
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Xã luận
Chủ đề:
tiếng việt
Tác giả: GS Nguyễn Tuấn

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
LTS: Ý kiến của GS Nguyễn Tuấn và nhóm Lạc
Việt đều hữu ích cho những ai còn quan tâm đến ngôn–ngữ–Việt.
Trong một bài trước, BS Hà Ngọc Thuần, Úc, có nhắc đến cuốn
Hỏi Ngã Chánh Tả Tự Vị do Tạp Chí Dân Văn hiệu đính và phát
hành. Đây là những chữ Việt “hỏi và ngã” nên cuốn Tự Vị này chỉ
có 56 trang, anh Lê Trực, bút hiệu Doanh Doanh, tốt nghiệp khoá
20 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, cùng khoá với anh Đỗ Cơ Danh là Đại
Đội Trưởng của tôi tại TĐ51LĐ6BĐQ/QLVNCH. Doanh Doanh người Huế
nên dấu “hỏi, ngã” không được chính xác 100%, do đó bổn báo chủ
nhiệm phải hiệu đính toàn bộ cuốn Hỏi Ngã Chánh Tả Tự Vị, Tạp
Chí Dân Văn vừa phổ biến, các trung tâm dạy Việt Ngữ tại Úc,
Canada, và Hoa Kỳ đã gởi email xin được sử dụng cuốn tự vị này
để dạy học trò. Tạp Chí Dân Văn trả lời, TCDV không giữ bản
quyền, bất cứ ai sử dụng cuốn tự vị đều được, không cần xin
phép.
Một thời gian sau, TCDV nhận được nhiều email khen
ngợi việc làm của TCDV. Việc viết tiếng Việt trên các Diễn Đàn
đã giảm thiểu lỗi “hỏi, ngã” thấy rõ, đây là một điều an ủi cho
Tạp Chí Dân Văn.
Chân thành cảm tạ quý độc giả đã hưởng
úng viêc làm của TCDV để việc viết tiếng mẹ đẻ được trong sáng
hơn.
Germany, ngày 22/6/2025.
– Điều Hợp Viên DĐ
Ngôn–Ngữ–Việt,
– Chủ Nhiệm TCDV.
LÝ TRUNG TÍN

Tôi
là người lớn lên với Tiếng Việt thời trước 1975, tức là
Tiếng Việt trong Tự Lực Văn Đoàn của những Khái Hưng, Nhất
Linh, Thạch Lam, v.v. Đó cũng là tiếng Việt của các tiền bối
như Hoàng Xuân Hãn, Phạm Quỳnh, và sau này là Mai Thảo và
nhóm tạp chí Bách Khoa lừng danh một thời. Đó cũng chính là
Tiếng Việt thời 1945 và sau này được gìn giữ ở trong Nam.
Thời đó, chúng tôi nói và viết Tiếng Việt theo thứ tự tự
nhiên. Chẳng hạn như chúng tôi được dạy là “hôi thúi” (hay
“hôi thối”) vì một vật thể khi bị chết đi, nó đi từ “hôi”
mới đến “thúi”. Chúng tôi nói “khai triển” (khai trương rồi
mới phát triển). Các thầy dạy cho biết đó là cách nói của
người Việt được coi là thuận với thiên nhiên.
Do đó,
ngày xưa, Tiếng Việt chúng ta được cấu trúc theo công thức
tự nhiên đó. Có thể tìm thấy những chữ thường ngày như: bảo
đảm, đơn giản, thành hình, khai triển, ít nhiều, v.v.
Thế nhưng sau 1975, những chữ đó đột nhiên bị đảo lộn
thành: đảm bảo, giản đơn, hình thành, triển khai, nhiều ít,
v.v. Những chữ này có cùng nghĩa như những chữ trên, nhưng
nó chỉ đảo ngược cách nói/viết.
Tại sao có sự
đảo ngược này?
Câu trả lời đơn giản là do
Tàu hoá. Thật vậy, rất nhiều chữ sau này được dùng theo cách
dùng của người Tàu. Chẳng hạn như người Tàu hay nói ngược
với chúng ta. Thay vì nói “bảo đảm”, họ nói “đảm bảo”. Chúng
ta nói “khai triển”, họ thì “triển khai”. Vân vân.
Thật ra, những chữ như “bảo đảm”, “khai triển”, “đơn giản”,
v.v. đều xuất phát từ chữ Hán. Nhưng các vị tiền bối chúng
ta nói ngược với họ, có lẽ một phần là theo lẽ tự nhiên, và
quan trọng hơn là không bị Tàu hoá.
Tiếng Việt ngày
nay rất ư là hỗn tạp và phức tạp. Hỗn tạp là thứ lai căng
(như “tuổi teen”), và phức tạp là làm cho tối nghĩa (ví dụ
như “một cá thể trâu”). Mới đây còn có “topping” nữa chứ!
Loại tiếng Việt này làm đau đầu những người thuộc thế hệ
tôi, và làm nhói tim những ai còn quan tâm đến sự trong sáng
của tiếng Việt.
Hôm qua, cô tiếp viên sau khi tính
toán tiền ăn xong rồi nói:
“Dạ, phần của mình là 56
ngàn ạ.”
Tôi muốn ghẹo cô ấy, nên giả bộ hỏi “‘mình’
là ai vậy con?”
Cô ta bẽn lẽn nói :
“Dạ, con
quen miệng ạ”.
Tôi lại chọc: người miền Nam không nói
“ạ”.
Rồi còn những cách dùng sai nghĩa nữa, mà tiêu
biểu là “liên hệ” và “liên lạc”. Chẳng hiểu từ đâu mà ngày
nay ở trong nước ai cũng dùng chữ “liên hệ” theo ý nghĩa
contact của tiếng Anh. “Anh cần thêm bất cứ điều gì, cứ liên
hệ qua số điện thoại...”. Đáng lý ra phải là “liên lạc”.
“Liên hệ” theo tôi hiểu là quan hệ huyết thống, máu mủ
ruột thịt trong gia đình, tiếng Anh là “relate”. Còn “Liên
lạc” có nghĩa là tiếp xúc giữa các cá nhân, tiếng Anh là
“contact”. Rõ ràng như vậy, mà chẳng hiểu sao đi đâu cũng
thấy “liên hệ”. Tôi nghi là cũng do Tàu hoá mà ra.
Lại nói đến chữ “khả năng” cũng bị đổi nghĩa. “Khả năng” có
nghĩa là năng lực để làm một việc gì (tiếng anh là
capacity). Vậy mà ngày nay người ta dùng chữ “khả năng” theo
cái nghĩa “có thể” (probable): “Chiều nay trời có khả năng
mưa”. Trời ơi! Sao không nói “Chiều nay trời có thể mưa”?
Lại một cách Tàu hoá?
Khó ưa nhứt là chữ “Việt Kiều”.
Tôi nghĩ giới báo chí không chịu tìm hiểu nghĩa nên dùng chữ
không đúng. “Kiều” có nghĩa là người ngoài đến sanh sống nơi
mình cư trú. Do đó, chúng ta mới có Hoa Kiều, Pháp Kiều. Tôi
là người Việt về thăm quê thì mắc mớ gì mà gọi tôi là “Việt
Kiều”?! Đáng lý ra nên gọi là “Kiều Bào”.
Chói tai
nhứt là nghe cách đánh vần ngày nay. Lúc nào cũng Bờ Cờ
Sờ... nghe thiệt khó vô. Đó là cách phát âm đánh vần thời
Bình dân Học vụ (thời 1930–1940) để giúp cho người mù chữ
làm quen với chữ cái trong tiếng Việt, chớ đâu phải cách
đánh vần chánh thức. Đâu có ai dùng nó để chỉ A Bê Xê (ABC)
đâu. Các nhà ngôn ngữ học cũng đã nói cách đánh vần Bờ Cờ Sờ
là sai. Vậy mà ngày nay trên đài truyền hình, đài phát thanh
oang oang Bờ Cờ Sờ!
Có lần tôi thấy sốc khi nghe một
đồng nghiệp Pháp nói với tôi rằng tiếng Pháp ở Paris ngày
nay là loại hỗn tạp, còn tiếng Pháp ở Québec (Canada) mới là
“chuẩn”. Chẳng biết nhận xét đó đúng hay sai, nhưng tôi có
cảm giác nó hợp với tiếng Việt ngày nay: tiếng Việt ở hải
ngoại có lẽ chuẩn hơn tiếng Việt ở trong nước?
GS Nguyễn Tuấn

Phụ lục
Lạc Việt góp thêm ý kiến
1. Tiếng Việt thời nay rõ
ràng là nỗi nhức nhối của nhiều người. Tuy vậy, nếu nhìn vào
lịch sử Đông Tây, Tiếng Việt cũng đã và đang thay đổi không là
ngoại lệ. Tiếng Ý sinh ngữ ngày nay đã khác xa với tiếng Latin
thời đế quốc Roma. Tiếng Pháp sinh ngữ đã khác với tiếng Quebec.
Ngay cả Tiếng Anh sinh ngữ cũng khác tiếng Mỹ. Tiếng Việt sinh
ngữ cũng đã khác xa tiếng Việt Hải Ngoại trước 1975. Lý do sinh
ngữ của một cộng đồng lớn thường có nhiều biến động hơn do sự sử
dụng, tiếp xúc, và trao đổi nhiều hơn. Cộng đồng nhỏ hơn ít được
sử dụng, ít bị tác động nên thường duy trì được những gì gọi là
truyền thống.
2. GS Nguyễn Tuấn cho rằng những chữ ghép,
dân Miền Nam nói thuận theo tự nhiên như khai triển thay vì
Triển Khai, nếu tiếp tục áp dụng luật này sẽ rất hay. Ngoài ra
LV thấy có một “luật” khác cũng rất đáng quan tâm. Luật này do
Anh Tùng Tùng Soong một người Mã Lai gốc Hoa là GS TS Văn Hóa &
Văn Minh Tàu nhận ra sự khác biệt giữa ngôn ngữ Tàu và Việt
trong các chữ ghép: Tàu, chữ cá thể đi trước, chủ thể đi sau như
Thanh Thiên, Bạch Nhật. Trái lại Tiếng Việt, Chủ Thể đi trước,
Cá Thể đi sau, như vậy tiếng Việt sẽ là Trời Xanh, Ngày Sáng. Có
lẽ luật này của tiếng Việt cũng thuận theo thiên nhiên: Người
Lớn đi trước Con Nít theo sau...
3. Cứ áp dụng luật ngôn
ngữ này ta có thể khẳng định nhiều điều thú vị: Trong sách sử
luôn luôn ghi rõ ràng Đế Nghiêu và Đế Thuấn là 2 vị Vua nhân từ
trị vì thành công nhất trong lịch sử. Tàu bảo hai vị vua này gốc
Hán, nhưng 2 Ông chính là gốc Bách Việt vì nếu gốc Hán sẽ gọi 2
ngài là Nghiêu Đế & Thuấn Đế tương tự như Hán Vũ Đế chứ đâu gọi
là Đế Nghiêu, Đế Thuấn được.
4. Tiếng Việt xưa nay vô
cùng phong phú. Khi các Tu sĩ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đến Việt
Nam truyền đạo thời “Trịnh Nguyễn Phân Tranh” họ đã cố ý lắng
nghe để tìm cách ghi lại giọng nói của người dân bằng phương
pháp Latin Hóa. Họ bảo rằng người Việt nói líu lo như chim hót.
Với sự trợ giúp của các Thầy giảng Việt giỏi chữ Nôm, họ đã giúp
các Giáo sĩ Latin Hóa các thanh âm (hoặc thang âm) bằng những
“action mark” đó là các ký hiệu sắc, huyền, hỏi, ngã, và nặng.
Người Hán chê bai: chữ nghĩa gì mà toàn là đội nón đi giầy...
5. Rất nhiều chữ ghép người Việt chúng ta dùng từ xưa đến
nay như Hiện Đại, Trực Chỉ, Đại Lộ, etc. gọi chúng là nhóm Hán
Việt nhưng theo LV thì đó là nhóm chữ của Mân Việt (Quảng Đông
Quảng Tây) thuộc Đại Tộc Bách Việt trong nước Văn Lang của các
Vua Hùng và nước Lĩnh Nam thời Trưng Nữ Vương. Đó cũng là lý do
tại sao Người Việt và người Quảng Đông khi giao tiếp vẫn hiểu
được nhau trên 60%. LV cũng nhận ra rằng người Quảng Đông không
nói được chữ R mà nói thành chữ L. Tỷ như LV vào tiệm ăn Quảng
Đông ở Canada gọi món Shrimp Rice Roll họ lặp lại là SLim Lai
Lô, và tương tự chữ Roma biến thành La Mã.
6. Như vậy,
chúng ta đừng theo Tàu mà gọi nhóm chữ Mân Việt là Hán Việt. Mân
Việt và Âu Lạc Việt là một cộng đồng ngôn ngữ trải dài nhiều
thiên niên kỷ. Sự đa dạng và ngôn ngữ phong phú của chúng ta là
một đặc ân Trời Ban. Nhưng tại sao cấu trúc ngôn ngữ của Mân
Việt lại có phần giống ngôn ngữ Hán là Cá Thể đi trước Chủ Thể.
Lý do được giải thích là do Mân Việt và nhiều tộc Việt khác từ
Bờ Nam Dương Tử đến biên giới Việt Trung hiện nay đã bị nhà Hán
đô hộ suốt 2000 năm qua cho tới hiện nay, nên văn hóa và ngôn
ngữ đã bị thuần hóa cho đồng nhất kiểu ngôn ngữ Tàu.
7.
Âu Lạc Việt vùng sông Hồng và vịnh Bắc Bộ sau 1000 năm Bắc Thuộc
đã sáng tạo ra chữ Nam (người Tam Quảng Miền Trung đọc Nam là
Nôm) để tiếp tục giữ được giọng nói Việt trong mục đích tối
thượng tránh bị Tàu đồng hóa (chữ viết kiểu Tàu nhưng đọc âm
Việt). Chữ Nôm giữ âm Việt đã rất thịnh hành dưới thời Ngô,
Đinh, Lê, Trần, hậu Lê, và nhà Nguyễn Tây Sơn. Đến thời Nguyễn
Gia Long do có nhiều người gốc Hoa trợ giúp để thắng nhà Nguyễn
Tây Sơn nên Gia Long lại ưu tiên dùng chữ Hán và đưa lịch sử
Việt do nhà Hán viết mà dậy cho dân chúng cho ngay cả đến tận
thời Đệ I và đệ II VNCH. Do đó ta mới có những bài sử thật phiến
diện và nhục mạ các Anh Hùng Anh Thư Việt Nam như cho rằng Hai
Bà Trưng là thù chồng hận giặc tham tàn mà vùng lên nổi loạn mà
quên rằng Bà Trưng và 162 Nữ Đại Tướng và Nữ Đô Đốc đã huy động
một cuộc kháng chiến chống Hán Vũ Đế (dựa vào nền Cộng Hòa Liên
Bang Bách Việt Thời các Vua Hùng) trên một lãnh thổ bao la từ Bờ
Nam sông Dương Tử qua Ngũ Lĩnh Quảng Đông Quảng Tây đến vùng
sông Hồng và vịnh Bắc Bộ xuôi Nam đến tận Đèo Hải Vân. Trưng Nữ
Vương đã xưng Nữ Hoàng Đế cho ngang tầm với Hán Vũ Đế. Hay như
một đoạn sử khác gọi Nữ Anh Thư Triệu Thị Trinh là Bà Triệu Ẩu
Vú Dài, thật là miệt thị Anh Thư Việt quá đáng.
8. Ngôn
ngữ VC hiện nay đang có hiện tượng suy thoái nghiêm trọng khác
đó là các chữ đa âm sẽ thành độc âm như “xi măng” bây giờ gọi là
“Xi”, Biến Mất bây giờ là Biến, Bác Sĩ bây giờ là Sĩ, hoặc hai
chữ đa âm còn lại một đa âm như “Giao Tiếp và Hợp Tác” gọi là
“Giao Hợp”. Có điều lạ là những kiểu ngôn ngữ này không chỉ xảy
ra với quần chúng xã hội mà các quan chức chính quyền VC cũng
phát ngôn y chang quần chúng. Chưa kể trong đời thường họ còn
dùng nhiều kiểu nói “Slang”
[tiếng lóng]
mà người Việt hải ngoại cũng hết hiểu luôn. Thời đệ nhị VNCH
ngôn ngữ xã hội cũng dùng nhiều Slang chứ không phải là không có
như “Xì Trum”, cái gì cũng Xì Trum, hay “Sức Mấy”, “Bỏ Đi
Tám”... ngày nay không còn nữa. Hy vọng cái gì không dựa vào quy
luật tự nhiên rồi sẽ từ từ biến mất. Người Việt Hải Ngoại đã có
công lớn giữ gìn Văn Hóa Dân Tộc ít nhất trong ngôn ngữ. Ngay
như ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, Hải Ngoại đã gìn giữ suốt 1/2 thế kỷ
nay. VC mới sáng mắt ra có ngày Giỗ Tổ vài năm nay, công lao do
LHQ công nhận di tích Đền Hùng là Văn Hóa Phi Vật Thể và LHQ tài
trợ vào việc trùng tu Đền Hùng.
Lạc Việt

thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch


|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by lý trung tín chuyển
Đăng ngày
Thứ Hai, June 23, 2025
tkd Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH