

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tạp ghi
Chủ đề: lịch sử giáng sinh
Tác giả: Học viện Đa Minh

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
I. Nguồn gốc lịch sử và ý nghĩa của mùa Giáng Sinh
1.
Mùa Giáng Sinh
a. Thời gian
Mùa Giáng Sinh bắt
đầu từ Kinh Chiều I lễ Giáng Sinh đến hết lễ Hiển Linh hoặc
Chúa Nhật sau ngày 06 tháng Giêng. Trong truyền thống phụng
vụ của Giáo hội, sau lễ Phục Sinh, Giáo hội không cử hành
mầu nhiệm nào khác ngoài mầu nhiệm Nhập thể và việc tỏ mình
ra của Con Thiên Chúa từ Bê–lem đến sông Gio–đan. [1]
b. Ý nghĩa
Trong mùa Giáng Sinh, có hai đại lễ
không thể tách rời nhau là lễ Giáng Sinh và lễ Hiển Linh.
Mặc dù Giáo hội Rô–ma mừng hai lễ này trong hai ngày khác
nhau: 25/12 và 06/01 hằng năm, nhưng cũng chỉ diễn tả một
mầu nhiệm, mầu nhiệm Con Thiên Chúa Giáng Sinh làm người để
tỏ cho nhân loại biết tình yêu của Thiên Chúa, và để dẫn đưa
họ đến nguồn ơn cứu độ muôn đời nơi Hài Nhi Giê–su. [2]
Cũng trong mùa Giáng Sinh, chúng ta nhìn ngắm Chúa
Giê–su trong máng cỏ tại Bê–lem, cũng như những ngày ẩn dật
của Người tại Na–gia–rét, để học với Người nếp sống khó
nghèo và ẩn dật trong Chúa.
2. Lễ Vọng Giáng Sinh
a. Nguồn gốc
Chính xác lễ Vọng Giáng Sinh xuất
hiện vào năm nào hay thế kỷ nào thì ta không được biết rõ
lắm (có lẽ được công bố lần đầu vào năm 354). Nhưng chắc
chắn là có sau lễ Đêm Giáng Sinh, Rạng đông, và Ban ngày.
Theo các nhà chuyên môn, vào thế kỷ VII, đức Grê–gô–ri–ô Cả
ra chỉ thị cử hành 3 thánh lễ: lễ Đêm, lễ Rạng đông, và lễ
Ban ngày trong ngày Giáng Sinh. Về sau các tín hữu thấy giá
trị của giờ canh thức trước ngày lễ trọng, nên lễ Vọng được
thêm vào.
b. Ý nghĩa
Khi xưa, giữa những lầm
than cơ cực, thông điệp bình an và hoan lạc được ngôn sứ
Isaia loan báo cho toàn thể dân Israel, thì nay, trong đêm
mừng kỷ niệm sinh nhật của Đức Giê–su Ky–tô, Vị Cứu Tinh của
chúng ta, thông điệp ấy được Giáo hội công bố cho toàn thể
dân Chúa: “Hôm nay, Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho chúng ta;
Người là Đức Ky–tô, là Đức Chúa.” (Lc 2,11). Tuy nhiên, để
có được niềm vui ơn cứu độ ấy cách thực sự lại còn tùy thuộc
vào lối sống của chúng ta nữa. Nếu chúng ta không hoán cải
đời sống mà sống công chính và đạo đức, thì niềm vui ấy
chúng ta không thể nào có được.
3. Lễ Giáng Sinh
a. Nguồn gốc
Về mặt lịch sử, lịch sử lễ Giáng
Sinh xuất hiện khá muộn thời so với lễ Phục Sinh. Trong ba
thế kỷ đầu, lễ Giáng Sinh chưa xuất hiện trong phụng vụ của
Giáo hội. Đến hậu bán thế kỷ IV, lễ Giáng Sinh mới xuất
hiện.
Thực ra, ban đầu Giáo hội mừng lễ Giáng Sinh
không nhằm đến việc kỷ niệm biến cố Con Thiên Chúa giáng
trần cho bằng Ky–tô hóa ngày lễ ngoại giáo (lễ mừng thần mặt
trời). Nói đúng hơn, khi mừng lễ Giáng Sinh, Giáo hội Rô–ma
vừa tưởng niệm biến cố lịch sử của việc Ngôi Hai Thiên Chúa
Giáng Sinh làm người, vừa Ky–tô hóa các lễ theo tập tục cổ
thời ngoài Ky–tô giáo kính thần mặt trời lúc bấy giờ vào
ngày đông chí, được cử hành tại Rô–ma ngày 25 tháng 12 và
tại Ai Cập ngày 06 tháng 01. Được cử hành ở hai nơi khác
nhau, với hai tên gọi khác nhau, nhưng chỉ có một lễ duy
nhất cả về ý nghĩa và hình thức. Người Rô–ma gọi là lễ sinh
nhật của Chúa Ky–tô, Mặt Trời Công Chính [25/12]; còn bên
Đông Phương gọi là lễ Chúa tỏ mình cho muôn dân [06/01]. [3]
b. Ý nghĩa
Về ý nghĩa thần học, đối với Giáo hội
Rô–ma lễ Giáng Sinh có một ý nghĩa thần học sâu xa trong bối
cảnh thế kỷ IV, như khởi đầu cho Phục Sinh.
Thật vậy,
năm 325, Công đồng Ni–xê–a định tín về thần tính của Đức
Giê–su Ky–tô, và sau đó đã có nhiều chống đối từ các nhóm
lạc thuyết (phái A–ri–ô); vì thế, Giáo hội cần làm sáng tỏ
chân lý đức tin về Ngôi Hai Thiên Chúa không chỉ bằng những
khẳng định về tín lý, nhưng còn bằng chính đời sống phụng vụ
của Giáo hội nữa. Trong hoàn cảnh này, việc Ky–tô hóa một lễ
ngoại giáo sẽ làm sáng tỏ nét tinh túy cao đẹp có sẵn trong
một tập tục văn hóa cổ thời; đồng thời, cũng là dịp để chống
lại các lạc thuyết của bè rối, và để giáo dục đức tin cho
tín hữu.
Tắt một lời, khi mừng lễ Giáng Sinh hay lễ
Hiển Linh, cả bên Tây lẫn bên Đông đều nhấn mạnh đến Ngôi vị
Thiên Chúa của Đức Giê–su, Đấng đã đến trần gian trong thân
xác để tỏ cho nhân loại biết về Thiên Chúa, và để dẫn đưa
nhân loại đến sự sống vĩnh cửu. Đó là ý nghĩa căn bản của
mầu nhiệm lễ Giáng Sinh. [4]
4. Tuần Bát nhật Giáng
Sinh
a. Nguồn gốc
Giống lễ Phục Sinh, lễ Giáng
Sinh cũng có tuần Bát nhật nhưng không được mừng kính với
cùng mức độ như tuần Bát nhật Phục Sinh, bởi vì các ngày
trong tuần Bát nhật Phục Sinh được mừng như một lễ trọng [ưu
tiên bậc I]; trong khi đó, các ngày trong tuần Bát nhật
Giáng Sinh được cử hành không đồng đều: có ngày là lễ trọng,
có ngày là lễ kính, có ngày chỉ là ngày trong tuần. [5] Theo
lịch sử phụng vụ của Giáo hội, vào thế kỷ thứ VII, Phụng vụ
Giáo hội mới mừng tuần Bát nhật Phục Sinh. Như vậy, tuần Bát
nhật Giáng Sinh xuất hiện sau thế kỷ VII.
b. Ý nghĩa
Tuần Bát nhật Giáng Sinh được gọi như hiện nay chỉ có
sau này. Tuần Bát nhật Giáng Sinh tức là tuần Bát nhật mừng
đặc ân Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria. Khi cử hành tuần Bát
nhật mừng Mẹ Thiên Chúa, Giáo hội không nhấn mạnh đến đặc ân
của Mẹ như là đích tới của tuần Bát nhật, cho bằng mừng kính
chân lý về Chúa Giê–su trong mầu nhiệm Nhập Thể của Người.
Về sau để bổ túc ý nghĩa thần học về nhân tính của Chúa
Giê–su, người ta đã gán cho ngày thứ tám sau lễ Giáng Sinh
là ngày Chúa chịu cắt bì.
5. Lễ Hiển Linh
a.
Nguồn gốc
Thời giáo hội sơ khai, chỉ có ngày lễ Phục
Sinh là được cử hành hằng năm cách đặc biệt, và mỗi ngày
Chúa Nhật được xem như một ngày “tiểu Phục Sinh”. Vào thế kỷ
III và IV, tại Đông phương và Tây phương, xuất hiện các ngày
lễ trọng mừng Đấng Cứu Thế đến giữa loài người. Trong khi ở
Tây phương, lễ Giáng Sinh được cố định vào ngày 25 tháng
Chạp, nhằm tiết Đông chí, để thay thế các cuộc lễ ngoại giáo
mừng sự trở lại của Mặt trời và Ánh sáng, thì lễ Thiên Chúa
Nhập Thể được cử hành vào ngày 6 tháng Giêng tại Đông
phương. Tại Ai Cập và Ả Rập, ngày này trùng hợp với một ngày
lễ rất cổ xưa của người ngoại giáo tôn vinh thần Mặt Trời,
tương tự với ngày Đông chí ở Rô–ma.
Như thế, lễ Hiển
Linh có nguồn gốc là một ngày lễ cổ xưa của người Ky–tô giáo
tương tự với ngày lễ Giáng Sinh, như các nghi lễ được cử
hành tại Giê–ru–sa–lem vào cuối thế kỷ thứ IV và đầu thế kỷ
thứ V đã chứng minh: vào buổi chiều ngày 5 tháng Giêng, vị
giám mục cùng với hàng giáo sĩ và giáo dân đến
Giê–ru–sa–lem. Sau buổi cầu nguyện, người ta đi thành đoàn
rước đến hang đá Giáng Sinh để công bố đoạn Tin mừng về sự
hạ sinh của Đức Ky–tô. Sau đó là cuộc canh thức dài kết thúc
bằng một thánh lễ vào những giờ đầu tiên trong ngày với bài
đọc Tin mừng về các đạo sĩ đến thờ lạy Chúa. Rồi người ta
vừa hát bài Benedictus vừa quay trở lại Giê–ru–sa–lem để cử
hành một thánh lễ trọng thể nữa tại Vương Cung Thánh Đường
Mộ Thánh.
Ngày lễ của ba phép lạ
Từ Đông
phương, lễ Hiển Linh lan sang Châu Âu vào khoảng thế kỷ IV
và được nói đến lần đầu tiên tại xứ Gaule vào năm 361; ngược
lại, Đông phương cũng đã chấp nhận ngày lễ Giáng Sinh vào
ngày 25 tháng Chạp. Đến cuối thế kỷ này, hầu hết các Giáo
hội đều cử hành hai ngày lễ trọng bổ túc cho nhau này.
Ý nghĩa của hai ngày lễ này đã có sự biến chuyển sau đó,
cả ở Tây phương lẫn Đông phương.
– Ban đầu, ở Tây
phương, người ta có thói quen cử hành chung các biến cố hạ
sinh của Đức Ky–tô vào ngày Giáng Sinh, biến cố các đạo sĩ
đến thờ lạy Chúa và cuộc tàn sát các thánh Anh Hài. Nhưng
khi Rô–ma bắt đầu mừng lễ Hiển Linh thì hai biến cố cuối
cùng này được tách rời ra khỏi ngày lễ 25 tháng Chạp để dành
tôn kính các đạo sĩ là chủ đề chính cho ngày lễ trọng mới
vào ngày 6 tháng Giêng. Như thế, lễ Hiển Linh trong phụng vụ
Rô–ma mang thông điệp chính là sự mạc khải của Đức Ky–tô cho
mọi dân tộc được biểu tượng qua các đạo sĩ.
– Còn đối
với Giáo hội Đông phương, lễ Hiển Linh đã trở thành đại lễ
mừng thiên tính của Đức Ky–tô; mầu nhiệm Nhập Thể và sự thờ
lạy của các đạo sĩ vì thế được cử hành vào ngày lễ Giáng
Sinh. Thế rồi sau đó lễ Hiển Linh ngày càng được hiểu như là
lễ Đức Ky–tô Chịu phép rửa (chịu ảnh hưởng của Ai Cập vì
phụng vụ này đã sáp nhập biến cố này vào lễ ngày 6 tháng
Giêng để nhấn mạnh đến thiên tính thật sự của Đức Ky–tô ngay
từ khi sinh ra). Do đó mà ở Đông phương có tục lệ làm phép
nước rửa tội, nước giếng rửa tội, các nguồn nước, và sông
suối vào dịp lễ Hiển Linh. Vào ngày này, nhiều đám đông kéo
nhau đến bờ sông Gio–đan để dìm mình ba lần trong trong dòng
sông theo như nghi thức rửa tội của Đông phương.
Phép
lạ tại Cana là dấu hiệu đầu tiên chứng tỏ quyền năng Thiên
Chúa của Đức Ky–tô sau mạc khải tại sông Gio–đan. Trong
phụng vụ Đông phương, lễ Hiển Linh đã trở thành ngày lễ của
ba phép lạ mà dấu vết vẫn còn tìm thấy được trong bài điệp
ca Magnificat của giờ kinh chiều:
“Chúng con mừng
kính ngày thánh này được điểm tô bằng ba phép lạ:
–
hôm nay ngôi sao đã dẫn dường cho các đạo sĩ đến hang đá;
– hôm nay nước đã biến thành rượu tại tiệc cưới;
– hôm nay tại sông Gio–đan, Đức Ky–tô đã muốn chịu phép rửa
bởi Gioan để cứu chuộc chúng ta”.
Thật vậy phụng vụ
Rô–ma cử hành lễ Chúa Giê–su chịu phép rửa vào tuần bát nhật
và phép lạ Cana vào ngày Chúa Nhật thứ hai sau đó.
b.
Ý nghĩa
Lễ vật các đạo sĩ dâng cho Chúa Ky–tô đã mạc
khải cách biểu trưng về ý nghĩa của ngày lễ Hiển Linh: “Được
Ngôi sao đưa đường đến tận nhà Gia–cóp, đến với Đấng
Emmanuel, qua lễ vật dâng tiến, họ muốn bày tỏ Đấng mà họ
thờ lạy là ai:
– với mộc dược thì đó là Đấng phải
chết và chịu mai táng vì nhân loại phải chết;
– với
vàng thì đó là Vua mà triều đại của Người không bao giờ chấm
dứt;
– với nhũ hương thì đó là Thiên Chúa được nhìn
nhận ở xứ Giu–đê đồng thời cũng là Đấng tỏ mình cho những ai
không tìm thấy Người”.
Tiến dâng vàng, các đạo sĩ
nhìn nhận vương quyền của Đức Ky–tô, hậu duệ cuối cùng của
dòng dõi Đa–vít, như ngôn sứ Isaia đã tiên báo:
“Từ
gốc tổ Gie–sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc
lên một mầm non. Thần khí Đức Chúa sẽ ngự trên vị này:thần
khí khôn ngoan và minh mẫn,thần khí mưu lược và dũng mãnh,
thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa.” (Is 11,1–2).
Họ đến quỳ gối trước vị vua mà quyền năng bao trùm vạn
vật; không phải bằng quân đội và vinh quang cá nhân mà bằng
tình yêu vô bờ qua việc phục vụ và tự hiến chính mình.
Nếu vương quốc của Đức Ky–tô đạt đến độ toàn hảo như vậy
chính bởi vì nó không thuộc về thế gian này, như Chúa Giê–su
đã tuyên bố với Phi–la–tô trong cuộc thẩm vấn. Quyền lực mà
Đức Giê–su Ky–tô có được là do Chúa Cha ban cho và đó là ý
nghĩa của lễ dâng trầm hương vì sản vật này dành riêng cho
Thiên Chúa trong các nghi lễ tại đền thờ. Như vậy các đạo sĩ
đã nhìn nhận thiên tính của Đức Ky–tô ngay từ khi hạ sinh,
trước khi Người bày tỏ cho con người bằng các phép lạ.
Hoàn toàn là Thiên Chúa, Đức Giê–su cũng hoàn toàn là
con người. Chính vì thế mà các đạo sĩ đã tiến dâng lễ phẩm
thứ ba là mộc dược, thứ hương liệu dùng để băng bó vết
thương và tẩm liệm xác chết. Khi nhập thể, quả thật Con
Thiên Chúa đã hoàn toàn thông phần vào kiếp con người, chia
sẻ vận mệnh của mỗi người từ khi sinh ra cho đến lúc chết
đi, ngoại trừ tội lỗi, mà không cần sử dụng đến quyền năng
Thiên Chúa.
Mùa lễ Hiển Linh không chỉ có truyện kể
về ba vị đạo sĩ từ phương xa tìm đến, hoặc truyện Đức Chúa
chịu phép rửa từ thánh Gioan. Bất cứ khi nào ta làm việc gì
thực tế hoặc hữu dụng cho những ai đang cần đến, thì đó là
lễ Hiển Linh với người thời đại.
6. Lễ Thánh gia thất
a. Nguồn gốc
Xét về việc thành hình lễ Thánh gia
thất, chúng ta thấy đây cũng là một biến chuyển khác thường.
Phải nói là lễ Thánh gia thất mới có đây và xuất hiện gần
với chúng ta, tức là vào năm 1921. Vào năm 1893, người ta
thấy có việc cử hành lần đầu tiên một lễ kính Thánh gia
thất, do lời xin với Toà Thánh từ các giáo phận hoặc các
Dòng tu có lòng tôn sùng Thánh gia thất. Và lễ này được xác
định cử hành vào Chúa Nhật III sau lễ Hiển Linh. Chúng ta
nhớ là vào thời trước việc cải tổ niên lịch phụng vụ do Công
đồng Va–ti–ca–nô II, thì sau lễ Hiển Linh còn có mấy tuần,
rồi mới tới mùa Chay.
Lễ này đi kèm với lòng sùng mộ
Thánh gia thất vào thế kỷ XIX, bắt đầu trước tiên từ bên
Canada, như đã nói trên đây. Dần dần, lòng sùng mộ Thánh gia
lan rộng ra khắp hoàn cầu. Phong trào này được Đức Giáo
hoàng Lê–ô XIII khuyến khích. Vào thời kỳ này, người ta nhận
thấy các gia đình bị tục hóa, và như vậy gia sản thiêng
liêng, các giá trị của gia đình bị tiêu tán. Có nguy cơ gia
đình bị băng hoại hoàn toàn. Chính vì thế, tín hữu tìm tới
gia đình gương mẫu tại Na–gia–rét để giúp các gia đình Công
giáo sống đạo và sống ơn bí tích Hôn phối.
Lễ Thánh
gia thất trước đây chỉ cho phép một số nơi cử hành, sau đó
mới lan ra trong toàn thể Giáo hội, tuy nhiên cũng chưa có
được chỗ đứng vững chắc trong Năm phụng vụ. Vì vào năm 1911,
trong Sách Lễ Rô–ma, do Đức Giáo hoàng Pi–ô X cho tu sửa và
công bố, cũng không có lễ Thánh gia thất. Sau đó vào năm
1920, lễ Thánh gia thất mới lại được đưa vào trong Sách lễ
Rô–ma, và chỉ định ngày Chúa Nhật thứ I sau lễ Hiển Linh.
Ngày 26 tháng 10 năm 1921, Thánh Bộ Nghi lễ đã ra một sắc
lệnh truyền cử hành một số lễ trong toàn thể Giáo hội, trong
số lễ này, có lễ Thánh gia thất, được cử hành vào Chúa Nhật
Bát nhật sau lễ Hiển Linh (S. Congregatio Rituum, die
26/10/1921, AAS, 13 (1921, tr. 543–544).
Năm 1969,
khi cải tổ Lịch phụng vụ cho toàn thể Giáo hội, thì lễ này
được chuyển sang Chúa Nhật trong Tuần Bát nhật Lễ trọng
Giáng Sinh, hoặc nếu không có ngày Chúa Nhật, thì cử hành
vào ngày 30 tháng 12, như chúng ta thấy ngày nay.
b.
Ý nghĩa
Nói về nội dung thần học của lễ Thánh gia
thất, chúng ta có thể nhắc lại tư tưởng Thánh Bộ Nghi lễ,
khi ban hành việc mở rộng lễ Thánh gia thất cho toàn thể
Giáo hội, vào năm 1921. Sắc lệnh nói như sau:
“việc
mừng lễ Thánh gia thất với một lễ phụng vụ là một điều rất
thích hợp và giúp cho việc phát triển lòng sùng mộ đối với
Thánh gia. Ngoài ra, nhờ việc cử hành này, các tín hữu suy
niệm và bắt chước các nhân đức của các thành phần thánh
thiện trong gia đình Na–gia–rét.”
Như vậy, việc mừng
lễ Thánh gia thất có chủ đích thần học là để ca tụng tôn
vinh Ba Đấng thánh trong nhà Na–gia–rét. Trong khi mừng lễ
này, Giáo hội cũng muốn nêu gương Thánh gia cho các gia đình
Công giáo chiêm ngưỡng bắt chước.
Nếu nhìn vào sự
kiện lễ Thánh gia thất được cử hành vào Chúa Nhật giữa lễ
Chúa Giê–su Giáng Sinh và lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, điều
này cũng cho thấy nhiều ý nghĩa. Trước tiên, lễ Thánh gia
thất mặc khải và minh chứng mầu nhiệm nhập thể cách cụ thể.
Việc Người sống trong một gia đình, cũng là một biểu hiệu,
Người muốn đem nhân loại vào trong sự hiệp thông trọn vẹn
của gia đình Chúa Ba Ngôi. Rồi trong dịp lễ Giáng Sinh và
đầu năm, khi người ta thường trở về gia đình, lớn hay nhỏ,
để mừng lễ Giáng Sinh và Tết dương lịch, thì gương mẫu của
gia đình Chúa Giê–su, Đức Mẹ, và thánh Giu–se, trở nên mẫu
gương sống động cho mọi phần tử trong gia đình, từ cha mẹ
đến con cái, trong cuộc sống đức tin và hiếu thảo. Các bài
Sách thánh và các kinh nguyện gợi ý rõ ràng về điểm sau cùng
này.
Như vậy việc cử hành lễ Thánh gia thất, mang
nhiều ý nghĩa: trong phạm vi thần học, lễ này làm nổi bật
mầu nhiệm nhập thể; trong khía cạnh phụng vụ, lễ này hướng
về Giáo hội như là gia đình tế tự và cầu nguyện tôn vinh
Thiên Chúa; và sau cùng theo ý nghĩa tu đức, nhờ gương gia
đình thánh tại Na–gia–rét, các gia đình Công giáo biết sống
trưởng thành trong đức tin, đức cậy, đức ái, giữa các phần
tử trong gia đình và trong mọi cảnh huống, khi hạnh phúc may
lành cũng như khi hoạn nạn khổ đau.
II. Cử hành phụng
vụ mùa Giáng Sinh
1. Sắp xếp các lễ ngày Giáng Sinh
Lễ Giáng Sinh là lễ có nhiều bản văn cử hành nhất trong
niên lịch phụng vụ, có 04 bài lễ khác nhau tùy theo thời
gian cử hành: lễ Vọng, lễ Đêm, lễ Rạng đông, lễ Ban ngày.
Thực ra, ban đầu Giáo hội chỉ cử hành một lễ Giáng Sinh vào
ngày 25 tháng 12 để Ky–tô hóa lễ ngoại giáo kính thần mặt
trời.
Tuy nhiên, khi lễ Giáng Sinh đã thành phổ biến
trong Giáo hội, người ta bắt chước ngày lễ Phục Sinh để cử
hành các thánh lễ vào những thời khắc khác nhau trong ngày
lễ Giáng Sinh. Thánh giáo hoàng Grê–gô–ri–ô Cả (+604) ra chỉ
thị phải cử hành 03 thánh lễ trong ngày lễ Chúa Giáng Sinh:
vào lúc Đêm, lúc Rạng đông, và Ban ngày, “Vì sự cao cả của
Chúa chúng ta mà hôm nay Giáo hội cử hành thánh lễ ba lần.”
Về sau, người ta thấy giá trị của giờ canh thức trước các lễ
trọng, nên thêm thánh lễ Vọng trước khi cử hành thánh lễ Ban
đêm.
Tóm lại, ban đầu (thế kỷ IV) chỉ có một thánh lễ
vào ngày 25/12, sau đó, dưới thời Đức Giáo hoàng Grê–gô–ri–ô
Cả (thế kỷ VII) có thêm ba thánh lễ vào lúc đêm, rạng đông,
và ban ngày, sau cùng thêm lễ vọng, một hình thức vay mượn
từ cử hành canh thức trước đêm Phục Sinh. [6]
2. Chủ
đề các bản văn [7]
Chủ đề các bản văn phụng vụ của
ngày lễ Giáng Sinh đều xoay quanh lời tựa Tin mừng Gioan:
“Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta, và chúng tôi đã
nhìn thấy vinh quang của Người.” (Ga 1,14). Các lời nguyện
và bài đọc hoặc chuẩn bị hoặc triển khai hoặc phản ánh chủ
đề căn bản trên.
Theo lịch sử hình thành các bản văn,
các lời nguyện mùa Giáng Sinh diễn tả rõ ràng và dứt khoát
giáo lý về thần tính của Đức Giê–su theo giáo huấn của các
Công đồng Ni–xê–a, Ê–phê–sô, và Calcédonia. Xét về thời
gian, thì bản văn cổ xưa nhất là lời nguyện Nhập lễ của
thánh lễ Ban ngày. Đây là lời nguyện và cũng là bài giáo lý
về thần tính của Đức Giê–su: “Thiên Chúa làm người chính là
để con người được tham dự vào đời sống thần linh của Thiên
Chúa.”
3. Các cử hành mùa Giáng Sinh [8]
Ngày
lễ Giáng Sinh được ấn định cử hành ngày 25 tháng 12. Ngoài
ra, phụng vụ ngày nay còn kéo dài lễ Giáng Sinh trong tám
ngày theo cấu trúc tuần Bát nhật Phục Sinh.
Thực ra,
tuần Bát nhật Giáng Sinh là kết quả của một tập tục vốn được
thực hành trước đó; tức là tuần Bát nhật mừng đặc ân Mẹ
Thiên Chúa của Đức Maria tính từ lễ Giáng Sinh. Định tín Đức
Maria, Thiên Chúa Thánh Mẫu, là chân lý đức tin khởi đi từ
việc tuyên xưng Đức Giê–su là Ky–tô, là Thiên Chúa thật, và
là người thật. Đức Maria là Thánh Mẫu Thiên Chúa vì đã sinh
ra Đấng là Thiên Chúa đến trong thân xác (xc. Định tín của
Công đồng Ê–phê–sô 431).
Ý nghĩa của tuần Bát nhật
mừng Mẹ Thiên Chúa là mừng kính chân lý về Chúa Giê–su trong
mầu nhiệm Nhập thể của Người. Đây cũng là ý nghĩa của tuần
Bát nhật Giáng Sinh ngày nay. Về sau, người ta còn bổ túc
cho ý nghĩa thần học về nhân tính của Đức Giê–su bằng cách
gán cho ngày thứ tám sau lễ Giáng Sinh là ngày Chúa chịu cắt
bì theo truyền thống Do Thái (xc. Lc 2,21).
Lễ Thánh
gia thất thường được cử hành vào Chúa Nhật trong tuần Bát
nhật Giáng Sinh.
Lễ Hiển Linh thường được cử hành vào
ngày 06 tháng 01, để kính nhớ việc Chúa tỏ mình cho muôn
dân; tức là ơn cứu độ được loan báo cho cả dân ngoại (ngoài
Do Thái giáo) với việc nhận biết và thờ lạy Đấng Cứu Độ của
các đạo sĩ.
Lễ Chúa Giê–su chịu phép rửa kết thúc Mùa
Giáng Sinh, thường được cử hành vào Chúa Nhật sau lễ Hiển
Linh 06/01 hoặc vào ngày thứ hai sau lễ Hiển Linh, tức ngày
07 hoặc 08 tháng 01.
Kết luận
Mùa Vọng và mùa Giáng Sinh khai mở một năm phụng vụ mới,
như dẫn từng người vào trong mầu nhiệm của Đức Ky–tô. Cần
nói rõ rằng, vào những thế kỷ đầu, các Ky–tô hữu chỉ tập
trung vào mầu nhiệm Thương khó và Phục Sinh của Đức Ky–tô mà
thôi. Theo dòng thời gian, từ tâm điểm, Giáo hội được soi
sáng, khai mở, và khám phá ra các mầu nhiệm chung quanh cuộc
đời của Đức Ky–tô. Thế nhưng, cũng không phải một sớm một
chiều mà Giáo hội có thể nhận ra điều này. Đó là cả một hành
trình dài sống, suy tư, và cảm nghiệm của Giáo hội. Sở dĩ
nói như thế bởi lẽ, lễ Giáng Sinh ngay từ đầu không có nhưng
nhờ suy tư, tìm hiểu, Giáo hội mới lấy lại ý nghĩa ngày lễ
của ngoại giáo và mặc cho nó một ý nghĩa khác phù hợp với
Ky–tô giáo. Nếu như mầu nhiệm Nhập thể như là khởi đầu cuộc
đời của Đấng Cứu Thế, thì Giáo hội cũng mời gọi mỗi Ky–tô
hữu cùng tiến bước trong hành trình Cứu độ của Người.
Tuy nhiên,
trước biến cố trọng đại như thế, Giáo hội nhận thấy cần phải
có bước chuẩn bị cho người Ky–tô hữu để đón nhận mầu nhiệm
này. Vì thế, mùa Vọng đã được thành hình. Nếu sắp xếp theo
thứ tự thời gian phụng vụ, mùa Vọng đi trước mùa Giáng Sinh;
nhưng nếu sắp xếp theo lịch sử hay nguồn gốc của các mùa,
mùa Vọng sẽ đi sau mùa Giáng Sinh. Vì thế, chẳng lạ gì có
một số tài liệu nghiên cứu đã sắp xếp mùa Giáng Sinh rồi mới
tới mùa Vọng. Cũng như mùa Giáng Sinh, Giáo hội cũng lấy lại
những tập tục quen thuộc của các Ky–tô hữu thời đó để hình
thành nên mùa Vọng. Tuy nhiên, mùa Vọng không đơn thuần chỉ
là chuẩn bị tâm hồn cho người Ky–tô hữu đón mừng biến cố
Nhập thể của Ngôi Hai, nhưng mùa Vọng còn mang một ý nghĩa
khác là chờ mong ngày Chúa đến lần thứ hai. Với sự tiến
triển của thần học, mùa Vọng đã mang hai ý nghĩa thì cũng sẽ
cần phải có hai giai đoạn tương ứng với các ý nghĩa đó.
Như thế, mùa Vọng và mùa Giáng Sinh không chỉ là hai mùa
khai mở một năm phụng vụ mới, nhưng đó còn là việc dẫn dắt
người tín hữu bắt đầu hành trình cuộc đời của Đức Ky–tô qua
các biến cố. Khởi đầu bằng mùa Vọng nhưng đó cũng là kết
thúc của vòng thời gian. Nghĩa là trong mùa Vọng cũng hướng
đến ngày chung cuộc của vòng thời gian. Như vậy, năm phụng
vụ tạo nên một vòng tròn xuyên suốt không phải chỉ để dành
diễn lại lịch sử cuộc đời Đấng Cứu Thế, nhưng còn mang ý
nghĩa của vòng thời gian hướng đến sự kết thúc của thời
gian.
Lớp Thần IV, Học viện Đa Minh,
Niên học 2012 – 2013 biên soạn.
Catechesis
nguồn: giáo xứ tân việt

Tác giả ghi chú:
[1] Xc. Nguyễn Thế Thủ, Phụng vụ Tổng quát, (ĐCV Thánh Giu–se – Tp. Sài Gòn, 2001),
tr. 71; Peter E. Fink, SJ, The New Dictionary of Sacramental Worship: “Christmas Season”, (The Liturgical Press, Collegeville, 1990), tr. 205.
[2] Xc. Nguyễn Thế Thủ, Sđd., tr. 93; Peter E. Fink, SJ, Sđd., tr. 205.
[3] Xc. Nguyễn Thế Thủ, Sđd., tr. 94; Peter E. Fink, SJ, Sđd.,
tr. 205.
[4] Xc. Nguyễn Thế Thủ, Sđd., tr. 94–95.
[5] Xc. Nguyễn Thế Thủ, Sđd., tr. 71; Peter E. Fink, SJ, Sđd., tr. 206.
[6] Xc. Nguyễn Thế Thủ, Năm Phụng Vụ, (ĐCV Thánh Giu–se – Tp. Sài Gòn, 2001), tr. 98–102; Phụng vụ
Tổng quát, (2001), tr. 96.
[7] Xc. Nguyễn Thế Thủ, Phụng vụ Tổng quát, (ĐCV Thánh Giu–se – Tp. Sài Gòn, 2001), tr. 96–97.
[8] Ibid., tr. 97–98; Peter E. Fink, SJ, op.cit., tr. 205–208.


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch


|
|

hình nền: bầu trời đêm thánh với muôn muôn vạn tinh tú! Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tkd sưu tầm
Đăng ngày
thứ Tư, December 24, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH