v.v., các Ðơn Vị yểm Trợ của Không Quân QLVNCH, Biệt Ðoàn
STRATA, Sở An Ninh Quân Ðội, Sở Không yểm, Sở Hành Chánh
Tiếp Vận, và các Ðại Ðội Biệt Lập (Quân Y, Truyền Tin, và
Ðại Ðội Công Vụ). Sở Tâm Lý Chiến của Nha (từ Sở Bắc) hoạt
động tuyên truyền cho đồng bào miền Bắc và CSBV qua làn sóng
của những đài phát thanh Gươm Thiêng Ái Quốc, Tiếng Nói Tự
Do, và Mẹ Việt Nam.
Ông Ngô Thế Linh đã được vinh
thăng tới cấp bậc đại tá và ở cấp bậc này trên 7 năm. Ông đã
là một vị chỉ huy trong âm thầm bí mật, chiến đấu không phải
vì bằng khen thưởng, huy chương nhưng cho một lý tưởng cao
cả hơn – Phục Vụ Tổ Quốc để bảo tồn Tự Do và Dân Chủ cho
Việt Nam Cộng Hòa.
Trong 23 năm binh nghiệp, Ðại tá
Ngô Thế Linh là nhân vật chính yếu nhất của guồng máy tình
báo của miền Nam Việt Nam. Ông dã chỉ huy nhiều cơ sở tối
mật và đã chiến đấu trong cuộc chiến tranh bí mật để tiêu
diệt nhiều tầng lớp, cơ sở chiến lược của cộng sản Bắc Việt.
Ông thành lập rất nhiều cơ sở và chỉ huy những Biệt Kích anh
dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà như:
Cố Ðại tá
Ngô Thế Linh giữ chức vụ: Phó giám đốc Nha Kỹ Thuật cho đến
cuối tháng Tư năm 1975.
Vị Anh Hùng của QLVNCH:
1959–1963: Chỉ huy trưởng Sở Bắc thuộc Sở Liên Lạc, Phủ
Tổng Thống.
1964–1965: Chỉ huy trưởng Sở Phòng Vệ
Duyên Hải, Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, QLVNCH.
1965–1970: Phó giám đốc Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa.
1970–1972: Phó giám đốc Nha Kỹ
Thuật kiêm Chỉ huy trưởng, Sở Công Tác, Nha Kỹ Thuật.
1972–1975: Phó giám đốc Nha Kỹ Thuật kiêm Chỉ huy
trưởng, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Kích Yên Thế.
Trước
ngày ra đi, tháng Tư năm 1975, tôi còn nhớ đã vào phòng tìm
lấy băng hiệu huy chương và Tướng Mạo Quân Vụ của Người để
đếm xem Người đã được ban thưởng những gì sau gần hai mươi
lăm năm chống cộng anh dũng vào sanh ra tử với các Biệt
Kích. Ðại tá Ngô Thế Linh, người con yêu nước Việt đã được
Tổ Quốc ghi ân với 53 huy chương và ân thưởng trong đó gồm
có Bảo Quốc Huân Chương, Lục Quân Huân Chương, Tham Mưu Bội
Tinh, Chiến Dịch Bội Tinh, 2 Chiến Thương Bội Tinh, và trên
10 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, Ngôi Sao Vàng,
Bạc, và Ðồng, phần còn lại là rất nhiều Huy Chương khác của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Quân Ðội Hoa Kỳ.
The
Lost Commandos
But in late 1972, as the Paris peace
talks convened, clothing and food improved for the captured
commandos. Word spread among them that all prisoners of war
would be released under the emerging treaty. On Jan. 27,
1973, the cease–fire agreement was signed by the United
States, South Vietnam and North Vietnam, calling for the
return of prisoners of war within 60 days. Although almost
600 U.S. POWs were released, the commandos–some of whom had
been in the same prisons as the Americans–were not. In
protest, scores of them staged a series of hunger strikes
that were mercilessly broken up by prison guards armed with
clubs and dogs. At the negotiating table in Paris, the
United States might not have been in any position to ask for
the release of the commandos. “How could you ask for them?”
Andrade asks. “These were not supposed to be United States
teams, and you would not want to disclose your collusion in
a secret operation. Even if we were involved in the training
and the missions, it was (South Vietnamese) President Nguyen
Van Thieu’s job to ask for them.”
Lời Tâm Sự của
người con trai của Cố Ðại tá Ngô Thế Linh.
Guồng máy
tình báo miền Nam và những bí mật đã theo Ðại tá Ngô Thế
Linh về bên kia Thế Giới. Rất ít người được biết đến đầy đủ
chi tiết những nhiệm vụ chiến đấu của ông ngoài Cựu Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu, Cựu Thiếu tướng Không Quân Nguyễn
Cao Kỳ (làm việc chung với ông rất nhiều), Cố Giám đốc Trung
Ương Tình Báo Hoa Kỳ William Colby, các Tướng của MACV –
Special Operation Group (SOG) Blackburn, Jack Singlaub,
Cavanaugh, Sadler, Thiếu tướng LeroyMinor (nhảy toán Sơn Tây
1970), Colonel McKnight, và một vài chiến hữu còn sống Việt
và Mỹ.
Sau khi tra tấn những Biệt Kích nhảy toán ra
Bắc bị giam cầm tại miền Bắc, Hà Nội biết đến tổ chức mật
của Ðại tá Linh từ năm 1960. Họ đã nhiều lần tổ chức ám sát
Ðại tá Linh nhưng ông may mắn thoát hiểm. Khi còn nhỏ ở Ðà
Nẵng tôi đã nghe tên của ông được nhiều lần nhắc đến trên
Ðài phát thanh Hà Nội khuyến dụ ông trở về Hà Tĩnh, nơi chôn
nhau cắt rốn của ông. Gia đình tôi rất lo lắng và đã cầu
nguyện cho sự an toàn của ông. Người bị thương 2 lần khi
công tác mạo hiểm ra Bắc, nhưng ông đã bình phục và tiếp tục
chiến đấu cho lý tưởng Tự Do, Dân Chủ.
Tôi còn nhớ
những hình ảnh ông đi làm trong bộ thường phục mà chung
quanh có những người cận vệ trong những xe Jeep khác nhau để
tránh địch quân có cơ hội đặt mìn ám sát. Ông đã dùng nhiều
bí danh trong 16 năm chiến tranh bí mật. Ông còn được biết
đến là “Trần Viễn Phương”, “Ðại tá Bình”. Người Mỹ gọi ông
là “Mr. Bing” cho tiếng Việt là “Bình”. Chúng tôi rất hãnh
diện về ông nhưng lúc nào cũng lo lắng cho sự an toàn của
ông. Chúng tôi đã được kể là ngay cả một người giúp việc cho
gia đình chúng tôi đã là đặc công Việt cộng trá hình nhưng
đã bị Sở Phản Gián phát giác trước khi bà có thể ám hại được
Ðại tá Linh.
Ông không bao giờ nói những chi tiết về
tổ chức của ông cho gia đình và những người thân biết. Nhiều
chuyện đã được kể lại sau khi ông qua đời. Chuyện kể rằng
“Thiếu tá Bình” người xuất hiện bất ngờ để giao mật thơ cho
Ðặng Chí Bình đưa ra Bắc (trước khi lên tàu – theo Hồi Ký
của điệp viên Thép Ðen) chính là Ðại tá Ngô Thế Linh. “Bình”
là bí danh của ông. Tôi đã đọc Thép Ðen vào những năm trước
và nhớ lại những địa danh như Tiên Sa, Sở Phòng Vệ Duyên Hải
nhưng không ngờ đó là những mẩu chuyện kết chặt với cuộc đời
chiến đấu của Cha tôi. Người mỉm cười khi thấy chúng tôi đọc
những sách đó và nói rằng đó là những sách hay nên đọc. Chỉ
có một lần, ông nói với tôi rằng ông đã hai lần có điệp vụ ở
miền Bắc Việt Nam. Chỉ thế thôi không thêm một chi tiết nào!
Người nói với tôi chỉ cách vài ngày trước khi ông qua đời.
Có lẽ ông đã cảm thấy rằng thời gian còn lại của Người không
còn nhiều nữa.
Vào ngày 27 tháng 4 năm 1975, gia đình
chúng tôi đã được Cơ Quan DAO (Defense Attache Office) chở
vào sân bay Tân Sơn Nhất với sự bảo vệ của Thủy Quân Lục
Chiến Hoa Kỳ. Xe của ông với những Biệt Kích của Nha Kỹ
Thuật võ trang với súng đại liên đã theo sát xe buýt chở gia
đình. Những người lính Quân Cảnh bảo vệ phi trường bám sát
theo đoàn xe chúng tôi vì nghĩ rằng ông sẽ đào ngũ giống như
một số cấp chỉ huy khác. Ông nói lời từ biệt với Mẹ tôi, ôm
hôn từng đứa con một và đặt từng người con một vào máy bay
phản lực C–141.
Cả gia đình đều khóc và năn nỉ ông
hãy cùng đi với gia đình. Ngay cả những người lính Thủy Quân
Lục Chiến Hoa Kỳ và những sĩ quan trong cơ quan DAO cũng
khuyên ông hãy rời khỏi Việt Nam trong khi họ làm áp lực lại
với quân cảnh Việt Nam. Nhưng Ðại tá Linh đã từ tốn bước lại
xe Jeep để trở lại với những chiến hữu và đã tự lái xe đi
trong sự kính phục nghiêm chào của tất cả những quân nhân
Việt Nam và Hoa Kỳ hiện diện tại đó. Ðó là lần cuối cùng tôi
nhìn thấy ông trong bộ binh phục tác chiến.
Cả gia
đình lo lắng là sẽ không được gặp lại ông nữa, nhưng riêng
tôi thì rất hãnh diện về lòng dũng cảm của Người. Hai tuần
sau, từ trại tị nạn Fort Chaffee, Arkansas, gia đình tôi
nhận được tin là ông đã rời khỏi Việt Nam ngày 30 tháng Tư
trên tàu Hải Quân với những nhân viên và sĩ quan của Nha Kỹ
Thuật. Hai tháng sau, gia đình tôi được đoàn tụ với Cha tôi.
24 năm Phục Vụ Ðồng Bào và bảo tồn Tinh Thần Chống Cộng
ở hải ngoại (1975–1999)
Tự Do, Dân Chủ của dân Việt
bị cộng sản tước đoạt vào Tháng Tư năm 1975. Những người còn
ở lại, sống dưới chế độ cộng sản, đã phải chịu đựng và nhìn
thấy nhiều cảnh kinh hoàng với những trại tù mà cộng sản
dùng dưới danh từ hoa mỹ là “Trại Học Tập Cải Tạo”, cùng
những hành hạ, tham nhũng, tử hình, tịch biên tài sản, và vi
phạm nhân quyền. Người luôn nghĩ rằng cuộc chiến tự do dân
chủ cho quê hương phải được chúng ta và con cháu tiếp tục để
Nước Việt có một ngày mai Tự Do.
Nhiều người nói, Ngũ
Giác Ðài và Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ rất muốn ông làm việc
với họ tại Washington, D.C. Nhưng tôi chỉ thấy rằng cả gia
đình sống trong trại tỵ nạn 6 tháng, và sau một thời gian
chờ đợi mòn mỏi gia đình tôi đã định cư tại San Jose,
California. Và Tại đây ông đã sống một cuộc đời trầm lặng
với gia đình con cái.
Gia đình tôi đã hoàn toàn trắng
tay sau biến cố 1975, hoàn cảnh cũng như lúc ông lià xa quê
hương đất Bắc để di cư vào Nam năm 1949. Chúng tôi đã được
tiếp nhận và được sự hảo tâm giúp đỡ của họ đạo Công Giáo
San Joseph, ở thành phố Cupertino, tiểu bang California.
Người sau đó đã làm việc ở Sperry Univac với chức vụ System
Analyst và ông đã làm việc ở nơi đó trong vài năm. Mỗi buổi
sáng ông thức dậy sớm chở chúng tôi đến trường học bằng
chiếc xe Ford LTD cũ kỹ và sau đó ông lái xe đi làm. Có lẽ
chẳng có ai trong số những người bảo trợ hoặc bạn làm việc
trong sở biết được Cha tôi đã làm những gì trong quá khứ.
Vì gia đình không có tiền, ông khuyến khích chúng tôi
chăm chỉ học hành để được học bổng vào những trường Ðại học
và chúng tôi đã làm đúng như lời Người dặn. Anh em chúng tôi
đã tốt nghiệp từ những trường Ðại Học nổi tiếng như UC
Berkeley, UC Davis, UC Santa Barbara, UC San Francisco, UC
Hasting Law School. Chúng tôi đã tìm được những công việc
tốt và có nghề nghiệp vững chắc. Ông thường nói là Người rất
hãnh diện qua các sự cố gắng của các con, và những thành quả
chúng tôi đã đạt được. Tôi cũng muốn ông biết cho là chúng
tôi còn hãnh diện nhiều hơn thế nữa, vì đã được sinh ra là
Người Việt, và đã là con cái của Người.
Cha tôi đã
nhận những vinh dự trong im lặng không kèn trống, cũng như
chấp nhận những thất vọng không một lời phàn nàn, vì lòng
tin của Người rất sắt đá và với tinh thần Chống Cộng Bất
Diệt. Có lần ông đã nói với các chiến hữu “là một người chỉ
huy chiến đấu cho lý tưởng tự do mà phải bỏ súng đầu hàng
trong khi cộng sản lan tràn tiến tới là một sự tủi nhục. Cho
dù có những lý do chính đáng, chúng ta không thể nào tự đề
cao những chiến thắng hay là sự hy sinh dũng cảm của chúng
ta”. Tuy nhiên những điều đó không ngăn được sự ca tụng từ
nhiều bạn hữu và những Chiến Sĩ Quân Lực VNCH sau khi Người
ra đi.
Ðại tá Ngô Thế Linh là người trầm lặng, rất
trung trực, anh dũng, biết hy sinh, và có sự tự trọng cao.
Người đã giữ trong lòng tất cả những bí mật của cuộc chiến
mà ông đã là một trong những nhân vật chính yếu. Người đã
không viết Hồi Ký, không tổ chức nói chuyện với các hội đoàn
hay báo chí, ít nói cho ai hay những gì ông đã làm trong quá
khứ, ngoại trừ với những chiến hữu của Người. Bí mật của
quốc gia sẽ mãi mãi an toàn giữ kín trong ông, một người con
yêu nước Việt, một vị sĩ quan, và cấp chỉ huy trung thành
với Ðất Nước, Quê Hương, và Dân Tộc.
Người đã cống
hiến cuộc đời mình cho lý tưởng tự do và ông cũng muốn chúng
tôi làm như vậy. Theo bước chân của Cha tôi, chúng tôi đã cố
gắng học hành để trở thành những công dân hữu dụng cho xã
hội và tiếp tục sự nghiệp đấu tranh cho lý tưởng tự do mà
Cha tôi hằng mong mỏi.
Tại Hoa Kỳ, ông đã sáng lập,
tham gia, và ủng hộ nhiều đoàn thể để đấu tranh cho tự do
dân chủ tại Việt Nam qua những đường lối chính trị và sự
đoàn kết của các chiến hữu và đồng bào. Ông thường hội họp
với các chiến hữu của Nha Kỹ Thuật và các Binh Chủng bạn để
bảo tồn Tinh Thần Chống Cộng ở Hải Ngoại. Người đã thành lập
và tổ chức hoạt động các hội đoàn như:
– Hội Cựu
Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
– Tổng Hội Cựu Sinh
Viên Sĩ Quan Võ Khoa Thủ Ðức–Nam Ðịnh.
– Hội Ái Hữu Ðiạ
Phận Vinh.
– Hội Tương Tế Cao Niên Bắc Cali.
Ông
đã tổ chức những buổi văn nghệ Tình Thương gây quỹ cứu trợ
cho các anh em Thương Phế Binh bằng cách mua nạng và xe lăn
gởi về cho những chiến hữu đã hy sinh một phần thân thể
trong cuộc chiến. Trong vòng bốn năm trước khi ông qua đời,
ông và Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Khoa Thủ Ðức–Nam
Ðịnh đã quyên được trên bốn mươi nghìn Mỹ Kim. Số tiền này
đã trợ giúp được hơn hai trăm năm mươi anh Thương Phế Binh ở
quê nhà. Nhiều số tiền cũng đã được gởi về cho những gia
đình Cô Nhi Quả Phụ Tử sĩ của QLVNCH.
Ông cũng đã thành
lập Hội Ái Hữu Vinh để liên lạc và nới rộng tình liên đới
giữa những đồng hương từ Vinh đang sinh sống tại Hoa Kỳ. Ðể
giúp những người già nơi xứ lạ và giúp cho họ chuẩn bị cho
những ngày cuối đời và lo tổn phí chôn cất, ông thành lập
Hội Tương Tế Cao Niên.
Với tinh thần bất khuất, ông
là người chống Cộng quyết liệt vì đã biết rõ đối phương là
ai, và hiểu rõ những mưu đồ nham hiểm ác độc của cộng sản
Bắc Việt. Ông là một người tham mưu tình báo tài giỏi, một
sĩ quan ưu tú chiến đấu can đảm. Với lòng ái quốc yêu thương
đồng bào, ông đã cùng sát cánh với các chiến hữu đấu tranh
cho lý tưởng tự do dân chủ, và với những đức tính đó, ông đã
có một cuộc đời binh nghiệp và đời sống dân sự rất thành
công. Tuy ông đã mất đi nhưng để lại tiếng thơm cho con
cháu, bạn bè, và những chiến sỉ chống cộng với Người.
Trước khi Người qua đời, trong dịp Tết tổ chức tại Santa
Clara Fairground, ông đã đại diện cho cộng đồng Việt Nam giơ
cao lá cờ Nam Việt Nam cùng với Thị trưởng thành phố San
Jose, ông Ronald Gonzales, trong bầu trời đầy bong bóng đỏ
và vàng thả lên để biểu tượng cho sự đòi hỏi Dân Chủ và Nhân
Quyền cho Việt Nam. Sau đó, ông đến nhà tôi để ăn Tết với
các con cháu. Tôi nhớ hôm đó đại diện cho đại gia đình chúc
Người được trường thọ, sức khoẻ dồi dào, nhưng không ngờ đó
là lần cuối chúng tôi gặp Người. Chúa đã gọi ông về năm ngày
sau đó vào ngày 25 tháng 2 năm 1999. Ông hưởng thọ được 70
tuổi và ra đi trong niềm thương tiếc của 12 người con trai,
6 người con gái, và 14 cháu nội, ngoại.
Khi Người ra
đi của cải để lại rất ít, Người rất thích chiếc xe mà anh em
chúng tôi vưà mới mua tặng ông vài tháng trước đó. Quần áo
và đồ dùng của Người rất giản dị. Chúng tôi hay dúi vào tay
ông chút tiền “đổ xăng” thì ông lại hay cho vào quỹ giúp cho
Thương Phế Binh hoặc cho những hội từ thiện. Ông đã lo lắng
chăm sóc cho các con, các cháu, và thương yêu những kẻ bất
hạnh khác. Chúng tôi rất ngưỡng mộ sự rộng lượng, cao cả, và
vị tha của Cha tôi.
Ông đã sống cho Tự Do của Việt
Nam và những đồng bào mà ông yêu quý, đã chiến đấu bảo vệ,
và đã chấp nhận sẵn sàng hy sinh cho đất nước được tự do, sự
Tự Do mà ông muốn cho các con cháu được thừa hưởng.
Tổ Quốc Tri Ân
Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã gọi
điện thoại phân ưu tới gia quyến chúng tôi, gởi vòng hoa và
người đại diện đến phúng điếu. Cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn,
cựu Bộ trưởng Ngô Khắc Tỉnh, các cựu tướng lãnh Hoàng Xuân
Lãm, Nguyễn Khắc Bình, Bùi Ðình Ðạm, Huỳnh Văn Lạc, Bùi Hữu
Nhơn, Lâm Quang Thi, Lại Ðức Chuẩn, và rất nhiều bạn bè
chiến hữu Lực Lượng Ðặc Biệt, và tất cả các binh chủng bạn
đã đến chia buồn và chào vĩnh biệt ông.
Nhân Viên Sở
Bắc, Biệt Hải, Biệt Kích Hắc Long, Biệt Kích Lôi Hổ, Biệt
Cách Dù, Lực Lượng Ðặc Biệt, và các chiến hữu các Quân Binh
Chủng QLVNCH tham dự và tiễn đưa Cố Ðại tá Ngô Thế Linh,
người con yêu nước Việt.
Người đã được an táng với Lễ
Nghi Quân Cách. Ðoàn xe tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối
cùng kéo dài trên xa lộ với mười mấy xe Motor Cảnh sát chạy
theo để điều hành giao thông. Chúng tôi chưa bao giờ thấy
nhiều bạn bè, đồng bào, và chiến hữu của người đông đảo như
thế.
Ðó là một niềm an ủi lớn lao cho gia đình chúng
tôi vì biết rằng sau hơn năm mươi năm hy sinh anh dũng bất
khuất chống cộng, người con yêu nước Việt đã được nhận được
phần thưởng cuối cùng của Mẹ Việt Nam, sự vinh hạnh lớn lao
mà khi sống người không được có vì phải bảo tồn những bí mật
công tác cho đơn vị và Tổ Quốc.
Người đã nằm xuống,
hướng về biển Thái Bình Dương, mà ở phía bên kia bờ Ðại
Dương có lẽ các bà Mẹ Việt Nam đang hát những bài ca dao ru
con ngủ. Nhiều người đã khóc, cầu nguyện cho linh hồn của
Cha tôi. Ðó là những người đã được ông từng thương yêu che
chở cũng như những người đã phục vụ với ông lúc sinh tiền.
Tuy nhiên sự ra đi của Người vẫn là sự mất mát quá lớn lao
cho gia đình chúng tôi.
Nhiều chiến hữu Biệt Hải, Lôi
Hổ, Hắc Long trong các Chiến Ðoàn đã đến từ những thành phố
xa xôi, họ đã thay phiên đứng canh gác bên linh cữu của ông
trong suốt 3 ngày. Quan tài của người được phủ bằng cờ vàng
ba sọc đỏ, lá cờ mà ông đã nghiêm chào rất nhiều lần khi ông
còn sống. Chúng tôi biết đó là ước nguyện cuối cùng của
người, ra đi như một quân nhân, một vị sĩ quan đã cống hiến
cuộc đời cho Tổ Quốc và Dân tộc. Các chiến sĩ Biệt Kích Nha
Kỹ Thuật đã xin phép gia đình để họ được khiêng linh cữu ông
đến nơi an nghỉ cuối cùng và để nói lời vĩnh biệt.
Nhiều người tham dự lễ an táng đã cảm thấy lòng yêu nước nổi
dậy và cảm thấy phải làm một điều gì ngay cho Mẹ Việt Nam.
Những đứa cháu của Người đã nói với nhau rằng chúng sẽ trở
về quê hương xây dựng lại đất nước và giúp đỡ đồng bào như ý
nguyện của Ông khi còn sống.
Sau lễ an táng, trong
buổi tiệc thanh đạm, câu chuyện của Người đã được lưu truyền
trong gia đình và bạn bè thân hữu, những mẩu chuyện ly kỳ
trong cuộc chiến đấu bí mật của Người cho lý tưởng Tự Do, sự
Tự Do mà mọi người thường không lấy làm quý khi được thưà
hưởng. Ðại tá Ngô Thế Linh đã là một chiến sĩ âm thầm, một
cấp Chỉ Huy Lãnh Ðạo giỏi về tham mưu, biết thương, và lo
cho những người lính của mình.
Số tiền phúng điếu đã
được gia đình trao tặng vào Quỹ Thương Phế Binh để giúp đỡ
cho họ và những gia đình Cô Nhi Quả Phụ như ước nguyện của
ông lúc sinh tiền. Nếu quý thân hữu muốn giúp đỡ các anh
Thương Phế Binh và những gia đình Cô Nhi Quả Phụ của QLVNCH,
xin vui lòng liên lạc qua điện thư tại:
ngoxuanhung@comcast.net
Tôi rất hãnh diện là con trai
của cố Ðại tá Ngô Thế Linh, và hãnh diện hơn nữa là được
sanh ra làm một người trai nước Việt. Riêng tôi, ông là một
người Cha đáng kính mà tôi và rất nhiều người hằng yêu
thương và sẽ luôn nhớ mãi.
Một ngày tươi sáng trong
tương lai gần đây, nước Việt Nam sẽ được Tự Do, chúng ta và
con cháu sẽ được bước đi thênh thang trên đất Mẹ Việt Nam
như những người Việt Tự Do.
Xin kính cẩn nghiêm chào
những Chiến Sĩ Anh Hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã
chiến đấu và hy sinh cho lý tưởng Tự Do và Dân Chủ cho Việt
Nam.
Ba ơi! Xin hãy luôn phù hộ cho chúng con để
chúng con có thể làm thêm nhiều điều hữu ích cho quê hương
và đồng bào mà Ba hằng yêu quí.
Với lòng kính yêu và
thương mến của con.
Con trai của Ba,
Ngô Xuân Hùng
Ngày 11 tháng Ba, năm 1999,
Tiểu bang California, USA.
Bổ túc ngày 5 tháng Hai, năm 2009 nhân Lễ Giỗ Mười Năm.
Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm.



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by psxh chuyển
Đăng ngày
Chúa Nhật, February 15, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH