
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tùy bút
Chủ đề:
lịch sử đệ i cộng hoà
Tác giả:
người lính già oregon

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Tôi
không muốn bàn về Thích Quảng Đức, Nhất Linh và âm mưu quỷ quyệt
của Việt Cộng trong nước và Việt Gian hải ngoại
[1] liên quan đến
việc tổ chức rầm rộ lễ tưởng niệm và vinh danh họ –một cách công
khai cho Thích Quảng Đức tại các chùa, hoặc kín đáo cho Nhất Linh
qua một cuộc hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn do báo Người Việt, CA,
tổ chức nhằm đúng ngày 7/7/2013, là ngày ông tự tử, cách đây 50
năm. Bởi vì nhiều người đã viết, đã nói, đã bày tỏ ý kiến, đã
tranh luận sôi nổi. Nhưng sau khi nghe và đọc những lời đao to
búa lớn kết tội Ngô Đình Diệm –mặc dù ông đã bị thảm sát một cách
quá dã man bởi đám phản tướng đã trên nửa thế kỷ rồi– trong các
buổi lễ ở hải ngoại tưởng niệm Thích Quảng Đức “tự” thiêu
[2],
sau khi đọc bài “Sự thật về cái chết của Nhất Linh” của Nguyễn
Tường Thiết phản bác bài do nhà biên khảo Nguyễn Văn Lục
[3] viết
về cha của ông, trong đó ông Thiết đã bôi nhọ, vu khống ông Diệm
một cách vô trách nhiệm, vô căn cứ, tôi thấy không thể im lặng
được. Làm công việc “đấu tố” ông như thế, những kẻ này đã vô tình
hay hữu ý tiếp tay với Việt Cộng trong mưu đồ bịa ra những “tội
ác” tưởng tượng của Ngô Đình Diệm và đệ Nhất Cộng Hòa để làm cho
dân chúng, quốc nội và hải ngoại, quên đi những tội ác tày trời,
ghê tởm có thực của bọn Việt Cộng trong hiện tại cũng như quá
khứ, đặc biệt việc bán nước cho Tàu Cộng.
Nói riêng về
cuộc Hội thảo TLVĐ 2013. Để chứng minh việc phối hợp chuẩn bị
nhịp nhàng giữa VC trong nước và tờ Người Việt hải ngoại, trên
báo Tiền Phong của VC, ngày 16/9/2012, có đăng bài “Sắp công bố
toàn bộ báo Phong Hóa–Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn” bởi Văn Giá,
trong đó tác giả tiết lộ như sau: “Từ đó, nhóm liên hệ với nhiều
người để cùng chung sức tìm giúp. Ở bên hải ngoại có anh Đỗ Tuấn
Khanh; trong nước có nhà văn Vu Gia –người đã công bố một số
chuyên luận về Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Thế
Lữ... Đặc biệt, anh Nguyễn Tường Thiết, con trai của nhà văn Nhất
Linh, đã chia sẻ một tư liệu vô cùng quý giá: Di cảo viết tay
‘Đời làm báo’ của Nhất Linh.” [NLGO nhấn mạnh]. Ngoài Nguyễn
Tường Thiết, bài báo còn nêu tên nhà nghiên cứu Phạm Thảo Nguyên,
con dâu của Thế Lữ, và nhiếp ảnh gia Nguyễn Trọng Hiền, con trai
của họa sĩ Cát Tường Lemur. Cả ba đều là khách mời quan trọng
trong buổi hội thảo nói trên
[4].
Cũng xin có đôi lời phi
lộ. NLGO tôi và gia đình chưa hề gặp mặt tổng thống Ngô Đình Diệm
hay bất cứ viên chức chính quyền nào, chưa hề hưởng một ơn mưa
móc nào của chế độ, dù nhỏ, không phải là Cần Lao, hay gốc Bắc di
cư. Nhưng khi nghe tin ông bị sát hại, cha tôi đã rơi nước mắt,
bảo cả nhà, trong buổi kinh tối, đọc thêm kinh cầu nguyện cho
linh hồn ông và bào đệ Ngô Đình Nhu. Lúc ấy, tôi còn nhớ, cha tôi
nói “kính thương cụ Diệm bởi cụ là người công chính, đạo đức,
nhân hậu, liêm khiết, yêu nước, và công lao của cụ rất to lớn đối
với Miền Nam”. Càng lớn hơn và già thêm, tôi càng thấy lời cha
tôi thật quá đúng. Mới đây có dịp làm việc trên bản thảo hồi ký
dở dang bằng Pháp ngữ của bà Ngô Đình Nhu, đọc những sách hoặc
bài của nhiều tác giả có uy tín, những tài liệu Mỹ đã được giải
mật, những bài rải rác đó đây của những nhân chứng đã chết hay
còn sống [5], tôi thấy ông là một nhà lãnh đạo tài ba và nhân
đức, tuyệt vời. Và, trái lại, đọc những bài viết, như của Nguyễn
Tường Thiết nói là bênh cha –nhưng kỳ thực đấu tố Ngô Đình Diệm
một cách lải nhải, dữ dằn, tôi không sao khỏi thấy bất bình. Như
sau:
Nguyễn Tường Thiết viết:
1. “Mấy năm sau ngày
chấp chánh của chế độ nhà Ngô sự bất mãn của dân chúng gia tăng
với sự độc tài gia đình trị của gia đình này” [những đoạn tô màu,
ở đây cũng như phía dưới, là do NLGO]:
– Nguyễn Tường
Thiết buông những lời hận thù không che giấu đối với Ngô Đình
Diệm –những lời người ta đã nghe quá quen từ những năm trước 1963
cho đến hôm nay. Trong bài, có chỗ ông chê tác giả Nguyễn Văn Lục
viết không có bằng cớ. Nhưng chính ông, ở đây, cũng lặp lại,
thiếu chứng minh, những gì đã nghe, đã học từ phe cuồng tín.
– Nhất Linh, cha ông, tham gia đảo chánh hụt, bị bắt, tự tử
chết. Là xong, là hết. Chưa hề có một bằng cớ nào cho thấy ông
Diệm hay dòng họ Ngô Đình đối đãi tệ bạc, bất kính đối với nhà
văn Nhất Linh, hay nhà chính trị Nguyễn Tường Tam. Trái lại thế.
NLGO tôi cố gắng, qua bài viết, chứng minh điều đó, đồng thời
phản bác luận điệu sai trái của những kẻ có cái thú bệnh hoạn
kinh niên, hễ mở mồm ra là ra rả chửi rủa Ngô Đình Diệm, mặc dù
cá nhân hay gia đình họ, hay cả đất nước, không hề bị thiệt hại
điều gì.
2. “Tôi không phải là một nhà nghiên cứu, cũng
không có tham vọng viết lịch sử, tôi chỉ nêu lên ở đây tiếng nói
của một người con. Nếu tiếng nói đó có góp phần soi sáng thêm cho
sự thật của lịch sử thì tôi nghĩ rằng đó là việc tôi phải làm vì
bổn phận đối với cha tôi”.
Một người con viết sách bênh
vực cha mình, thiết tưởng không có gì sai trái, và, tôi nghĩ thêm
nữa, đó là “bổn phận” đương nhiên. Nhưng lấy cớ bênh đỡ cha mình,
“soi sáng thêm cho sự thật của lịch sử” để đi vu khống, phỉ báng,
đổ tội cho đối phương với những luận cứ hàm hồ, thì đó là một
việc không đúng mà người quân tử không bao giờ làm.
3.
Ông
tự vẫn để “cảnh cáo những người chà đạp lên mọi thứ tự do,” như
ông đã viết ra trên giấy trắng mực đen. [...] Nguyên nhân và động
lực đưa đến cái chết của Nhất Linh đã được ông viết ra bằng 71
chữ rất minh bạch và đầy đủ: Ðời tôi để lịch sử xử, tôi không
chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối
lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản.
Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích
Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.
7 tháng 7, 1963. Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
a. Cũng như
những “nhà cách mạng” khác, Nhất Linh đã tham gia vào vụ đảo
chánh năm 1960 lật đổ và mưu sát tổng thống hợp pháp Ngô Đình
Diệm. Nếu thành công thì chắc chắn ông sẽ làm lớn, không chừng có
thể là thủ tướng, hay bộ trưởng ngoại giao –như đã từng là trong
“chính phủ liên hiệp”, gồm Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân đảng,
do Hồ Chí Minh, tên đại bịp quốc tế, làm chủ tịch, tháng 3 năm
1946. Đảo chánh thất bại thì bị bắt, bị đưa ra tòa. Đó là lẽ
đương nhiên, có chi lạ? Đó cũng là luật chơi chính trị công bằng
(fair) muôn thuở, ngay tại những nước nổi tiếng tự do, dân chủ.
Ngoài ra, trong quãng đời làm lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng
chống Việt Minh cộng sản, Nguyễn Tường Tam đã hơn một lần thất
bại, phải chạy qua Tàu trốn. So what?
Theo Minh Võ, “nhà
văn Nhất Linh khi thấy cuộc đảo chính thất bại đã chạy vào tòa
đại sứ Trung Hoa Dân Quốc xin tỵ nạn”
[6]. Chi tiết này, Nguyễn
Tường Thiết không hề nhắc tới, vì có thể không biết (trong khi
ông biết quá nhiều chuyện khác), hoặc có thể lờ đi để chạy tội
cho cha, nghĩa là, theo ông, Nhất Linh vì đã giã từ chính trị nên
chỉ bị “liên lụy”, chứ không chủ động làm điều gì. Nhưng nếu chỉ
vô tình “liên lụy” thôi, việc gì phải sợ, phải chạy vào một tòa
đại sứ để lánh nạn?
b. Tác giả Lê Nguyên Phu, cựu Trung tá
thẩm phán tại Tòa án Quân sự Đặc biệt thời đệ Nhất Cộng Hòa,
trong quyển Trong Bóng Tối Lịch Sử
[7], viết rằng, sau khi đảo
chánh thất bại, Nguyễn Tường Tam vẫn không bị giam giữ ngày nào,
khác với những người khác: “Nguyễn Tường Tam sau khi bị điều tra
sơ khởi tại Nha Cảnh sát, Nha An Ninh Quân Đội và thẩm vấn sau
cùng tại Tòa án Quân Sự Đặc Biệt, đã được Đại tá Lê Văn Khoa ủy
viên chính phủ phóng thích ngay, không bị giam giữ một ngày nào.”
Như vậy, nếu không có lệnh và tấm lòng quý mến của Tổng thống
Diệm đối với Nhất Linh, ông Tòa nào dám cho ông Tam được tự do?
Điều này, vô tình Nguyễn Tường Thiết cũng đã xác nhận: “Mấy tháng
sau [NLGO: sau khi Nhất Linh trốn tại tòa đại sứ Trung Hoa Dân
Quốc hay một nơi nào] chúng tôi ngạc nhiên thấy cha tôi trở về.
Anh tôi hỏi thì ông cụ trả lời giản dị ‘Cậu được vô can’ và không
tiết lộ điều gì hơn.” Vô can, vì cũng theo Lê Nguyên Phu: “Trong
biên bản do chính Đại tá Lê Văn Khoa thẩm vấn, Nguyễn Tường Tam
khai thực sự không biết gì nội vụ, không có tổ chức căng biểu
ngữ, rải truyền đơn chống chính phủ trước Dinh Độc Lập. Những sự
việc này hoàn toàn do đám em út của ông (Trương Bảo Sơn, Nguyễn
Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương v.v.) tự động làm ra [NLGO nhấn
mạnh] ông ngăn không nổi [sic]. Ông thỉnh cầu Đại tá Lê Văn Khoa
đừng đem ông đối chất với đám thuộc hạ”. Tôi tin điều Lê Nguyên
Phu tiết lộ là có thực (ông Phu còn sống tại Montréal, và dĩ
nhiên, phải chịu trách nhiệm về những gì ông đã viết ra), vì có
như thế mới cắt nghĩa được sự “ngạc nhiên” của Nguyễn Tường Thiết
khi thấy cha mình bình yên trở về và câu trả lời của “ông cụ”
(“cậu được vô can”). Muốn tha bổng một người trong khi lại giam
giữ những tội phạm khác, dù có chỉ thị của Tổng thống, ông Tòa
nào cũng phải dựa vào một cái cớ, không thể thả về khơi khơi, sẽ
bị mang tiếng thiên vị. Đối với Nguyễn Tường Tam, cái cớ ở đây là
ông “không biết gì nội vụ”, tất cả do “đám đàn em của ông”, và
bởi thế mới xin Tòa khỏi phải đối chất với họ. Trong khi ấy,
Nguyễn Tường Thiết nói cha ông không bị giam giữ vì tòa không tìm
ra bằng cớ. Không có bằng cớ thì cứ bình chân như vại, chờ ngày
ra tòa xét xử, tại sao phải chạy trốn, và sau cùng tự tử? Ông
Thiết viết: “Cuộc đảo chính thất bại. Tôi nghe nói là bố tôi sau
đó đã lẩn trốn ở nhiều nơi trong thành phố. Sau này tôi nghe nói
ông phải đi trốn vì ông có tên trong một tờ truyền đơn chống
chính phủ được rải ra trong thành phố vào buổi sáng ngày đảo
chánh. [...] Tôi thắc mắc tại sao ông cụ lại vô can được khi ông
biết trước vụ đảo chánh xẩy ra lại có tên ông trong tờ truyền
đơn, trong khi hầu hết những người có tên trong tờ truyền đơn bị
bắt hết? Sau này được tiếp xúc với Giáo Sư Nguyễn Thành Vinh, một
đàn em cũng là đồng chí của ông cụ, anh Vinh xác nhận với tôi:
‘Anh Tam đã tuyên bố không làm chính trị, vì vậy anh đứng ngoài,
anh chỉ ủng hộ ngầm việc làm của các anh em mà thôi. Tất cả các
buổi họp quan trọng trước ngày đảo chánh đều không có mặt anh
Tam. Tuy nhiên anh được thông báo mọi diễn tiến. Vì vậy anh Tam
biết trước có vụ đảo chánh xẩy ra.’ Từ những sự kiện trên và là
người con gần gũi và thấu hiểu ông cụ tôi nhất, tôi suy luận thế
này: Một mặt cha tôi bất mãn với chế độ nhà Ngô về sự độc tài của
chế độ này. Mặt khác vì lời tuyên bố không làm chính trị của ông
năm 1950, lại là người rất trọng danh dự, ông cụ tôi hết sức
tránh mọi hành vi đi ngược lại lời tuyên bố của ông. Giữa hai
động lực tương phản ấy cha tôi khôn ngoan chọn thái độ đứng giữa
nó có thể giúp ông một lúc đạt cả hai mục tiêu: đó là ngầm tán
trợ các hoạt động của anh em đồng chí của ông, nhưng riêng ông
đứng ngoài. Sự kiện ông cụ tôi không bị bắt có thể vì người ta
không tìm ra bằng cớ. Thứ nhất là ông cụ tôi không bao giờ đi họp
[...] Thứ hai là có tên trong trong tờ truyền đơn cũng không hẳn
là bằng cớ rõ ràng để bắt vì có gì chứng minh ngược lại là người
khác để tên ông cụ tôi vào?” [những chỗ in đậm là do tôi].
– Qua lời ông Thiết, ta có thể đi đến một kết luận, ngoài ý
muốn của ông: Ngô Đình Diệm không độc tài. Nghĩa là, nếu muốn bắt
người vô tội, một chế độ độc tài có thể ngụy tạo ra bao nhiêu
bằng cớ mà chẳng được, như ngụy quyền Việt Cộng bây giờ đã và
đang làm đối với người dân trong nước?
– Một điều nữa:
những đàn em của ông Nguyễn Tường Tam bây giờ muốn tán hươu tán
vượn về ông sao cũng được, không ai cấm, không bị bỏ tù hay đóng
thuế về tội nói dóc. Nhưng những lời khai của họ trước tòa sau
lúc bị bắt mới có giá trị
[8]. Khi ông Tam tuyên bố không làm
chính trị nữa, không đi họp, không tiếp xúc, nghĩa là “đứng ngoài
[...] chỉ ủng hộ ngầm”, mà vẫn được đồng đảng “thông báo mọi diễn
tiến và biết trước có vụ đảo chánh xẩy ra” thì quả thực tôi không
hiểu ý thức bảo mật của họ cao đến cỡ nào, nếu họ có ý thức bảo
mật.
– Sau cùng, ông Thiết viết: “có tên trong tờ truyền
đơn cũng không hẳn là bằng cớ rõ ràng để bị bắt vì có gì chứng
minh ngược lại là người khác đề tên ông cụ tôi vào?” Thật sao?
Ông Thiết thường trích những lời đàn em của Nhất Linh nếu thấy có
lợi, nhưng lờ đi nếu thấy bất lợi hoặc có hại. Ở đây, cũng thế.
Này nhé, ông Thiết: Trương Bảo Sơn, trong bài “Những kỷ niệm
riêng với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam” in trong Nhất Linh, người
chiến sĩ – người nghệ sĩ, Thế kỷ 21 xuất bản, 2004, đã viết câu
này –do nhà văn Nhật Tiến trích dẫn giùm: “Khi thảo truyền đơn,
trong danh sách những người ký tên, chúng tôi đã để tên Nguyễn
Tường Tam lên đầu, rồi mới tới tên các cụ Phan Khắc Sửu, Trần Văn
Hương, Trần Văn Văn, Nguyễn Xuân Chữ v.v. Ông Tam đã sửa lại để
tên ông sau tên ông Chữ[NLGO nhấn mạnh]. Trước sự ngạc nhiên của
tôi, ông giải thích: ‘Ông đừng quên người ta vẫn nói miền Nam của
người Nam, mình là người Bắc di cư, phải lưu tâm và tôn trọng
điều đó.’” [9]
Việc sửa đổi truyền đơn chứng minh Nguyễn
Tường Tam, một người mà ông con mô tả “rất trọng danh dự”, tôi
suy luận, đã không giữ đúng lời hứa của mình, nghĩa là đã đồng ý
xuống núi “Langbian” tham gia đảo chánh, dù là để ăn ké. Ngoài
ra, theo Wikipedia, năm 1960, Nguyễn Tường Tam về Sài Gòn thành
lập Mặt Trận Quốc Dân Đoàn Kết. Ngoài ra nữa, chính ông con cũng
(vô ý, hay lơ đãng) tự tố cáo cái xạo, cái mâu thuẫn, câu nọ chửi
bố câu kia, trong bài của mình: “Nhưng ‘tu tiên’ [NLGO: tại Đà
Lạt] không được vì những biến chuyển chính trị ở Sài Gòn khiến
cha tôi không thể ngồi yên.”
Hơn nữa, nếu cha ông thực sự
có tham gia đảo chánh thì đó là điều nên hãnh diện chứ, việc gì
Nguyễn Tường Thiết lại phải chối bai chối bải như thế? Thật lạ
lùng! Hay vì:
*ông muốn chứng minh và bênh vực thái độ mà
ông cho “khôn ngoan chọn thái độ đứng giữa” của cha mình? Khôn
ngoan, hay khôn lỏi, cốt lừa đồng chí, chạy tội, khi thất bại?
*ông muốn cho thế giới thấy cha ông vô tội, nhưng chế độ “độc
tài” Ngô Đình Diệm cứ theo trù ẻo, đến nỗi “ông cụ” phải quyên
sinh? Dám lắm.
c. Tự tử cũng là một cách tự xử, đó là
cung cách và truyền thống cao đẹp, đáng ngưỡng mộ của những hiền
nhân quân tử. Tuy nhiên, khi Nguyễn Tường Tam viết rằng bằng cách
tự tử ông muốn “cảnh cáo” Ngô Đình Diệm đã “chà đạp lên mọi thứ
tự do” ông đã vô tình làm hoen ố hành động tự xử can đảm ấy. Ở
đây ông lấy cái chết để xử tội người khác. Nghe rất phi lý. Đi
theo nhóm quân sự đảo chánh bằng súng đạn còn không ăn cái giải
gì thì tự tử để “cảnh cáo” có ích lợi chi, nếu Ngô Đình Diệm là
một nhà độc tài thực sự, như ông đã kết án.
– Trái lại,
theo lời của Minh Võ, thì khi nghe tin Nhất Linh chết, “ông Diệm
rất buồn rầu, phải lên Đà Lạt tĩnh dưỡng mấy ngày”
[10]. Điều
này, nếu đúng, chứng tỏ tấm lòng nhân ái của Ngô Đình Diệm và sự
kính nể của ông đối với Nguyễn Tường Tam, và ông Tam sẽ chỉ có lý
nếu chữ “cảnh cáo” được hiểu trong cảnh huống (context) của một
Ngô Đình Diệm nhân hậu –điều mà ông (Nguyễn Tường Tam) và gia
đình không bao giờ công nhận. Ý tôi muốn nói: không một nhà chính
trị sáng suốt nào đã dùng cái chết của mình để “cảnh cáo” một
cách có hiệu quả một lãnh tụ gian ác, ví dụ Staline, Hitler, Pol
Pot, Hồ Chí Minh hay bọn VC bây giờ. Vô ích. Ngược lại, dưới chế
độ cộng sản độc tài, tàn bạo hiện nay tại Việt Nam, mọi hình thức
tự thiêu, tự hủy, tự đâm, tuyệt thực...
[11]), mặc dù per se (tự
nó) cao cả, phi thường, giống như cái chết của Nguyễn Tường Tam,
VC đều coi như pha, và nước Mỹ của Obama và thế giới đồng lõa
cũng coi như pha.
– Còn việc “chà đạp mọi thứ tự do”?
Nguyễn Tường Thiết hoặc bất cứ ai, hãy nêu ra, thay cho Nguyễn
Tường Tam, chỉ một bằng chứng cụ thể, hợp lý, dù nhỏ. Lần giở
những trang sử cũ nay đã phơi bày lồ lộ dưới ánh sáng của thời
gian và chân lý, ai cũng biết vụ Phật giáo đã bị Mỹ, đúng ra
chính phủ Kennedy và CIA, lợi dụng như thế nào qua một sự kiện
không đúng thời điểm gây ra bởi những kẻ hăng say dưới quyền của
tổng thống Ngô Đình Diệm (bắt cờ Phật giáo phải nhỏ hơn cờ quốc
gia trong ngày lễ Phật đản tại Huế, chứ không phải cấm treo cờ,
như đám cuồng tín bị Việt Cộng giật dây vẫn rêu rao
[12]. Quả
vậy, người ta còn nhớ, lúc ấy, John F Kennedy muốn đưa quân Mỹ
vào Việt Nam chiến đấu, cốt để “vuốt mặt” sau vụ thất bại ở Vịnh
Con Heo, năm 1961, và nhân trận Ấp Bắc, tỉnh Tiền Giang,
2/1/1963, chê quân lực VNCH thiếu khả năng chiến đấu (thực ra
trong trận này VC chết và bị bắt khá nhiều). Nhưng dự định ấy
(đưa quân Mỹ vào VN) của Kennedy bị Ngô Đình Diệm nhất quyết từ
chối, và vì vậy bất cứ giá nào –kể cả tung tin ông Diệm đi đêm
với Hồ Chí Minh và ra tối hậu thư phải loại bỏ vợ chồng bào đệ
Ngô Đình Nhu– Kennedy phải triệt hạ ông, và vụ Phật giáo là dịp
may hiếm có [13]. Những gì xảy ra tiếp theo, những người Việt Nam
thành niên và có đầu óc bình thường vào thời gian ấy đều biết quá
rõ: Kennedy đã mượn tay nhóm phản tướng tham tiền để giết Ngô
Đình Diệm. Period. Không có gì phải huênh hoang. Tôi sẽ dẫn thêm
tài liệu trong một bài khác, nếu cần, về việc này.
– Ngoài
ra, trong di chúc của Nguyễn Tường Tam, người ta đọc: “Sự bắt bớ
và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ
làm cho nước mất về tay cộng sản.” Sai quá. Ngô Đình Diệm bắt và
xử tội họ không phải vì họ là những thành phần đối lập, nhưng vì
họ đã tham gia đảo chánh, lật đổ ông, mưu giết ông. Bằng cớ, chỉ
sau vụ đảo chánh hụt, người ta mới nghe nói đến “nhóm Caravelle”
–gồm những chính khách, có cả những cựu cộng sự viên của ông Diệm
bị cho nghỉ việc, hoặc ở vào cái thế phải tự nghỉ việc, đâm ra
bất mãn– nghĩa là thời gian trước đó họ vẫn tự do nhâm nhi
cà–phê, nốc rượu mạnh tại khách sạn, tự do hội họp, tự do bày mưu
tính kế.
– Rồi nước mất, vào ngày 30/4/1975, không phải do
“độc tài” Ngô Đình Diệm, mà do đám phản tướng, theo lệnh quan
thầy Mỹ, đã sát hại ông, để chia nhau từng đồng tiền thưởng của
CIA (xem hồi ký của Trần Văn Đôn), tranh giành ghế ngồi, nhưng vì
bất tài vô tướng (xin hiểu theo nghĩa “tâm sinh tướng”), tham lợi
danh (tài liệu đầy dẫy), đã gây ra bao nhiêu rối loạn về:
* quân sự: phá bỏ ấp chiến lược, thả hết tù Việt Cộng
*
chính trị: sau khi ông Diệm chết, Phật giáo bị Thích Trí Quang và
Việt Cộng xách động tiếp tục biểu tình, chống đối các chính phủ
Trần Văn Hương và Nguyễn Cao Kỳ, tự thiêu, đem cả bàn thờ Phật
xuống đường, tại sao? Tôi còn nhớ phản ứng của thủ tướng Trần Văn
Hương, một Phật tử, một người trên cương vị lãnh đạo không thể
không thấy âm mưu phá hoại trắng trợn của Việt Cộng và tay sai,
đã buộc phải tuyên bố trên đài phát thanh, năm 1964, gọi những
cuộc biểu tình ấy là “những trò khỉ” –một câu rất nặng nề (tôi
chỉ trích ra một nửa) mà không thấy Phật tử bây giờ và báo chí Mỹ
lúc ấy thắc mắc, khác với trường hợp bà Ngô Đình Nhu
[14].
* xã hội: nhảy đầm thả giàn, đĩ điếm, trụy lạc, tham nhũng,
buôn lậu... những tệ đoan làm băng hoại Miền Nam và giảm sút tinh
thần chiến đấu của quân sĩ, tất cả chỉ làm lợi cho Việt Cộng. Ấy
là chưa kể thái độ chống Cộng thụ động của dân chúng, cộng với sự
phản bội trắng trợn của “đồng minh” Mỹ, nói toạc ra là hai chuyên
viên lừa đảo, xảo quyệt Nixon và Kissinger, cộng với quyết định
từ chức, đào tẩu, không dám chết theo thành của Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu... ngần ấy nguyên nhân, sự kiện đã gây nên và dẫn tới
sự sụp đổ của Miền Nam vào tay cộng sản 12 năm sau. Ngô Đình Diệm
bị giết, Hồ Chí Minh tuyên bố phần chiến thắng từ nay sẽ thuộc về
y ta [15].
d. Phải chăng uống thuốc độc tự tử là một
phương cách đã ám ảnh Nhất Linh qua quyển Giòng sông Thanh Thủy,
1960–61, một trong những tác phẩm cuối cùng của ông? Theo truyện,
không có nhân vật nào tự tử, nhưng các thành viên Việt Quốc thủ
tiêu những phần tử gián điệp Việt Minh toàn bằng thuốc độc, hoặc
tiêm hoặc trộn với cà–phê
[16]. Biết đâu, và đây chỉ là một giả
thuyết, tác giả Nhất Linh, trong một cơn khủng hoảng, muốn đóng
vai trò của những nhân vật khi tưởng tượng (“bệnh tâm thần”, theo
Nguyễn Văn Lục?) mình là nạn nhân bị thủ tiêu (thực ra là “tự thủ
tiêu”) bởi Ngô Đình Diệm bằng cách uống ly rượu pha độc dược?
Ngoài câu nói nổi tiếng của Flaubert, “Madame Bovary (vừa tên tác
phẩm vừa tên nhân vật), c’est moi.” –bộc lộ ảo giác của một người
muốn trở thành giống như điều mình mong ước và nuôi những giấc mơ
không thể với nắm được– những ví dụ về việc tác giả đồng hóa với
những nhân vật của mình có nhiều trong văn học sử thế giới
[17].
e. Trong khi hăng say kết tội Ngô Đình Diệm, Nguyễn Tường
Thiết, Huỳnh Tấn Lê, Vũ Ánh, Đào Văn Bình và bọn Việt Gian ăn có
–nhan nhản tại hải ngoại, những đứa ngày xưa miệng ngậm đầy cơm
quốc gia bây giờ lộ tênh hênh chân tướng phản bội hèn hạ với
những bài phát biểu điên cuồng chống Ngô Đình Diệm– đã quên những
tội ác của Hồ Chí Minh, Việt Minh và Việt Cộng từ 1945: lừa phỉnh
và tiêu diệt các đảng phái lớn nhỏ, trong đó có Việt Nam Quốc Dân
Đảng của Nguyễn Tường Tam, giết hại bao nhiêu thành viên. Họ đã
quên, như trong buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn, ngày 7/7 vừa
qua, diễn giả Trần Khánh Triệu, con nuôi của Khái Hưng (tức
Nguyễn Tường Triệu, con ruột của Nhất Linh), khi phát biểu, đã
chỉ nhắc những kỷ niệm vớ vẩn, không cần thiết về “papa” nuôi, cố
ý làm khán thính giả cười một cách gượng gạo, mà không nói lấy
nửa lời về sự nghiệp và giá trị văn chương sáng ngời của Khái
Hưng và mãi đến sau chót mới kể chuyện ông bị Công an dẫn đi
biệt, nhưng cử tọa không hề nghe ông diễn giả con nuôi kết tội
Việt Cộng đã thủ tiêu ông nhà văn bố nuôi của mình. Tại sao? Sợ,
hay có lệnh của ai? [18] Giá như Khái Hưng chết bởi tay Ngô Đình
Diệm thì chắc chắn 100% Trần Khánh Triệu và Ban điều hành Người
Việt đã tức thời mang ông Diệm ra pháp trường cát.
4.
Đâu
là tội ác của Ngô Đình Diệm? Những câu sau đây của Nguyễn Tường
Thiết có phải là một trong những bằng cớ?
“Cha tôi chơi
lan, hòa nhạc tại gia vào cuối tuần. Thỉnh thoảng ba chúng tôi
(cha tôi, chị Thoa và tôi) đi picnic trên núi Langbian hoặc ở
Suối Vàng. [...] Lâu lâu bạn bè của cha tôi từ Sài Gòn lên Ðà Lạt
ghé thăm cha tôi. Bạn của cha tôi nhiều lắm và đủ loại: bạn thân,
bạn văn, bạn đồng chí và cả các chính khách nữa [...] nhưng tôi
đoán thế nào họ chẳng bàn chuyện thời sự và chính trị. [...] Cha
tôi nói: ‘Việc dẹp loạn Bình Xuyên là đúng, nhưng coi chừng, nó
có thể mở đầu dẫn đến độc tài.’”
a.
Như thế là thế nào?
Được chơi lan, hòa nhạc, đi picnic, gặp và nói chuyện, kể cả về
chính trị và thời sự, với bạn bè, đồng chí... đó là sinh hoạt sặc
mùi trưởng giả của một người luôn kêu rêu là bị đối thủ “độc tài
gia đình trị” theo dõi, rình mò, kềm kẹp ư?
b. Còn nữa:
tại sao dẹp được loạn Bình Xuyên, năm 1954, Ngô Đình Diệm sẽ trở
thành độc tài? Lời “tiên tri” kỳ quặc ấy, Nhất Linh, hay con ông,
Nguyễn Tường Thiết, không giải thích, hoặc giải thích bằng tiềm
thức của những sự việc đã xảy ra vào năm 1960 và về sau, trong
khi hoặc sau khi ông Tam tham gia vụ đảo chánh hụt, chứ không
phải vào thời Ngô Đình Diệm dẹp loạn Bình Xuyên năm 1954.
Thực vậy, khi trở về chấp chánh, ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm đã
gặp biết bao khó khăn gây ra bởi thù trong giặc ngoài, từ Thực
dân Pháp, cộng sản Việt, và sau này đế quốc Mỹ, luôn phá bỉnh,
đến những tướng lãnh theo Tây như Nguyễn Văn Hinh, Nguyễn Văn
Xuân, Nguyễn Văn Vỹ, bất phục tùng, tìm dịp nổi loạn, đến Bảo Đại
và đàn em Bảy Viễn, Lại Văn Sang, Lại Văn Tài, đến các giáo phái
ly khai võ trang Cao Đài, Hòa Hảo chống lại chính quyền còn non
trẻ... Chưa kể việc lo thực hiện công cuộc di cư và định cư vĩ
đại cho gần một triệu người dân từ Miền Bắc, cải tổ quân đội, ổn
định đời sống an ninh và xã hội cho người dân Miền Nam. Chưa kể
sự đánh phá của Việt Cộng lợi dụng thời cơ xâm nhập vào những cơ
sở hạ tầng. Bao nhiêu công việc ấy đòi hỏi một khả năng xuất
chúng, một nghị lực vô song, và, dĩ nhiên, một biểu lộ quyền uy
tối thượng, mà những kẻ chống đối gọi là “độc tài”. Tiếc rằng
Nguyễn Tường Tam, người có nhiều kinh nghiệm xương máu với Việt
Minh cộng sản từ 1945, không còn sống để chứng kiến những gì xảy
ra dưới những chế độ quân phiệt sau khi Ngô Đình Diệm bị giết và
tội ác của Việt Cộng và bộ hạ của Hồ Chí Minh từ 1975 đến nay như
thế nào.
5. Thị xã Ðà Lạt tràn đầy băng rôn biểu ngữ chống
cộng sản. Trong các dịp lễ tết thế nào cũng có màn kịch tố cộng
với những anh hề “cán ngố” áo đen nón cối nhẩy vũ điệu tập thể
“son mì son mì son đố mì.” Nhưng song song với phong trào tố cộng
một phong trào khác cũng rầm rộ không kém. Ðó là phong trào “suy
tôn Ngô Tổng Thống.” [...]
Hai điều cần phải ghi nhận từ
đoạn văn này của Nguyễn Tường Thiết:
a. Chế giễu phong
trào tố cộng một cách khéo léo. Tôi không chụp nón cối trên đầu
ông đâu. Xin quý vị đọc lại, và để ý đến giọng văn mỉa mai, đến
những chữ “tràn đầy”, “thế nào cũng có”, “tố Cộng”, “anh hề”, và
nguyên văn câu hát, không cần thiết nêu ra, “son mì son mì son đố
mì”. Nếu không cố tình lố bịch hóa phong trào chống Cộng, nhà văn
tài ba Nguyễn Tường Thiết có dư khả năng để viết một cách khác,
đứng đắn và vô tư hơn.
b. Phong trào “suy tôn Ngô Tổng
Thống”: Bài hát “suy tôn” đã do hai nghệ sĩ Ngọc Bích và Thanh
Nam sáng tác, được hát sau bài quốc ca trong các buổi lễ thượng
kỳ, kể cả khi xem chiếu bóng, từ 1956. Cả hai tác giả đã chết,
nên không ai biết vì họ tự động, cảm khái trước công lao to lớn
của ông Diệm đối với Miền Nam lúc ấy hay vì nhận “đơn đặt hàng”
từ chính quyền. Dù trong trường hợp nào, Ngô Đình Diệm cũng đã để
yên, và những kẻ chống đối cho đó là một trong những khía cạnh
“độc tài” của ông.
c. Có nhiều bài tranh luận về vấn đề
suy tôn này, kẻ bênh người chống. Chẳng hạn, tác giả Trần Văn
Tích nêu ra, một cách hữu lý, trường hợp chính phủ Vichy của
thống chế Pétain (công hay tội, chưa nói tới) đã tung ra bài hát
rất thịnh hành “Maréchal, nous voilà” [...] của André Montagnard,
năm 1941, và trường hợp bản quốc ca của nước Anh từ trước đến nay
vẫn là “God save the Queen / The King”, mà người dân Anh –đâu
phải ngu xuẩn, lạc hậu gì– vẫn vui vẻ chấp nhận. Ý kiến của Trần
Văn Tích không được tác giả Trần Lâm tán đồng
[19]. Đó là hai ví
dụ suy tôn một cá nhân lãnh đạo, được xem là biểu tượng của uy
quyền quốc gia. Trường hợp Ngô Đình Diệm cũng không khác chi.
d. Theo thiển ý, lãnh tụ nào trên thế giới, trong thâm tâm
hoặc công khai, cũng muốn được tôn vinh. Nếu được làm tổng thống
như Ngô Đình Diệm, khi được nhân dân suy tôn như thế, Nguyễn
Tường Tam sẽ phản ứng ra sao? Sẽ bảo, thôi thôi, dẹp đi, hay cứ
để mặc? Dân suy tôn, nhưng miễn mình xứng đáng, vào một thời điểm
nào đó, có sao đâu? Lúc ấy Miền Nam được hưởng một thời kỳ thái
hòa, thịnh vượng, tất cả là do công lao của Ngô Đình Diệm, công
lao mà dù ghét ông cách mấy, người ta cũng không thể phủ nhận. Ấy
là chưa kể nhu cầu củng cố uy thế –điều mà lãnh tụ nào cũng phải
nhờ đến [20]. So sánh với vô vàn hình thức sùng bái lãnh tụ trong
chế độ Đức Quốc Xã, hay cộng sản, đặc biệt tại Việt Nam (ví dụ
những bài thơ con cóc, ăn cắp, của Hố Chí Minh được bộ hạ bần cố
nông hít hà khen lấy khen để, ví dụ tượng Hồ Chí Minh được bọn
răng đen mã tấu công kênh đưa lên bàn thờ ngồi ngang với Phật,
Chúa), thì bài hát “suy tôn Ngô tổng thống” có phải là một chuyện
quan trọng, bất thường, hay không?
e. Trở lại việc “suy
tôn Ngô Tổng Thống”. Một chuyện nhỏ, nhưng Nguyễn Tường Tam, vốn
là nhân chứng và nạn nhân của chế độ Việt Minh cộng sản tham tàn
lúc nào cũng tung hê “Bác Hồ vĩ đại”, Bác thế này, Bác thế kia,
vẫn cho là chuyện lớn đến độ con ông phải viết “Ðây là một trong
những điều khiến cha tôi bất mãn với chế độ nhà Ngô”. Bất mãn vì
bài hát đó, hay vì không được nhà Ngô mời, hay trọng dụng? Nguyễn
Tường Thiết viết thêm: “Hãy tưởng tượng ông cụ tôi, Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam, bị buộc phải đứng dậy (không phải để chào cờ)
để suy tôn ông Ngô Đình Diệm. Khoe gì mà dữ thế, hả ông?” Quả
thực, lúc ấy “ông cụ” của ông, về thành quả chính trị, bất quá
cũng chỉ là hào quang tàn lụn của một quá khứ chống Việt Minh và
cộng sản, nhưng thất bại, phải chạy sang Tàu và cuối cùng vào
Nam. Nếu không có tham vọng chính trị, không mặc cảm, thì khi
nghe bài hát suy tôn người ta cũng sẽ chỉ nhún vai, hoặc lắc đầu,
không ai “bất mãn” như thế để đến nỗi phải bỏ cao nguyên xuống
Sài Gòn tham gia đảo chánh.
6. “Năm 1958 cha tôi ra tờ báo
Văn Hóa Ngày Nay.[...] Sau này dọ hỏi hai người trong ban biên
tập của báo VHNN là ông Nguyễn Thành Vinh và ông Trương Bảo Sơn
thì tôi càng kinh ngạc hơn nữa: báo không ra nổi vì lỗ vốn. Trong
cuốn sách ‘Nhất Linh, Người Nghệ Sĩ–Người Chiến Sĩ’ do Thế Kỷ
xuất bản năm 2004, trang 78, ông Trương Bảo Sơn viết: ‘Tờ Văn Hóa
Ngày Nay ra được 11 số thì đình bản, mặc dù được độc giả khắp nơi
hoan nghênh. Ôi, chỉ vì nó được hoan nghênh quá xá mà chết non.
Nguyên nhân thế này: ‘Trước hết tập Văn Hóa Ngày Nay không được
chế độ Ngô Ðình Diệm cho phép xuất bản như một tạp chí mà chỉ là
một giai phẩm phát hành không có định kỳ. Vì không có định kỳ nên
Bộ Thông Tin kiểm duyệt cố tình để lâu mới trả lại bản thảo để
in. Ông Hoàng Nguyên, chủ sự phòng kiểm duyệt đã nói với tôi rằng
tuy có nhiều cảm tình với chúng tôi, nhưng không thể làm trái
lệnh cấp trên là cản trở tờ Văn Hóa Ngày Nay ra đúng kỳ hạn (tỷ
dụ như đúng ngày mồng 1 mỗi tháng) để đọc giả nhớ ngày mua báo.
Hơn nữa bài vở phải kiểm duyệt kỹ, nhất là bài của Nhất Linh và
Bảo Sơn.’
‘Sau nữa, ngoài chế độ kiểm duyệt, phản quyền tự
do ngôn luận này ra, chế độ Ngô Ðình Diệm còn có một thủ đoạn
hiểm độc nữa là nhà nước giữ độc quyền phát hành báo chí, kể cả
giai phẩm. Ngô Ðình Diệm đã có sáng kiến đặt ra Nhà Phát Hành
Thống Nhất, bắt tất cả các báo chí phải đưa cho công ty này phân
phối. Tập Văn Hóa Ngày Nay bán chạy như tôm tươi mấy số đầu, đã
bị ế đi. Nhà phát hành độc quyền của chính phủ đã thi hành độc kế
không gửi đủ số báo cho các tiệm sách đã đặt mua. Chúng tôi khi
buộc báo thành từng bó đã cố ý đánh dấu riêng, khi nhận báo từ
nhà phát hành trả về, thấy những dấu ấy vẫn còn y nguyên, tức là
nhà phát hành đã không làm đúng nhiệm vụ, đã giữ báo của chúng
tôi trong kho, không phân phối đi. Có những tiệm sách đến điều
đình mua thẳng báo với chúng tôi để có đủ báo bán, nhưng chúng
tôi phải từ chối vì sợ chính quyền gài bẫy. Ðã nghèo lại bị thua
lỗ, chúng tôi đành đình bản tờ Văn Hóa Ngày Nay.’”
Tôi cố
tình trích hết đoạn văn dài này để quý vị thấy sự ngụy tín
(mauvaise foi = ý gian) của Nguyễn Tường Thiết và Trương Bảo Sơn
(chồng của Nguyễn Thị Vinh, người coi Nhất Linh như thần tượng),
một Trương Bảo Sơn lật lọng mà tác giả Lê Nguyên Phu đã nhắc đến
tên trong sách của ông
[21]. Vì sao? Làm báo (giấy) thua lỗ là
chuyện thường, kể cả thời nay, bởi kỹ thuật vi tính tân tiến. Làm
báo, trừ vài trường hợp hãn hữu, có nghĩa là từ chết đến bị
thương. Người ta thường nói đùa, muốn cho ai sạt nghiệp, cứ xúi
họ làm báo. Ngay cả bưu điện Mỹ cũng than ế ẩm, vì người ta
thường viết thư qua email. Vô lẽ đổ thừa cho những người phát
minh ra máy vi tính là “độc tài”, là dùng “độc kế”? Sự thực, Nhất
Linh chỉ than “vì lỗ vốn” –là điều có thật. Nhưng con ông và
Trương Bảo Sơn thì ngụy tạo thêm một “độc kế” gắn lên đầu Ngô
Đình Diệm và chế độ. Sự ngụy tạo ấy quá vụng về, đến nỗi người ta
phải đánh dấu hỏi về khả năng suy luận và mức độ lương thiện của
hai đương sự đã quá coi thường trí tuệ của độc giả. Đây này:
a. Tờ Văn Hóa Ngày Nay ra được 11 số thì “tự đình bản”. Ra
được 11 số như vậy là giỏi lắm rồi. Ra dưới dạng “tạp chí” hay
“giai phẩm”, hay cả nhật báo, tuần báo, cũng đều do người chủ
xướng tự chọn, mắc mớ chi đến chính quyền cho phép hay không cho
phép? Nguyễn Tường Thiết quên một điều: người Việt Nam ta, thời
nào cũng vậy, ít khi bỏ tiền mua báo, và lúc ấy, hay ngay bây
giờ, tại Việt Nam chưa có báo chợ, báo lượm. Để tiết kiệm, một
người mua, nhưng cả chục người đọc ké. Làm sao báo sống được?
b. Ngoài Văn Hóa Ngày Nay, còn có nhiều tờ báo khác, ví dụ
Sáng Tạo, Bách Khoa, Thế kỷ 20...
[22] cũng rất bề thế, làm sao
khỏi có sự cạnh tranh, làm sao độc giả khỏi có sự chọn lựa, vì
tiền bạc eo hẹp đã không thể mua khuân hết về mà đọc. Quả thực,
Văn Hóa Ngày Nay khi mới ra lò đã thu hút một số lớn độc giả tò
mò, trong đó có thân phụ tôi. Nhưng rồi, theo thời gian, nếu tôi
nhớ không lầm, thấy không có gì mới lạ nữa, ngoài mục thư tín do
Nhất Linh phụ trách chiếm quá nhiều trang, đăng những bài điểm
sách Tự Lực Văn Đoàn, chỉ cách trồng và thưởng thức lan, và
trường thiên tiểu thuyết mới dài lê thê của Nhất Linh, như Xóm
Cầu Mới hay Giòng Sông Thanh Thủy, hay một số truyện giá trị
trung bình của những tác giả khác... nên người ta chán.
c.
Văn Hóa Ngày Nay, như thế, hoàn toàn thiên về văn chương, văn
học, giống như những tờ báo khác, thì lấy lý do gì chính quyền
Ngô Đình Diệm phải dùng “trì hoãn kế” để giết chết nó? Mà nếu
muốn giết chết nó, Ngô Đình Diệm –luôn luôn bị xem là một nhà
“độc tài gia đình trị” bởi hai cha con ông Nhất Linh– còn sợ gì
mà không cho lính mang súng đến niêm phong tòa soạn, đóng cửa cái
rột, thay vì “cản trở [nó] ra đúng kỳ hạn” làm chi cho lôi thôi,
mất thì giờ? Ngay tại xứ Mỹ tự do, tờ Thế Giới Ngày Nay của ông
Lê Hồng Long, Kansas, ít khi ra đúng hạn kỳ, mà chủ nhiệm hay độc
giả có bao giờ than vãn là do chính quyền Mỹ cản trở?
Rồi
nữa, chính phủ Ngô Đình Diệm ưu ái (Miền Bắc cộng sản có làm như
vậy không?) cho in lại và đưa vào chương trình học những tác phẩm
của Tự Lực Văn Đoàn, mà Nhất Linh là chủ soái, thì có lý do gì
lại làm khó dễ, cấm cản “giai phẩm” thuần túy văn chương của ông?
Và nếu “nhà nước giữ độc quyền phát hành báo chí, kể cả giai
phẩm” thì điều này cũng phải được áp dụng cho các tờ báo khác
chứ, mà nếu có, sao không nghe những chủ nhiệm khác kêu ca về
chuyện ấy?
d. Trương Bảo Sơn viết rằng chế độ Ngô Đình
Diệm “kiểm duyệt báo chí, phản quyền tự do ngôn luận”. Cũng như
Nguyễn Tường Thiết, trong đoạn sau, phụ họa bằng câu: “Những điều
nêu trên là sự thực xung quanh vụ đình bản của tờ Văn Hóa Ngày
Nay. Nó nói lên sự mà cha tôi là nạn nhân trực tiếp. Cũng như tất
cả những nhà văn, nhà báo khác khi họ bị tước đoạt quyền tự do
ngôn luận, cố nhiên là Nhất Linh rất bất mãn về chuyện này.”
Nguyễn Tường Thiết hãy kể ra một tên trong số “những nhà văn,
nhà báo khác [...] bị tước đoạt quyền tự do ngôn luận” thử nghe
coi! Ông cũng đừng quên là báo Phong Hóa–Ngày Nay (tiền thân Văn
Hóa Ngày Nay?) của cha ông đã bị Sở Liêm Phóng đóng cửa vào năm
1943. Trừ những nước Âu Châu thực sự tự do dân chủ, trừ những
nước cộng sản độc tài, bạo ngược, có cả Việt Cộng hiện nay, xin
hai ông Sơn và Thiết cho biết nước nào trong lúc chiến tranh mà
không kiểm duyệt báo chí, nhiều hay ít?
Nói gì thì nói,
Trương Bảo Sơn và Nguyễn Tường Thiết khi viết những điều trên
không biết rằng Nhật Tiến, sau này thuộc Nhóm TLVĐ và trở thành
người thân của Nhất Linh, đã phổ biến một bài mới toanh, ngày
20/5/2013, có tựa đề “Sinh hoạt văn hóa của Nhất Linh giai đoạn
cuối đời”, trong đó ông nêu nguyên nhân, rất đơn giản, và theo
tôi, rất trung thực, vì sao VHNN đình bản: “Một số báo như thế
báo hiệu sự sa sút rõ rệt về mặt nội dung, càng là lý do để ta có
thể đánh giá mức độ đón nhận của độc giả đối với tờ VHNN ra sao”
[23]. Nghĩa là báo VHNN xuống dốc, mất độc giả, nên lỗ vốn, phải
tự đình bản, thế thôi!
7. “Nhưng không bắt bớ không có
nghĩa là để cho ông cụ tôi được hoàn toàn tự do. Trong cuốn “Nhất
Linh Cha Tôi” trang 36 tôi ghi lại lời của cha tôi nói với tôi
buổi sáng ngày 7 tháng 7, 1963: ‘Cậu chẳng sợ kết quả (ra tòa)
ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau.’
Ngoại trừ những người trong gia đình tôi rất ít người biết
rằng trong hai năm sau cùng của đời ông cha tôi bị giam lỏng tại
gia như thế nào. Công an mật vụ canh chừng đến nỗi chúng tôi nhận
diện được từng người mỗi khi từ trên lầu căn gác chung cư chợ An
Ðông (nơi chúng tôi trú ngụ) nhìn xuống. Trang 40 cuốn hồi ký tôi
tả một đoạn khi cha tôi và tôi rời khỏi nhà: ‘Trên chiếc tắc–xi
rời chợ An–Ðông hướng về phía Sài Gòn, tôi thấy cha tôi cứ chốc
chốc lại ngoái về phía sau. Ông bảo tôi: ‘Con xem có xe nào theo
không? Lúc nẫy cậu thấy có mấy người lạ đứng bên kia đường nhìn
vào nhà mình’. Tôi ra hiệu cho tài xế quặt sang đường Trần Bình
Trọng, chiếc xe hơi duy nhất chạy phía sau vẫn tiến thẳng đại lộ
Thành Thái. Tôi đáp: ‘Không! Không có xe nào theo mình cả!’”
“Ở nhà hay ở tù cũng mất tự do ngang nhau”: Không thấy Nguyễn
Tường Thiết nêu lên một bằng cớ cho biết “ông cụ” không “hoàn
toàn tự do”. Không cho biết là vì không có bằng cớ. Còn nhìn thấy
ai cũng là “công an mật vụ” có thể là do triệu chứng “có tật giật
mình”, “con chim bị đạn” –mà trong bệnh lý tâm thần gọi là
paranoia, lúc nào cũng sợ hãi, tưởng mình bị theo dõi, bị bắt. Và
câu ông con trả lời cho ông cha: “Không! Không có xe nào theo
mình cả!” chứng minh hùng hồn triệu chứng tâm thần ấy, chưa kể
câu đó mặc nhiên đạp đổ luận điệu hàm hồ ở đoạn trước của chính
Nguyễn Tường Thiết khi cho rằng ông cụ “ở nhà hay ở tù cũng mất
tự do ngang nhau”.
8. “Ông cụ rất ít ra khỏi nhà. Những
tin tức ông biết được bên ngoài là do báo chí (cha tôi sai tôi đi
mua báo Tự Do hàng ngày và ông chỉ đọc tờ báo này thôi), ngoài ra
có hai người bạn thân của ông thường xuyên lui tới. Ðó là Bác Sĩ
Nguyễn Hữu Phiếm và ông Lê Văn Kiểm. Ông Kiểm (mà chúng tôi gọi
là chú Kiểm vì chú nhỏ tuổi hơn ông cụ tôi) thường đến hầu như
hàng ngày tường trình diễn tiến của vụ Phật Giáo. Ngày 11 tháng
6, 1963 khi chú Kiểm đến báo tin Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự
thiêu ở ngã tư Lê Văn Duyệt & Phan Ðình Phùng thì cha tôi sững
sờ”.
Ông cụ “rất ít ra khỏi nhà” là tự ý ông cụ, chứ không
phải “bị giam lỏng tại gia”, và chưa có văn thư nào của nhà “độc
tài” Ngô Đình Diệm cấm cản (nếu có, chắc chắn Nguyễn Tường Thiết
đã cho in ra nguyên con). Bị “công an mật vụ” túc trực canh chừng
mà Nguyễn Tường Tam vẫn mua và đọc báo (lại chọn tờ Tự Do!), vẫn
được bạn bè đến thăm tại nhà “hầu như hàng ngày tường trình diễn
tiến của vụ Phật Giáo”, thì hoặc “công an mật vụ” của Ngô Đình
Diệm bị mù và điếc hết, hoặc đầu óc tác giả Nguyễn Tường Thiết có
vấn đề.
9. “Ngoài ra để nói về vụ binh biến 1960, ông Lê
Nguyên Phu đã viết sai là “vụ binh biến 11/11/1963” (trang 193).
Nếu Ông Lê Nguyên Phu cứ nhớ sai chuyện này, viết sai chuyện kia
thì làm sao ông ấy có thể nhớ đúng lời khai của bị cáo Nguyễn
Tường Tam và các bị cáo khác?”
In sách, đánh máy sai là
sự thường, nhưng Nguyễn Tường Thiết muốn nó trở thành big deal,
nên suy diễn trật lất. Tuy nhiên, tôi đang có trong tay quyển
sách (không tái bản) của Lê Nguyên Phu. Ở trang 193, có tựa đề
nguyên văn: Nhận định V – Phiên xử vụ Binh Biến ngày 11/11/1960
trước Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt. Như vậy Nguyễn Tường Thiết hoàn
toàn sai. Như vậy những điều ông suy luận để phê phán về trí nhớ
của ông Lê Nguyên Phu cũng hoàn toàn sai nốt
[24].
10.
“Có lẽ ông Lục cho đây là một bằng chứng rõ rệt nhất ‘không chối
cãi’ được trong phần bàn luận về ‘bằng cớ pháp lý’ của ông. Tôi
xin nói ngay, đây là một giả thuyết thiếu thông minh của ông Lê
Nguyên Phu. Khi ngồi viết truyện này, có lẽ ông LN Phu đã nghĩ
tới cái quyền đánh đập, bạo hành, tra tấn bị cáo ở trong nhà tù
mà chính quyền ông phục vụ vẫn áp dụng. Hay có lẽ ông hình dung
bị cáo Nhất Linh dáng thiểu não run sợ trước quan tòa khi nghe
ông LN Phu ‘đóng kịch’ quát tháo, mạt sát, áp đảo tinh thần thì
Nhất Linh sẽ phải sợ ngay, răm rắp làm theo lệnh tòa, răm rắp
phải đối chất”.
Khách quan nhận xét, ông Nguyễn Tường
Thiết, trong đoạn văn này, nói năng lung tung quá, độc giả không
hiểu ông ám chỉ cái gì, đoạn văn nào và của ai. Ngoại trừ việc
lên án sự “tàn bạo” của chế độ Ngô Đình Diệm, thì rất hùng hồn,
rõ ràng, như thường lệ.
11. “Nhất Linh đã có quyết định
rồi. Nếu phải ra tòa ông sẽ chọn sự im lặng”.
Đó sẽ là
một quyết định sáng suốt. Nhưng cuối cùng, Nguyễn Tường Tam đã
chọn cách tự tử mà ông nghĩ có lẽ tốt hơn. Và cách ấy sẽ làm cho
ông trở thành một anh hùng vô cùng cao cả nếu trong chúc thư ông
không kèm theo những lời kết tội, thực ra là vu khống, chế độ Ngô
Đình Diệm, và nếu qua bài viết, người con ông, Nguyễn Tường
Thiết, không phụ họa theo để lên án ông Diệm một cách vô căn cứ.
Nguyễn Tường Tam không muốn bị tòa án Ngô Đình Diệm xét xử. Nhưng
qua những điều ông đã viết về Ngô Đình Diệm trong “chúc thư 71
chữ” của ông, tòa án Lịch Sử, luôn luôn công minh, thực sự đã xét
xử ông rồi, chưa kể tại Phòng Dự Thẩm Tòa Án Quân sự Đặc Biệt,
nơi ông bị buộc khai hết sự việc (Lê Nguyên Phu, sđd, tr. 191).
Phải chăng Lịch Sử, cho đến hôm nay, mặc dù chưa đạt mức thời
gian chín muồi cần thiết, để người ta có thể đưa ra một lời phán
xét tuyệt đối công minh, nhưng cũng tạm đủ cho phép thấy Nguyễn
Tường Tam không phải là một nhà chính trị –chưa nói một lãnh tụ–
bình thường và lỗi lạc? Phải chăng ông đã không dám hiên ngang
chấp nhận mọi trách nhiệm và hậu quả do hành động của mình? Phải
chăng trước khi tự tử vì một lý do thầm kín quan trọng (mà Lê
Nguyên Phu và vài tác giả khác đã tiết lộ nhưng bị phản bác bởi
gia đình ông Tam), ông vẫn nuôi hận thù, kết án vị nguyên thủ đã
tỏ lòng kính nể và ưu ái đối với cá nhân ông, điều mà gia đình
Nguyễn Tường phủ nhận, dĩ nhiên, nhưng không ai có thể cấm Sự
Thật là Sự Thật?
Cái quan luận định. Nắp quan tài đã đóng
trên Ngô Đình Diệm và chế độ của ông. Nhưng nỗi oan khiên ngút
trời đã theo ông quá lâu, trên nửa thế kỷ rồi. Những điều dối trá
bịa ra, lải nhải để kết án ông một cách hồ đồ, vô nghĩa như lời
của những “người điên trong thành phố”, cần phải chấm dứt, nếu
không ai muốn bị xét xử sau này bởi tòa án Lương Tâm và Lịch Sử.
Bài viết của tôi sẽ không có nếu Việt Cộng trong nước và
Việt Gian ngoài nước để yên những người đã chết, Thích Quảng Đức,
Nguyễn Tường Tam, Ngô Đình Diệm, không vực xác họ dậy bởi mưu đồ
cá nhân đen tối. Hoặc nếu, ít ra, trong khi tưởng niệm, vinh danh
Thích Quảng Đức và Nguyễn Tường Tam, hay ai mặc kệ, họ để yên Ngô
Đình Diệm trong giấc ngủ cô đơn, tức tưởi, và nếu họ biết nghe
lời Phật, hay Chúa, dạy, không lớn họng thóa mạ ông, không lấy
lưỡi lê băm nát thân xác ông một lần nữa, như đám phản tướng đã
cho bộ hạ làm sáng ngày 2/11/1963 trên chiếc xe bọc sắt. Những
người ái mộ Ngô Đình Diệm hằng năm vẫn tổ chức lễ cầu hồn cho
ông, nhưng họ không bao giờ có sự xúi giục, tiếp tay đồng lõa của
Việt Cộng và không bao giờ có một ai phát biểu lời nhục mạ Thích
Quảng Đức hay Nhất Linh hay Phật giáo nói chung.
Sau hết,
khi viết bài này, tôi vẫn nghe văng vẳng bên tai lời của Edmund
Burke, chính trị gia người Anh thế kỷ XVIII: “Điều duy nhất cần
thiết cho chiến thắng của Sự Ác là sự bất động của những người
công chính” (The only thing necessary for the triumph of Evil is
for good men to do nothing).
Trước luận điệu xằng bậy của
lũ Ma vương, quốc nội cũng như hải ngoại, tôi tớ của Sự Ác, mọi
thái độ bất động hay im lặng cũng đều tai hại, nếu không nói hèn
nhát, ngang nhau. Cho nên, cuối cùng, trước âm mưu thâm độc của
Việt Cộng lợi dụng cái chết của Thích Quảng Đức và Nguyễn Tường
Tam để chia rẽ những người Việt quốc gia tại các cộng động hải
ngoại, làm người ta quên vô số tội ác tày đình của chúng, để che
giấu dã tâm bán nước cho quan thầy Tàu Cộng, những người quốc gia
chính tâm, ái quốc, bất luận tôn giáo, giai cấp, tuổi tác, đang
can đảm đứng lên nhập cuộc, cất cao tiếng nói bảo vệ Chân Lý và
Lẽ Phải. Và tất cả tin tưởng rằng, cuối cùng, Chân Lý và Lẽ Phải
sẽ thắng.
Portland, 20/7/2013
người lính già oregon

Tác giả ghi chú:
[1] Khi
dùng chữ Việt Gian, tôi muốn nói đến bọn ăn có hải ngoại lợi
dụng dịp lễ tưởng niệm để thóa mạ Ngô Đình Diệm và chế độ
VNCH một cách bừa bãi, vô căn cứ, với giọng điệu hàm hồ
không thua lũ VC trong nước – đã bị tác giả “Thư gửi đồng
môn tiến sĩ, cư sĩ HTL [Huỳnh Tấn Lê]”, phổ biến trên mạng
ngày 6/29/2013, phản bác kịch liệt bằng những luận cứ vững
chắc và hữu lý. Tôi không ám chỉ những đồng hương Phật tử
thuần thành hay những bậc chân tu, một mặt kể lại sự thật
của ông về việc “tự” thiêu của Thích Quảng Đức, mặt khác
khuyên bảo tín đồ không được nuôi dưỡng hận thù đối với “chế
độ Ngô Đình hay Thiên Chúa Giáo”, mà chỉ nên đoàn kết, dồn
hết quan tâm và nỗ lực cho vận mệnh của đất nước trước sự
xâm lăng của Trung cộng (cf bài thuyết giảng trên Youtube,
của Hòa thượng Thích Tâm Châu, do diễn đàn Vườn Lam phổ
biến, ngày 11/7/2013).
[2] Để viết bài này, tôi đã đọc một
số tài liệu liên quan do bạn bè chuyển đến, trên internet,
các diễn đàn, của những tác giả mà đa số tôi không hề quen
biết. Ví dụ bài của Lữ Giang, ngày 20/6/2013, trong đó tác
giả phân tích sự toa rập giữa Việt cộng và Nhóm Giao Điểm
trong việc tổ chức “một cuộc hội thảo mang tên là ‘50 năm
phong trào Phật Giáo ở miền Nam (1963–2013)’ tại Khu Du lịch
Phương Nam ở Bình Dương. [...] Nhưng để thực hiện công tác
‘phục vụ cho việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước ta’ như Bộ Công An đã giới thiệu, nhóm Giao Điểm
có góp phần bằng cách cho phổ biến ‘Tuyển Tập Chế Độ Ngô
Đình Diệm 50 Năm Nhìn Lại 1963–2013’ gồm đa số là những ‘đồ
cổ giả’ được đem ra nhai lại”.
– Hoặc bức thư của cựu
Thiếu tá Chỉ huy trưởng Cảnh Sát Thừa Thiên, Liên Thành,
cũng là một Phật tử, cháu ruột của Hòa thượng Thích Tịnh
Khiết, ngày 13/7/2013, từ Orange County, gửi Hòa thượng
Thích Tâm Châu, phản bác lời ông tuyên bố, mà Liên Thành cho
là sai trái, về “nguyên nhân của vụ tranh đấu Phật Giáo vào
năm 1963 và vụ ông Lâm văn Tức/Thích Quảng Đức tự thiêu.”
Đồng thời ông chứng minh, bằng những hình ảnh lấy từ báo chí
ngoại quốc, rằng Thích Quảng Đức “bị thiêu”, chứ không phải
“tự thiêu”. Điều này, Minh Võ, trong Ngô Đình Diệm và chính
nghĩa dân tộc, Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân, 2009, trang
103, chú thích 72, cũng có nhắc, dựa trên sách, Vietnam, A
History của Stanley Karnow, một người chống Diệm. Ngoài ra,
ngày 16/7/2013, Liên Thành còn gửi thư cho Hòa thượng Thích
Tâm Châu, thách đố tranh luận với ông về những điều trên.
– Bài “Nhật ký của một người biết quá nhiều”, ngày
5/5/2013 của Phạm Hải, trong đó tác giả phổ biến lý lịch của
Huỳnh Tấn Lê và tiết lộ rằng Nhất Linh tự tử vì sợ phải đối
chất với đàn em về vai trò của ông trong vụ đảo chánh hụt,
đồng thời Nhất Linh đã “lãnh lương” của Trần Kim Tuyến, Giám
đốc Phòng Nghiên Cứu Chính Trị, để thủ vai trò “đối lập
cuội” che mắt thế gian. Chưa thấy ông Nguyễn Tường Thiết
viết bài trả lời Phạm Hải về điều sau.
– Bài “Tổng
thống Ngô Đình Diệm là một tín hữu Công giáo” ngày 31/5/2013
của Liên Nguyễn, Sydney. Tác giả đã phản bác từng điểm một
những cáo buộc vô lý của phe chống Diệm.
– Bài “Xung
quanh cái chết của Nhất Linh” của Khúc Hà Linh, hay bài của
một tác giả nặc danh kể chuyện Đại úy phi công Huỳnh Minh
Đường được lệnh ném bom chiến hạm chở tù nhân chính trị ra
Côn Đảo... Hai bài này, dĩ nhiên, theo phe chống Ngô Đình
Diệm.
– Bài mới nhất của Nguyễn Văn Lục, “Gánh nặng
lịch sử của Nguyễn Tường Tam – nhà văn và nhà chính trị – ai
là người có thể gánh vác nổi”, trên Đàn Chim Việt online,
18/7/2013, trong đó tác giả vừa tường thuật buổi hội thảo về
TLVĐ tại tòa soạn báo Người Việt vừa nhận định phê bình các
diễn giả vừa trả lời bài trả lời của Nguyễn Tường Thiết về
Nhất Linh.
– Bài “Nhất Linh khôn mà không ngoan” của
TS Hồng Lĩnh, 2/7/2013, trên DĐ Chính Nghĩa, trong đó tác
giả nêu lý do tại sao Nhất Linh không cần phải tự tử.
[3]
Nguyễn Tường Thiết, “Sự thật về cái chết của Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam (đăng trên tờ Người Việt online)”. Nguyễn
Văn Lục, “Chúc thư văn học của Nhất Linh: Một cái chết định
sẵn”, 17/3/2008, trích từ tác phẩm Một thời để nhớ (mà tôi
chưa được đọc).
[4]
– Nguyễn Huy & Hà Giang,
“Tự Lực Văn Đoàn: 80 năm ảnh hưởng không ngừng”: tường thuật
và khen ngợi buổi hội thảo thành công.
–
Chương trình hội thảo về TLVĐ trong hai ngày, 6 và 7 Tháng
Bảy năm 2013, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt.
[5]
– Minh Võ, Ngô Đình Diệm, chính nghĩa dân tộc, Nguyệt
San Diễn Đàn Giáo Dân, 2009.
– Minh Võ,
Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, và cuộc chiến Quốc–Cộng, Nguyệt
San Diễn Đàn Giáo Dân, 2011. Những sách của Minh Võ có giá
trị nghiên cứu và nhận định rất cao qua vô số tài liệu với
những dẫn chứng khó chối cãi.
– Suzanne Labin,
Vietnam, An Eye–Witness Account, Crestwood Books, VA, 1964.
Bằng những chứng liệu rõ ràng, thuyết phục, Labin đã phản
bác những điều mà người ta ngụy tạo về “tội ác”, “độc tài”,
và “chính sách kỳ thị Phật giáo”, giữa những điều khác, của
Ngô Đình Diệm.
– Mai Thạch Lê Nguyên Phu, Trong bóng
tối lịch sử, Montréal, 2008. Sách được viết bởi một cựu thẩm
phán Tòa Án Đặc Biệt xét xử Nguyễn Tường Tam và những can
phạm khác trong vụ đảo chánh hụt 1960 với nhiều chi tiết
nhậy cảm, chưa ai biết, về một số người và việc đã xảy ra.
Ông không thiên vị, lúc nào cũng có thái độ ung dung tự tại
của một người biết nhiều, tự tin.
– Livido, phim tài
liệu, Tổng thống Ngô Đình Diệm, 2011.
– Trọng Đạt,
Những tác phẩm cuối cùng của Nhất Linh, Đại Nam, 2003.
– Năm mươi năm nhìn lại, 1963–2013, tuyển tập 106 bài
viết của 86 tác giả về chế độ Ngô Đình Diệm, phổ biến trên
Mạng, trong số gồm đa số những kẻ cực kỳ chống Diệm như Đỗ
Mậu, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Mạnh Quang, Trần Chung Ngọc, Chính
Đạo, Cao Huy Thuần, v.v.
– Nguyễn Văn Minh, Dòng họ
Ngô Đình, Giấc mơ chưa đạt, Hoàng Nguyên, CA, 2003. Cuốn
sách hữu ích, giúp độc giả biết rõ hơn ông Diệm và gia đình
họ Ngô.
– Phạm Quang Trình, “Trường hợp Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam”, trích trong “Những nhân vật dân sự...” cf
Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng (trên 40 trang) chưa phổ
biến.
[6]
Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc, sách đã dẫn, trang 89,
chú thích 62.
[7] Trong
bóng tối lịch sử, sđd. trang 188.
[8] Trong bóng tối lịch sử, sđd,
trang 188: “Ông [Nguyễn Tường Tam] thỉnh cầu Đại tá Lê Văn
Khoa đừng đem ông đối chất với đám thuộc hạ. Sự thỉnh cầu
này được ghi rõ ở đoạn cuối biên bản thẩm vấn. Đại tá Lê Văn
Khoa chấp nhận lời thỉnh cầu, nên trong hồ sơ không có biên
bản đối chất, mặc dầu các thuộc hạ của ông khai ngược lại là
đã hành động theo lệnh của ông. Các thuộc hạ của Nguyễn
Tường Tam đều bị Đại tá Lê Văn Khoa tống giam, chỉ một mình
Nguyễn Tường Tam được tại ngoại hầu tra. Do đó, các thuộc hạ
của ông đều tỏ ra bất bình và bất mãn đối với ông, nhất là
Trương Bảo Sơn vừa cay đắng vừa oán hận, cho rằng chính ông
đã đổ hết tội lỗi lên đầu của họ. Từ trong khám Chí Hòa,
Trương Bảo Sơn viết thư ra cho bà vợ mới chấp nối là bà
Nguyễn Thị Vinh chỉ trích Nguyễn Tường Tam đủ điều, nào là
phản bội anh em, nào là thiếu tư cách lãnh tụ, v.v. Lá thư
được giám đốc khám đường Chí Hòa đệ trình Tòa Đặc Biệt và
được lưu giữ lại trong hồ sơ [...]”; trang 191: “Vụ tự tử
của Nguyễn Tường Tam về sau có nhiều người khai thác, dựa
vào đó để làm nấc thang danh vọng, kể cả những người từng
oán hận ông như Trương Bảo Sơn. Sau vụ đảo chánh 1/11/1963,
họ được trả tự do, vội vàng tổ chức lễ truy điệu Nguyễn
Tường Tam rất trọng thể tại vườn Tao Đàn, để rồi sau đó mỗi
người được chính quyền quân phiệt tưởng thưởng một số tiền
lớn có thể mua nhà cửa, phố xá, mở tiệm buôn, tiệm thuốc
tây, v.v. Có người còn được gia nhập chính quyền, học ăn học
nói ở thượng, hạ nghị viện. Tôi muốn hỏi những đàn em của
Nguyễn Tường Tam lúc họ đọc diễn từ truy điệu Nguyễn Tường
Tam họ có bao giờ nghĩ rằng Nguyễn Tường Tam chết cũng vì
những lời bài xích xa gần của họ.” [NLGO tô màu nhấn mạnh)
[9]
Nhật Tiến, “Sinh hoạt văn hóa của Nhất Linh: Giai đoạn cuối
đời với Hội Bút Việt và Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay”, Garden
Grove, California ngày 20 tháng 5 năm 2013. Bài viết này,
theo lời tác giả, dự trù sẽ đọc trong buổi hội thảo, nhưng
sau đó Nhật Tiến từ khước lời mời tham dự.
[10]
Minh Võ, Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc, sđd, trang
89, chú thích 62.
[11]
Gần đây nhất, Bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của nhà tranh đấu Tạ
Phong Tần, tự thiêu tại Bạc Liêu ngày 30/7/2012. Hơn hai
tháng sau, 4/10, cô Tạ Phong Tần bị kết án mười năm tù. Cư
sĩ Võ Thanh Liêm, đạo Hòa Hảo, tự đâm vào bụng ngày
25/6/2013 tại huyện Chợ Mới, An Giang. Tù nhân Cù Huy Hà Vũ
tuyệt thực trong tù, v.v.
[12]
Liên Thành, bài đã dẫn. Trong đó ông nhấn mạnh không có một
bằng cớ nào cho thấy Ngô Đình Diệm cấm treo cờ, mà chỉ bắt
cờ các tôn giáo phải nhỏ hơn cờ Quốc gia.
[13]
Trong bản thảo hồi ký dang dở, Bà Ngô Đình Nhu có nhắc vụ
Vịnh Con Heo và trận Ấp Bắc cùng với mưu đồ của Kennedy,
nhưng không có một lời nào về việc Ngô Đình Diệm muốn bắt
tay với Hồ Chí Minh. Tôi nghĩ, đó chỉ là một sự bịa đặt của
Mỹ để tạo cớ cho bọn phản tướng lật đổ ông. Trong Hồ Chí
Minh, Ngô Đình Diệm và Cuộc Chiến Quốc–Cộng, sđd, tr. 53,
Minh Võ cũng trích lời của Tiến sĩ Sử học Phạm Văn Lưu ở Úc
rằng ông Lưu đã tìm thấy một tài liệu của Hội đồng An Ninh
Quốc Gia Mỹ chỉ thị cho CIA từ tháng 8, 1963, “ngụy tạo
những tài liệu liên kết Nhu với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
làm cho Nhu mất tín nhiệm với các tướng lãnh” (tài liệu tìm
thấy trong Thư viện John F Kennedy). Gần đây, ông Cao Xuân
Vỹ, một nhân vật thân tín của chế độ, trong một cuộc phỏng
vấn, không hiểu sao, cũng hùa theo bịa ra chuyện ông Nhu
tiếp xúc với Phạm Hùng nhân cuộc giả đi săn, có ông (Vỹ)
theo cùng, tại rừng Tánh Linh. NLGO đã phân tích và phản bác
một số chi tiết rất phi lý, khó tin, trong bài của ông Vỹ.
[14] Chính tai tôi nghe Thủ tướng Trần Văn Hương
đã nói câu này trên đài phát thanh, và báo chí thời đó đã
tường thuật lại. Muốn lục lại những số báo VNCH cũ, có thể
lên Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ. Ít người còn nhớ câu nói của
Thủ tướng Trần Văn Hương, mà chỉ đặt nặng câu “nướng thầy
tu” (barbecue de bonze) của Bà Ngô Đình Nhu, mặc dù bà không
giữ chức vụ gì chính thức, và đã thanh minh bà chỉ lặp lại
câu của một ký giả Mỹ.
[15] Cf Liên Nguyễn, bđd (ở chú
thích 2):
– 1. Cựu Hoàng Bảo Đại viết trong cuốn Con
Rồng Việt Nam (Le Dragon d’Annam) như sau: “Ông Diệm và Nhu
là người công giáo, các nhà sư bị cộng sản giật giây và mật
vụ Mỹ tiếp tay, liền bắt đầu hành động. Chính quyền phải đối
phó lại, vô hình trung đem đến cảm giác kỳ thị tôn giáo. Ai
đã xúi giục họ gây loạn, ai? Họ ở đâu tới? Làm sao biết được
họ từ Hà Nội vào hay từ Bắc Kinh tới?”
– 2. Phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc xác nhận không hề
có đàn áp Tôn giáo, Phật giáo gì cả, ông Abdul Rahman
Pazhwak là trưởng phái đoàn.
– 3. Tổng Thống Mỹ Nixon
nói: “Cái gọi là đàn áp Phật giáo chỉ là điều bịa đặt [...]
Chính quyền Kennedy đã làm cho người ta oán giận TT Diệm qua
việc sách động và yểm trợ cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ
của Ông ta”.
– 4. Tổng Thống LB Johnson mô tả về các
tướng lãnh Việt Nam đã nhúng tay vào việc hạ sát Tổng thống
Diệm “Chúng chỉ là một đám du côn, được chúng ta thuê để
giết mướn”.
– 5. Khi được tin ông Diệm bị lật đổ, Hồ
Chí Minh nói với ký giả cộng sản danh tiếng, Wilfrid
Burchett: “Tôi không thể ngờ tụi Mỹ ngu đến thế. Lúc nãy
người ta báo cho Bác biết là Ông Diệm vừa bị lật đổ, Ông
Diệm là kẻ địch thủ ghê gớm nhứt của Bác. Nay Ông đã bị loại
rồi, thì chiến thắng chắc chắn sẽ về ta rồi”.
[16] Trọng
Đạt, sđd (chú thích 5), tr. 41, 44, 49, 54–59.
[17] Riêng
trường hợp Flaubert, hiện tượng này được gọi là “bovarysme”,
tức là sự không thỏa mãn điều gì dẫn đến những cơn mơ hão
huyền –được xem như bù đắp cho một hiện tại phũ phàng. Ví dụ
khác trong văn chương không ít. Phải chăng Nguyễn Du cũng tự
hóa thân là một Từ Hải vẫy vùng dọc ngang? Phải chăng trong
đoạn kết For whom the bell tolls, 1943, khi nhân vật chính
Robert cho phép mình bị giết chết trong cuộc phi ngựa đào
thoát trước họng súng của quân đội Franco, Ernest Hemingway
cũng đã cho phép mình tự bắn một viên đạn vào miệng, 18 năm
sau (1961)? Với Hemingway, cuộc đời ông nằm hết trong truyện
và vì thế những nhân vật của ông không khác ông bao nhiêu:
tính đàn ông (masculinity) và tính phải chết (mortality). Ấy
là chưa nói, tài liệu bây giờ cho thấy, Hemingway tự tử vì
tâm bệnh paranoia (cuồng ám) khi biết mình bị CIA theo dõi
và chán nản (depressed) thấy mình mất dần khả năng sáng tác.
Voltaire, thế kỷ XVIII Pháp, đã bắt chước nhân vật Candide
trong tiểu truyện của mình, từ bỏ mọi tham vọng viễn vông,
về nhà vui thú điền viên: “Il faut cultiver notre jardin”.
Mỗi người tự tử có một duyên cớ riêng: Một Nguyễn Tường Tam
phải khác với một Nguyễn Khoa Nam, hay một sĩ quan cải tạo
tự vẫn trong tù, hay xa hơn cả với Camus trong định nghĩa
khó khăn về chữ suicide, tự tử, trong Le Mythe de Sisyphe,
trước sự phi lý (l’absurde) của cuộc đời. Vân vân...
[18] Chắc chắn nội dung những bài
phát biểu phải được thông qua trước bởi những người tổ chức,
hoặc tất cả đã nhận chỉ thị về “lề” nào (phải, trái) mà buổi
hội thảo phải đi theo. Cho nên người ta không hề nghe nói
đến những vụ Việt cộng thủ tiêu Phạm Quỳnh, Khái Hưng hoặc
bắt bớ, giam cầm những nhà văn trong vụ Nhân Văn Giai
Phẩm... dù ít dù nhiều liên quan đến những giai đoạn quan
trọng của văn học sử Việt Nam, trong đó TLVĐ là một. Xin lên
youtube nghe bài thuyết trình của Trần Khánh Triệu trong
buổi hội thảo http://youtu.be/Xc37aRfIMRA. Hoặc đọc bài
tường thuật của Nguyễn Văn Lục, đã dẫn, trên Đàn Chim Việt
online (chú thích 2), trong đó tác giả, ngoài ra, cũng trích
dẫn câu nói của Phê Bình Gia Nguyễn Hưng Quốc khi bơm TLVĐ:
“Tất cả chúng ta những người cầm bút, dù thích hay không
thích TLVĐ, thì cũng đã được nuôi dưỡng bằng dòng sữa của
TLVĐ. [...] Tất cả những ai cầm bút thời nay đều phải mang
nợ.” Một câu tuyên bố lộng ngôn, mà tôi mong có dịp trở lại.
[19]
Cf Trần Lâm, “Kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm”,
trên Diễn đàn Nam Giao.
[20] Minh
Võ, trong Ngô Đình Diệm và chính nghĩa dân tộc, sđd, tr.
129, đã trích dẫn lời của William Colby, giám đốc CIA, nếu
vì “nhu cầu toàn quyền” Ngô Đình Diệm đi đến “xu hướng độc
tài”, Ngô Đình Diệm là một “nhà độc tài nhân từ” (A
benevolent dictator, cf Honorable Men – My Life in The CIA,
nxb Simon and Schuster, NY, 1978, tr. 145). Phải chăng kiểu
độc tài này, Voltaire, thế kỷ XVIII Pháp, cũng đã muốn thấy
ở một “despote éclairé” (ông vua độc tài sáng suốt) trong
quyển Siècle de Louis XIV, biết làm cho dân giàu nước mạnh?
[21]
Cf Lê Nguyên Phu, chú thích 8 (của NLGO).
[22]
Nguyễn Văn Lục, “Sự lũng đoạn của cộng sản đối với một số
báo chí miền Nam từ 1954–1975”, trên diễn đàn
namkyluctinh.org/a–lichsu/nvluc–baochimiennam[54–75].htm:
“Bên cạnh đó, có một số tạp chí ra đời như Sáng Tạo của Mai
Thảo, tháng 10/1956, tạp chí Bách Khoa với Huỳnh Văn Lang,
15/2/1957. Tiếp theo là Hiện Đại của Nguyên Sa 1960. Tạp chí
Quê Hương với giáo sư Nguyễn Cao Hách, Văn Hóa Á Châu với
Nguyễn Đăng Thục, Luận Đàm với Nghiêm Toản, Xã Hội Mới với
Vương Quan, Thế kỷ 20 với Nguyễn Khắc Hoạch, Những vấn đề
của chúng ta với Thái Lăng Nghiêm”. Tác giả không nói đến
Văn Hóa Ngày Nay.
[23] Cf Nhật Tiến, bài đã dẫn (chú thích 9
của NLGO): “Nói thế không phải tôi phủ nhận quan điểm làm
báo của VHNN. Thế giới chữ nghĩa là cả một rừng hoa với
nhiều màu sắc. Văn Hóa Ngày Nay đương nhiên là một tạp chí
tô điểm thêm cho sinh hoạt báo chí thời đó vốn đã vô cùng
sôi nổi với nhiều tờ báo danh tiếng khác như Đời Mới, Vấn
Đề, Sáng Tạo, Bách Khoa, Văn Hóa Á Châu, Quê Hương, v.v. Tuy
nhiên, sau vài số đã phát hành, có vẻ như Văn Hóa Ngày Nay
đã hiện diện như một bông hoa tuy nhiều hương sắc nhưng lại
có vẻ như lạc lõng giữa dòng đời đang trôi đi hối hả. Đọc
những trang chính Nhất Linh trả lời thư độc giả ở những số
đầu, ta thấy hầu như Ông chưa nhận ra được sự lạc lõng này.
Ông vẫn bộc lộ sự chủ quan qua những lời lẽ như nhận mình là
con voi nằm thù lù trong sở thú, hay trách độc giả sao bắt
ông làm việc quá nhiều trong khi ông cũng chỉ có 24 giờ như
mọi người... [...] Một nội dung như thế, có thể gây đôi chút
cảm giác ngỡ ngàng cho người đọc sau những ngày chờ đợi. Gọi
là ngỡ ngàng vì Giai phẩm VHNN hầu như không đáp ứng được
nhu cầu đọc sách của độc giả lúc đương thời. Hàng triệu con
người vừa di cư vào Nam, trước cuộc sống mới vô vàn khó
khăn, bỡ ngỡ, với biết bao nhiêu nhu cầu đặt ra trước mắt và
biết bao nhiêu vấn đề phải đối phó, tất nhiên nội tâm của họ
phải sôi động, tâm tình phải gắn bó với cuộc sống đang dồn
dập thay đổi xảy ra từng ngày, từng giờ ở chung quanh. Sống
trong một hiện trạng xã hội như thế, hẳn độc giả rất muốn
được nghe tiếng lòng của Ông, hoặc nghe ông kể về những kinh
nghiệm dầy dạn trong sinh hoạt cả về Văn Chương lẫn Chính
trị khi họ tuyên xưng Ông vừa là một Văn gia, lại cũng vừa
là một Chính trị gia lão thành.
Vậy mà trong những
trang sáng tác mới, những nhân vật vượt không gian và thời
gian của Ông như Cô Mùi, như Ông Năm Bụng, như Bà mẹ Lê,
v.v. tuy vẫn là những hình tượng vĩnh cửu, nhưng lại thiếu
ngọn lửa hừng hực của cuộc sống đương thời và đó không phải
là những nhu cầu mà người đọc đã nôn nóng chờ đợi như khi
vừa nghe tin ‘nhà văn Nhất Linh xuống núi, ra báo trở lại’”.
Cảm nhận này không chỉ ở phía đa số độc
giả mà ở ngay cả những người trong nhà, lại là những người
cũng đã trở thành nhà văn sau này. Tôi muốn nói đến hai nhà
văn Thế Uyên và Duy Lam, những người có họ hàng ruột thịt
với Nhất Linh và cũng đã tiếp cận với ông khi VHNN đang được
chuẩn bị ra số đầu. [...] Trong tập “Chân Dung Nhất Linh” do
tạp chí Văn ấn hành, Thế Uyên đã viết trong bài “Người Bác”
như sau: “Cả hai đứa đều không chịu nổi những bài khảo luận
linh tinh, những bức thư Nhất Linh viết trả lời độc giả. Đọc
loạt bài này đôi khi thấy cũ kỹ và lẩm cẩm. Về văn, tuy vẫn
phục nghệ thuật phân tích tâm lý, nghệ thuật trình bày nhân
vật, nhưng tôi đã cảm thấy Nhất Linh không còn là nhà văn
của thế hệ trẻ. Trường giang tiểu thuyết Xóm Cầu Mới có
những nhân vật đặt trong một không gian thật xa cách.” Điều
này hầu như cũng là nguyên do khiến cho chỉ sau vài số, số
lượng báo VHNN bán ra đã sút giảm dần. [...] Dù tờ báo có bị
chính quyền cấm cản bằng những thủ đoạn nào thì cũng không
thể bỏ qua yếu tố độc giả, là những người cũng đã ít nhiều
trực tiếp tham dự vào sự sống còn của một tờ báo. Sau vài số
báo, có chăng sự kiện độc giả không còn hứng thú theo dõi
VHNN như trước nữa nên báo ế và nhà phát hành có thể đã kìm
hãm những cọc báo không gửi đi các tỉnh cho đỡ tiền cước
phí? Dẫu sao thì sự sút giảm độc giả hẳn cũng làm nản lòng
người chủ trương VHNN. Cũng trong bài “Người Bác” nói trên,
nhà văn Thế Uyên còn cho biết: “Sau khi Văn Hóa Ngày Nay số
8 phát hành, Nhất Linh tuyên bố với người thân: ‘Thôi, không
làm nữa!’. Bạn bè xúm lại can. Nể người thân, ông chịu để
Tường Hùng và Duy Lam tiếp tục. Ra tiếp hai số, ông cương
quyết kết liễu Văn Hóa Ngày Nay. ‘Nó đã làm xong nhiệm vụ!’.
Nếu sự thể đã xảy ra đúng như vậy thì số báo cuối cùng do
Tường Hùng và Duy Lam thực hiện chỉ còn 98 trang kể cả 8
trang quảng cáo, so với số đầu dầy tới 180 trang, tức là về
hình thức đã sa sút gần một nửa.
Trong ngót 100 trang
của số 11, tức số cuối cùng này, truyện dài Cô Mùi của Nhất
Linh chiếm tới 25 trang, tức hơn ¼ số báo, một điều khá kỵ
trong kỹ thuật làm báo. Cũng như vậy, truyện ngắn Ả Hầu của
Đỗ Tốn cũng bị chia cắt thành 3 kỳ (khởi đăng từ số 9), cũng
làm độc giả bớt hứng thú theo dõi. Cũng trong số này, nhà
thơ Bùi Khánh Đản chiếm tới 7 trang Thơ, cũng là một sự
thiên vị bất thường. Và theo thông lệ, ngòi bút Duy Lam vẫn
giữ vai trò chủ lực. Ông có tới 5 bài, 2 bài bình luận: một
về Văn, một về Hội Họa, 3 bài còn lại là văn vui. Tường Hùng
chỉ có một bài duy nhất ‘Kiểu mẫu Thanh Niên’, cũng là văn
vui. [...] Một số báo như thế báo hiệu sự sa sút rõ rệt về
mặt nội dung, càng là lý do để ta có thể đánh giá mức độ đón
nhận của độc giả đối với tờ VHNN ra sao.”
[24] Tôi
không dám mạo hiểm đi sâu vào lãnh vực tâm thần liên quan
đến Nguyễn Tường Tam, vì không có tài liệu và khả năng
chuyên môn. Tôi chỉ nhận xét qua những biểu hiện do Nguyễn
Tường Thiết kể lại trong đoạn văn, phù hợp với định nghĩa y
khoa của chữ paranoia (bệnh cuồng ám, cf Thanh Nghị) gồm có
một trong những triệu chứng mà tôi cho quan trọng nhất đối
với trường hợp Nhất Linh, nhưng không kết luận ông bị bệnh
ấy: “A chronic psychotic entity characterized by fixed but
ever–expanding systematized delusions of persecution (= ảo
tưởng bị bắt bớ) (Taber’s Cyclopedic Medical Dictionary)
[...]” Tuy nhiên tôi không thắc mắc, nghi ngờ gì về giả
thuyết tâm bệnh “trầm cảm” của Nguyễn Tường Tam do Nguyễn
Văn Lục đưa ra, nhưng bị Nguyễn Tường Thiết phản bác. Bởi vì
tâm trạng của người tự tử lúc ấy khác thường, nghĩa là không
giống bất cứ ai, và tâm trạng ấy đã được cấu thành bởi nhiều
nguyên do trước đó. Điều này chắc tác giả Nguyễn Văn Lục sẽ
có câu trả lời xác đáng cho ông Nguyễn Tường Thiết.



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: luỹ tre làng. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by ddcb chuyển
Đăng ngày Thứ Năm, November 9, 2017
Cập nhật ngày Chúa Nhật, October
26/2025 – đổi sang hệ thống bootstrap framework 5.3.8
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH