

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tạp ghi
Chủ đề:
tài liệu ctdd
Tác giả: Vũ Đình Hiếu

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
I. LỜI GIỚI THIỆU
Quân đội Bắc Việt
đã đánh chiếm tỉnh Phước Long đầu năm 1975, đó cũng là dấu
hiệu cho sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Đối với chính
quyền Hà Nội, biến cố (Phước Long) để biết được phản ứng của
người Hoa Kỳ. Nếu Hoa Kỳ không sử dụng Không Quân yểm trợ
cho quân đội VNCH như năm 1972 tái chiếm phần đất mất về tay
quân cộng sản... lợi thế đã về phía cộng sản và họ sẽ thay
đổi kế hoạch đánh chiếm miền Nam Việt Nam sớm hơn.
Tổng thống Thiệu kêu gọi Hoa Kỳ tôn trọng lời hứa của Tổng
thống Nixon (đã từ chức vì vụ Watergate) trả đũa nếu Bắc
Việt vi phạm hiệp định ngừng bắn Paris. Nhưng Quốc Hội Hoa
Kỳ đã ngăn cản Tổng thống Ford sử dụng Không Quân Hoa Kỳ
trong vùng Đông Dương. Điều này đã bật đèn xanh cho Bắc Việt
mở trận tổng tấn công.

Quốc Hội Hoa Kỳ cũng
không chấp thuận viện trợ ngân khoản khẩn cấp cho quân đội
VNCH, rất cần thiết vì lúc đó quân đội VNCH không có đủ đạn
dược cho đại bác và xăng dầu cho xe cộ, phi cơ chở quân....
Ngoài vấn đề thiếu thốn đạn dược, quân đội VNCH mất đi khả
năng di động (chuyển quân). Với địa hình dài, khu vực hướng
Tây (dãy Trường Sơn) phơi bày ra, phòng thủ yếu kém, miền
Nam Việt Nam có thể bị tấn công tại nhiều yếu điểm, việc
chuyển quân lên tiếp viện trở thành vấn đề khó khăn cho quân
đội VNCH.
Lấp vào khuyết điểm đó, cấp chỉ huy VNCH
tiên đoán... địch quân sẽ tấn công vào nơi nào, nhưng rơi
vào bẫy nghi binh (đánh lạc hướng) của quân đội Bắc Việt. Vị
Tư lệnh Quân Đoàn II (Tướng Phú) tin rằng, mũi tấn công
chính của địch sẽ nhắm vào Kontum, Pleiku, hai thành phố xa
nhất trên vùng cao nguyên và đưa quân (các Liên Đoàn Biệt
Động Quân) lên phòng thủ Kontum và Pleiku. Nhưng “quả đấm”
chính của quân đội Bắc Việt nhắm vào thị xã Ban Mê Thuột
hướng nam Pleiku ngày 10 tháng Ba năm 1975. Yếu thế về quân
số, hỏa lực, quân phòng thủ Ban Mê Thuột chống cự được ba
ngày trước khi lọt vào tay địch quân.
Ban Mê Thuột
thất thủ làm cho ông Thiệu ra lệnh bỏ Kontum, Pleiku, và
vùng cao nguyên (để giữ quân cho trận phản công lấy lại Ban
Mê Thuột). Các đơn vị VNCH di tản từ Kontum, Pleiku làm
thường dân sợ hãi chạy theo, đoàn xe dân sự hàng dài làm kẹt
cứng Liên tỉnh lộ 7B, con đường rút về thành phố ven biển
Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Sư Đoàn 320 chính quy Bắc Việt đuổi
kịp, tấn công vào đoàn xe không phân biệt dân quân, gây tổn
thất kinh hoàng cho cả quân lẫn thường dân trên con đường
rút lui Liên tỉnh lộ 7B, đoạn đường từ Pleiku về Tuy Hòa.
Sau cuộc di tản hỗn loạn trên vùng cao nguyên, tình hình
ngoài Vùng I Chiến Thuật không sáng sủa hơn. Tướng Trưởng
được lệnh rút quân về lập túi phòng ngự bảo vệ Đà Nẵng.
Thường dân hai tỉnh điạ đầu giới tuyến Quảng Trị, Thừa Thiên
(Huế) lo sợ một trận tấn công như trận Mùa Hè Đỏ Lửa năm
1972, lũ lượt kéo nhau chạy vào Đà Nẵng, gây tình trạng hỗn
loạn, binh sĩ bỏ đơn vị đi tìm gia đình, người thân. Đến
cuối tháng Ba 1975, Quân Đoàn I chỉ di tản được 2 Lữ Đoàn
TQLC, 2 Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh.
Quân Đoàn
I và II VNCH sụp đổ nhanh chóng, quân đội Bắc Việt dồn mọi
lực lượng tiến công về Sài Gòn. Nhiều đơn vị quân đội VNCH
chiến đấu quyết liệt, nhưng lúc đó cán cân lực lượng đã
nghiêng hẳn về phía Bắc Việt, gấp ba lần quân đội VNCH, vũ
khí, đạn dược đầy đủ hơn nhiều lần. Trong khi quân đội Bắc
Việt tiếp tục đẩy mạnh mũi tiến công về hướng Sài Gòn, người
Hoa Kỳ bắt đầu di tản (người Hoa Kỳ và Việt Nam làm việc cho
các cơ quan Hoa Kỳ). Người dân Việt Nam đặc biệt Sài Gòn cảm
thấy sự sụp đổ đến gần (người Hoa Kỳ di tản)...
Sau
cuộc chiến (30 tháng Tư 1975), hàng trăm ngàn quân, dân, cán
chính VNCH bị lùa vào các trại Tập Trung Cải Tạo, nhưng thực
chất là các nhà tù lao động khổ sai và nhiều người đã bỏ
mạng trước khi được tha về đoàn tụ với gia đình, vợ con.
Hai quốc gia láng giềng Lào và Cambodia cũng rơi vào
hoàn cảnh tương tự khi người Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ. Người
dân Cambodia kinh hoàng với sự trả thù tàn bạo, ghê gớm của
chế độ Khmer Đỏ Pol Pot, từ hai đến 3 triệu người Cambodia
bỏ mạng, gần như “tự diệt chủng” của Pol Pot.

II. BỐN CUỘC CHIẾN CỦA TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU (Dr.
Nghiã M. Võ)
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được coi như
nguời đàn ông thống trị nền Đệ Nhị Cộng Hòa miền Nam Việt
Nam. Trong thời gian nắm quyền hành, ông Thiệu trải qua bốn
trận chiến lớn, ba trận chống lại quân đội Bắc Việt, và trận
chiến thứ tư chống lại Henry Kissinger, người đồng ý lật đổ
và cho ông ta ra khỏi miền Nam Việt Nam.
1. CON ĐƯỜNG
ĐI TRỞ THÀNH TỔNG THỐNG
Tổng thống Thiệu sinh ngày 24
tháng Mười Hai năm 1924 (năm con Chuột) nơi làng Tri Thuỷ
gần Phan Rang, trung phần, Nam Việt Nam. Trước khi trận Thế
Chiến Thứ Hai chấm dứt, người Pháp vẫn nắm quyền cai trị
Việt Nam, đặc biệt miền Nam. Như bao nhiêu người không cộng
sản – yêu nước, ông Thiệu gia nhập cộng sản chống lại người
Pháp. Sau khi nhận thức được sự tàn ác, mặt thật của cộng
sản, ông Thiệu bỏ làng vào miền Nam.
Khi vào Sài Gòn,
ông ta ghi tên theo học khóa đầu tiên huấn luyện sĩ quan
trường Võ Bị (sau này gọi là trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
hay Đà Lạt), lúc đó mở ở Huế trước khi di chuyển lên Đà Lạt
và do sĩ quan người Pháp huấn luyện. Trong năm 1954, ông
Thiệu chỉ huy một Tiểu Đoàn đánh đuổi cộng sản ra khỏi xóm
làng quê của ông. Hai năm sau, được thăng chức lên làm Chỉ
Huy Trưởng trường Võ Bị (1956–1960), trước khi lên cấp bậc
đại tá làm Tư lệnh Sư Đoàn 1 BB rồi Sư Đoàn 5 BB. Ông Thiệu
được biết là một cấp chỉ huy thông minh, tài giỏi, và nhiều
tham vọng, can đảm ngoài trận mạc và có tinh thần trách
nhiệm.
Mặc dầu sinh trưởng trong gia đình theo đạo
Phật như đa số người Việt Nam, ông Thiệu cưới vợ người miền
Nam theo đạo Thiên Chúa, bà Nguyễn Thị Mai
Anh năm 1951 và
theo đạo năm 1957. Tuy nhiên, ông ta không được sự tin cậy
của Tổng thống Diệm như các sĩ quan cao cấp người Thiên Chúa
giáo khác. Ông Thiệu cũng không gia nhập đảng Cần Lao của
ông Ngô Đình nhu mà theo đảng Đại Việt, một đảng quốc gia
chống người Pháp.
Khi cuộc đảo chánh năm 1963 (1
tháng Mười Một) xảy ra, ông Thiệu trở nên một trong số nhân
vật chính. Cuối tháng Mười Hai năm 1962, Tổng thống Diệm
không hoàn toàn tin tưởng (Đại tá) Nguyễn Đức Thắng, Tư lệnh
Sư Đoàn 7 Bộ Binh đang đóng quân ở Biên Hòa nên ra lệnh cho
Sư Đoàn 7 BB di chuyển về Mỹ Tho. Khu vực trách nhiệm ở Biên
Hòa được trao cho Sư Đoàn 5 BB của ông Thiệu. Việc hoán đổi
vùng trách nhiệm của hai Sư Đoàn Bộ Binh, sau này trở thành
một sai lầm lớn. Hai năm trước (1960), ông Thiệu lúc đó là
Tư lệnh Sư Đoàn 7 BB, đã đưa quân về Sài Gòn cứu ông Diệm
chống lại quân Nhảy Dù đảo chánh (11/11/1960). Sau đó, ông
Thiệu được đưa ra ngoài Huế làm Tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh,
cuối cùng về Sài Gòn trong tháng Mười Hai năm 1962.
Ông Thiệu lại về nắm quyền chỉ huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh gần Sài
Gòn. Khi được Tướng Dương Văn Minh chủ chốt cuộc đảo chánh
móc nối, ông Thiệu đổi hướng và được trao nhiệm vụ chính,
tấn công dinh Độc Lập. Hai anh em Thổng thống Diệm bị quân
đảo chính giết chết ngày 2 tháng Mười Một năm 1963, ông
Thiệu được thăng cấp tướng (lúc đó chưa có cấp bậc chuẩn
tướng). Cái chết của anh em ông Diệm ám ảnh làm ông Thiệu sợ
người Mỹ chủ mưu đảo chánh chống lại ông ta.
Sau đó
là hai năm rối loạn trong chính quyền VNCH, các tướng lãnh
tranh giành quyền hành, đảo chánh lẫn nhau... đưa đẩy thời
cơ đến tay nhóm tướng lãnh trẻ. Ông Thiệu nắm lấy cơ hội và
chứng minh ông ta có nhiều thủ đoạn chính trị. Các tướng
lãnh “hết thời” bị ép buộc giải ngũ. Ông Thiệu được bầu làm
chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (Tổng thống), và Tướng
Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ
tướng). Hai người “đưa” Tướng Khánh xuất ngoại sang Hoa Kỳ,
củng cố quyền lực. Ông Thiệu đắc cử Tổng thống năm 1967, ông
Kỳ làm Phó tổng thống, nhưng sau đó trở thành đối lập của
ông Thiệu.
2. TRẬN TẤN CÔNG TẾT MẬU THÂN
Lễ
tấn phong cho ông Thiệu ngày 1 tháng Mười Một năm 1967,
trong khi đó quân cộng sản (Việt cộng) lợi dụng tình hình
chính trị hỗn loạn trong miền Nam từ những năm trước, bành
trướng sức mạnh, tàng trữ vũ khí chuẩn bị cho trận Tổng Tấn
Công Tết Mậu Thân.
Lúc 3:00g sáng ngày 31 tháng Giêng
năm 1968, Tổng thống Thiệu nhậm chức Tổng thống nền Đệ Nhị
Cộng Hòa được ba tháng, người dân Việt Nam đang đón mừng
ngày đầu tiên năm âm lịch. Lợi dụng dịp ngừng bắn ngày tết,
quân cộng sản bất ngờ tổng tấn công trên toàn miền Nam Việt
Nam. Tất cả 44 tỉnh lỵ, thành phố bị tấn công cùng lúc, kể
cả những thành phố lớn: Sài Gòn, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng,
Qui Nhơn, Nha Trang, Kontum, Ban Mê Thuột, Mỹ Tho, Cần Thơ,
và Bến Tre.
Trong Sài Gòn, quân Việt cộng tấn công
sáu mục tiêu: bộ Tổng Tham Mưu, dinh Độc Lập, tòa Đại Sứ Hoa
Kỳ, phi trường Tân Sơn Nhất, đài phát thanh Sài Gòn, và bộ
Tư lệnh Hải Quân. Các trận tấn công đa số bị đẩy lui trong
vòng ba ngày, ngoại trừ Sài Gòn và thành phố Huế.

Trong thành phố Huế, quân cộng sản chiếm đóng gần
một tháng, lập Ủy Ban Cách Mạng, Tòa Án Nhân Dân, bắt bớ,
giết chóc viên chức chính quyền, sĩ quan quân đội VNCH.
Nhiều người tin họ, ra trình diện, để rồi biến mất... Những
nạn nhân kém may mắn bị lùa đi đến những hố chôn tập thể rồi
hành quyết, sau này khi quân đội VNCH phản công lấy lại
thành phố Huế, mới tìm ra những hố chôn người tập thể này.
Ngày 26 tháng Hai, Tiểu Đoàn 21, 39 BĐQ giải tỏa xong khu
Gia Hội, chiến trường Huế coi như kết thúc, hai ngôi mộ tập
thể được tìm thấy đầu tiên trong hai trường trung học Gia
Long và Gia Hội. Sau đó nhiều ngôi mộ tập thể khác được tìm
thấy [ở] vùng ngoại ô thành phố Huế, khu vực lăng Tự Đức,
Minh Mạng. Tổng cộng hơn 3,000 nạn nhân vô tội bị giết.
Tổn thất thường dân rất cao, hơn 80% nhà cửa gần thành
Nội bị hư hại, dân tỵ nạn không được cung cấp đầy đủ lương
thực, nước uống, không khí ảm đạm, hôi thối vì nhiều xác
chết của cả hai bên đã bị phân hủy. Năm 1968, trở nên năm
“chết người” cho người dân miền Nam Việt Nam, 28,000 quân
nhân VNCH tử trận, 600,000 thường dân mất nhà cửa, sống
trong các trại tỵ nạn do chính quyền VNCH dựng lên.
Ngày 1 tháng Hai, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố
“Thiết Quân Luật” trên toàn miền Nam Việt Nam, và đến cuối
tháng Sáu, Đại Hội Đồng Quốc Gia chấp thuận yêu cầu của ông
Thiệu ban hành lệnh Tổng Động Viên. Trên phương diện quân
sự, VNCH và quân Đồng Minh đã chiến thắng, tinh thần chống
cộng của ngưòi dân miền Nam lên cao. Đến tháng Chín 240,000
thanh niên hăng hái lên đường nhập ngũ.
3. SỰ PHẢN
BỘI
Ông Thiệu ủng hộ Nixon, đã làm tất cả để giúp
Tổng thống Nixon thắng cử năm 1968. Nhưng sau đó, ông Thiệu
biết được “ông luật sư” ăn nói khôn ngoan Nixon, một mặt hứa
hẹn, bảo đảm với ông Thiệu, mặt kia để cho Kissinger phá
hoại miền Nam Việt Nam. Mặc dầu chưa chắc Kisinger chủ tâm
muốn vậy nhưng hướng đi của hai người đem lại kết quả “phản
bội” người bạn đồng minh VNCH.
Ngày 14 tháng Năm
1969, trong bài diễn văn, Tổng thống Nixon nói về sự can
thiệp của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam, rõ ràng đồng ý
và bảo đảm với ông Thiệu:
Một quốc gia vĩ đại, phải
được sự tin tưởng... Nếu chúng ta xóa bỏ tất cả những nỗ lực
ở Việt Nam một cách dễ dàng, đơn giản. Hòa bình sẽ không tồn
tại được lâu, và sự thiệt hại sẽ ảnh hưởng các quốc gia khác
trong sự tin tưởng vào khả năng của chúng ta.
Kissinger, vẫn tiếp tục tiếp xúc bí mật với đại diện chế độ
Hà Nội, Lê Đức Thọ, kể từ ngày 30 tháng Bảy năm 1969, để
chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên, Tổng thống Nixon không cho
ông Thiệu biết chuyện này, cho đến khi việc thương thuyết
gần xong. Nhưng Ông Thiệu đã nghi ngờ vì Kissinger nói
chuyện loanh quanh, trả lời không rõ ràng, làm ông Thiệu
càng lo lắng.
Sài Gòn không biết ngày 16 tháng Tám
năm 1971, người Hoa Kỳ đã hứa (Kissinger – Lê Đức Thọ) sẽ
rút quân đội ra khỏi Việt Nam trong vòng sáu tháng khi hiệp
định được ký két. Sau đó Tướng Alexander Haig qua Sài Gòn
trình bày với ông Thiệu một kế hoạch bí mật khác, yêu cầu
ông ta từ chức. Tổng thống Thiệu biết Kissinger đã làm yếu
thế người Hoa Kỳ trên bàn hội nghị, làm theo yêu cầu cầu của
Bắc Việt (Lê Đức Thọ).
Ông Thiệu càng ngày càng lo
âu, Tổng thống Nixon tuyên bố sang thăm Trung cộng. Rồi thì,
Nixon cho biết sẽ bỏ điều kiện, cả Mỹ lẫn Bắc Việt phải rút
quân song phương ra khỏi miền Nam Việt Nam. Điều đó có nghĩa
quân đội Bắc Việt có thể ở lại trong miền Nam, nơi những
vùng đã chiếm được, trong khi người Hoa Kỳ đơn phương rút
quân đội về nước. Thiệu biết mình đã bị phản bội, nhưng vẫn
hy vọng Tổng thống Nixon sẽ cứu ông ta.
Riêng tư,
Nixon nói với Mao Chủ Tịch, ông ta muốn rút quân ra khỏi
Việt Nam để đổi lấy số tù binh bị giam giữ nơi miền Bắc Việt
Nam, và chấm dứt cuộc chiến. Khi trở về Hoa Kỳ, Nixon lại
viết thư bảo đảm cho Tổng thống Thiệu:
Ông có thể tin
chắc rằng, tôi sẽ làm mọi điều trong quyền lực của tôi, để
bảo đảm những sự hy sinh của người Việt Nam, và người Hoa Kỳ
mà không lại kết quả gì.
Richrad Nixon, 28 tháng Hai,
năm 1972
Để ép buộc ông Thiệu ký tên vào bản hiệp
định Paris qua sự thương lượng giữa Kissinger và Lê Đức Thọ,
Tổng Tống Nixon viết nhiều lá thư cho ông Thiệu, bảo đảm Hoa
Kỳ sẽ yểm trợ trường hợp Hà Nội vi phạm hiệp định ngừng bắn
Paris, như gia tăng tấn công hay xâm chiếm miền Nam Việt
Nam.
Trong thời gian sau khi ngừng bắn, ông có thể
hoàn toàn tin rằng, chúng tôi tiếp tục cung cấp sự yểm trợ
cho chính quyền của ông, bao gồm viện trợ kinh tế, và những
nhu cầu yểm trợ quân sự, theo các điều khoản của hiệp định
ngừng bắn Paris.
Richard Nixon, 16 tháng Mười, năm
1972
Ông được sự bảo đảm tuyệt đối của tôi. Nếu Hà
Nội vi phạm điều kiện của bản hiệp định, tôi sẽ ra lệnh trả
đũa nhanh chóng và mạnh tay.
Richard Nixon, 14 tháng
Mười Một, năm 1972
Ông nên quyết định và tôi tin ông
sẽ theo hướng đi của chúng tôi, ông được sự bảo đảm của tôi,
tiếp tục nhận được viện trợ, sau khi mọi chuyện đã tạm yên,
và chúng tôi sẽ trả đũa toàn lực nếu Bắc Việt vi phạm.
Richard Nixon, 5 tháng Giêng, 1973
Để tôi bảo đảm
thêm một lần nữa trong lá thư này:
– Thứ nhất, chúng
tôi công nhận chính quyền của ông (VNCH) là một chính phủ
hợp pháp duy nhất trong miền Nam Việt Nam.
– Thứ hai,
chúng tôi không công nhận quyền ở lại trong miền Nam Việt
Nam đối với một quân đội ngoại quốc.
– Thứ ba, chính
quyền Hoa Kỳ sẽ phản ứng mạnh mẽ đối với những vi phạm bản
hiệp định Paris...
Richard Nixon, 17 tháng Giêng, năm
1973
Năm 1973, vụ bê bối (nghe lén các buổi họp của
đảng Dân Chủ) Watergate bị phanh phui ra. Chuyện này tiếp
tục trở nên một rắc rối lớn cho chính quyền và Tổng thống
Nixon từ chức ngày 9 tháng Tám năm 1974. Trong vòng 24 tiếng
đồng hồ sau khi nhậm chức tổng thống, Gerald Ford viết thư
cho Tổng thống Thiệu, xác nhận “những sự liên hệ giữa hai
quốc gia vẫn còn hiệu lực, và chính quyền của ông ta (Ford)
sẽ tiếp tục.”
Khi Kissinger gặp ông Thiệu ngày 27
tháng Tám năm 1972 tại Sài Gòn. Ông Thiệu chống lại việc Hoa
Kỳ đơn phương rút quân đội về nước, trong khi các đơn vị
quân đội Bắc Việt được ở lại trong miền Nam Việt Nam. Ông ta
cũng không chấp nhận để cho Mặt Trận Giải Phóng (NLF – Việt
cộng) được nằm trong chính phủ liên hiệp.
Sau đó,
Kissinger đã được Tổng thống Nixon cho phép... tiếp tục,
không cần sự đồng ý của ông Thiệu. Khi ông Thiệu tiếp tục
chống đối Kissinger, Tổng thống Nixon công khai “đe dọa ông
Thiệu với một cộc đảo chánh, hoặc bết hơn nữa (giết), nếu
không chấp nhận những việc Kissinger đã làm.”
Ngày 6
tháng Mười năm 1972, Nixon cảnh cáo ông Thiệu
Sẽ bị
thay thế bằng vũ lực, ngoại từ hợp tác với người Hoa Kỳ
(Kissinger). Tôi khuyên ông nên suy nghĩ chín chắn, để không
bị rơi vào tình trạng như năm 1963 (anh em ông Diệm bị
giết), mà tôi đã chống đối năm 1968.
Richard Nixon, 6
tháng Mười, năm 1972
Ngày 17 tháng Mười năm 1972,
Tổng thống Thiệu ra lệnh cho bộ Tổng Tham Mưu đem vào dinh
Độc Lập một tài liệu dài 10 trang giấy tịch thâu của địch
trong tỉnh Quảng Tín, có tựa đề “Hướng Dẫn Tổng Quát cho
việc Ngừng Bắn.” Tài liệu này có nói đến việc thương lượng
giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Ông Thiệu chấn động, không
biết rõ chuyện đi đêm giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, trong khi
phía cộng sản đã biết và chuẩn bị trước các hoạt động tương
xứng khi bản hiệp định được ký kết.

Ngày 18
tháng Mười, Kissinger trao cho ông Thiệu một bản thảo hiệp
định Ngừng Bắn Paris bằng tiếng Anh, trong đó, Việt Nam Cộng
Hòa (VNCH) không phải là một chính quyền hợp pháp. Bản hiệp
định chỉ nói đến ba quốc gia Đông Dương: Lào, Cambodia, và
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (DRVN – Hà Nội). Ông Thiệu chỉ
muốn “đấm” vào mồm Kissinger. Khi được hỏi về quân đội Bắc
Việt trong miền Nam. Kissinger trả lời, chuyện đó mâu thuẫn
nên không có trong bản thảo. Phía VNCH đòi một bản tiếng
Việt và thời gian để xem xét bản thảo.
Phía VNCH nhận
được bản tiếng Việt không hoàn toàn đúng như bản tiếng Anh,
yêu cầu Kissinger trả lời 23 điểm trong bản hiệp định.
Kissinger trả lời 16 điểm có thể thương lượng nhưng số còn
lại (7) không thể thương lượng được. VNCH đặt câu hỏi về
quân đội Bắc Việt trong miền Nam, và Ủy ban Hòa Hợp, Hòa
Giải Dân Tộc? Kissinger trao cho ông Thiệu thư tay của Tổng
thống Nixon, thúc dục ông Thiệu ký tên chấp thuận bản hiệp
định Ngừng Bắn Paris. Ông Thiệu trả lời, tôi không thể ký
được.
Kissinger tức điên lên gọi ông Thiệu là “Chướng
ngại vật cho hòa bình” (kỳ đà cản mũi), và sẽ làm theo ý ông
ta. Ông Thiệu tố cáo Kissinger đi đêm với Nga Tầu bán đứng
VNCH. Kissinger quay sang Hoàng Đức Nhã, người em họ làm cố
vấn cho ông Thiệu.
– Tại sao tổng thống của ông muốn
làm Thánh Tử Đạo? Ông ta không cần thiết làm chuyện đó.
– Tôi không cố gắng làm Thánh Tử Đạo. (Ông Thiệu trả
lời) Tôi là người có tinh thần quốc gia, đang tìm câu trả
lời chính đáng.
Ông Thiệu không chịu ký tên, Bắc Việt
tin tưởng Kissinger có thể thuyết phục ông Thiệu... nhưng
không được làm họ ngừng thương thuyết trong tháng Mười Một,
cho rằng Washington muốn củng cố “chế độ bù nhìn” (VNCH).
Ngày 17 tháng Mười Hai năm 1972, Tổng thống Nixon ra
lệnh tiến hành chiến dịch Linebacker 2, cho phi cơ B–52 thả
bom miền Bắc Việt Nam và thả mìn phong tỏa hải cảng Hải
Phòng. Tổng thống Hoa Kỳ, đồng thời đe dọa ông Thiệu, theo
Tướng Alexander Haig, ông Thiệu mệt mỏi tuyệt vọng, biết
rằng hiệp định Paris sẽ mở cửa cho cộng sản thôn tính miền
Nam Việt Nam.
Các phi vụ B–52 thả bom Bắc Việt cho
đến ngày 30 tháng Mười Hai ngoại trừ đêm Noel (24/12). Hoa
Kỳ bị bắn rơi 30 phi cơ, trong đó 15 B–52, tất cả do hỏa
tiễn điạ không SAM (SA–II). Ngày 14 tháng Giêng năm 1973,
Tổng thống Nixon nói Kissinger kéo Nguyễn Văn Thiệu theo.
Ông ta đe dọa sẽ cắt viện trợ kinh tế, nếu ông Thiệu không
chịu ký hiệp định, nhưng vẫn hứa sẽ phản ứng mạnh nếu bản
hiệp định bị vi phạm. Ngày 20 tháng Giêng, Nixon nhậm chức
tổng thống, ngày 21 tháng Giêng, ông Thiệu gọi điện thoại
cho Đại Sứ Bunker.
– Tôi đã làm kết sức, tất cả cho
đất nước tôi.
Trong hồi kỳ, Nixon khen ông Thiệu là
người can đảm. “Ông ta làm tôi tức giận, mất mặt, nhưng phải
công nhận tinh thần cao độ.”
Ngày 23 tháng Giêng năm
1973, Kissinger và Lê Đức Thọ ký kết 36 điều khoản căn bản.
Đối với VNCH, cuộc chiến đấu từ năm 1969 đến năm 1973 coi
như mất tất cả. Số tiền 750 triệu đô–la quân dụng chuyển
giao cho quân đội VNCH trong chương trình “Nhiều Hơn”
(Enhance Plus), các phản lực F–5 và C–123 đã cũ không thể sử
dụng được. Thiếu ngân khoản mua phụ tùng thay thế, chương
trình (Enhance Plus) là một cử chỉ trống rỗng.
4.
TRẬN TẤN CÔNG LỄ PHỤC SINH
Trong khi Kissinger cố
gắng thương thuyết để rút quân đội Hoa Kỳ ra khỏi cuộc chiến
suốt năm 1972. Hà Nội phóng ra một trận tấn công mới, vi
phạm hiệp định Geneva 1954, xâm lăng miền Nam Việt Nam. Họ
đặt tên cho trận tấn công quy mô này là Chiến Dịch Nguyễn
Huệ, sử dụng quân số lên đến 14 Sư Đoàn, để tiêu diệt hay
làm suy yếu quân đội, chính quyền VNCH. Mặt trận B–5 cộng
sản cho rằng “Không thành vấn đề nếu trận chiến kết thúc hay
kéo dài thêm... cả hai đều là cơ hội cho chúng ta gieo hạt
giống và đợi gặt hái kết quả.”
Trở lại mùa hè năm
1971, Hà Nội cũng “không dè” Tổng thống Nixon thăm viếng
Trung cộng. Để tránh bị “đàn em” nghi ngờ, Trung cộng hứa sẽ
tiếp tục viện trợ vào đầu năm 1972. Quan thầy Nga Sô cũng
lôi kéo Bắc Việt, mong có sự rạn nứt giữa Trung cộng và Bắc
Việt, nên hứa sẽ tiếp tục viện trợ. Hà Nội “lời to”, trong
hai năm 1971, 1972, Nga Sô và Trung cộng viện trợ cho Bắc
Việt 1.5 tỷ (đô–la) về quân sự, gấp đôi con số tình báo Hoa
Kỳ ước đoán. Quân đội Bắc Việt nhận được vũ khí tối tân: 400
chiến xa T–34, T–54, và loại T–59 (do Trung cộng biến chế từ
T–54), 200 chiến xa lội nước PT–76, hàng trăm hỏa tiễn phòng
không, kể cả loại cá nhân đeo vai, tầm nhiệt SA–7 Strela,
loại AT–3 Sagger (năm 1972 điều khiển bằng dây điện, sau đó
tầm nhiệt) chống chiến xa, đại bác 130ly chiến lược nòng dài
tầm bắn xa 30 cây số.

Ngày 30 tháng Ba năm
1972, quân đội Bắc Việt cho ba Sư Đoàn cùng với 200 chiến xa
T–54 băng qua khu vực phi quân sự, tấn công tỉnh Quảng Trị
vùng điạ đầu giới tuyến. Các đơn vị Bắc Việt khác từ bên Lào
băng qua biên giới tấn công tỉnh Kontum, xa nhất trên vùng
cao nguyên và An Lộc trong Quân Đoàn III gần biên giới
Việt–Miên. Trong trận tấn công lớn nhất vào thời điểm năm
1972, quân đội Bắc Việt sử dụng 14 Sư Đoàn cùng nhiều Trung
Đoàn độc lập tấn công các đơn vị VNCH trên ba chiến trường
Quảng Trị, Kontum, và An Lộc.
Mặt trận nặng nhất ở
Quảng Trị, Sư Đoàn 3 BB VNCH phải gánh chịu sức tấn công
mạnh bạo của địch. Sư Đoàn 3 BB VNCH mới được thành lập
trong tháng Mười năm 1971, nhằm thay thế các đơn vị Hoa Kỳ
rút về nước (TQLC/HK, Sư Đoàn 101 ND, Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa
Kỳ). Ngày 1 tháng Tư, Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai (Tư lệnh
SĐ3/BB) ra lệnh rút đơn vị đang trấn đóng nơi phiá Nam Cửa
Việt về để tái tổ chức, chấn chỉnh lại Sư Đoàn. Ngày hôm
sau, Trung tá Phạm Văn Đính Trung đoàn trưởng 56 BB đầu hàng
cả Trung Đoàn 1,500 người trong căn cứ hỏa lực Carroll (Tân
Lâm, lớn nhất ngoài Vùng I Chiến Thuật, có cả đại bác 175ly)
để cho quân đội Bắc Việt đánh chiếm cả khu vực hướng Tây,
kéo dài xuống phiá Bắc sông Thạch Hãn. Nhưng quân đội Bắc
Việt khựng lại, vì bị tổn thất, giậm chân tại chỗ ba tuần
lễ, đủ thời gian cho quân đội VNCH bổ sung, tái trang bị,
phản công. Vì mâu thuẫn lệnh lạt giữa Tướng Giai và cấp chỉ
huy trực tiếp Trung tướng Hoàng Xuân Lãm Tư lệnh Quân Đoàn
I, quân đội VNCH tan rã.
Thị trấn Đông Hà, Quảng Trị,
Tân Cảnh, Dakto nơi hướng Bắc tỉnh Kontum, trên vùng cao
nguyên bị quân đội Bắc Việt với vũ khí, trang bị mới hơn,
tối tân hơn (đại bác tầm xa 130ly, chiến xa T–54) tấn công
tràn ngập.
Tổng thống Nixon được báo cáo, tức giận ra
lệnh thả bom miền Bắc, từ khu vực phi quân sự ra ngoài bắc
25 dặm, sau đó cho phép ra đến vĩ tuyến 20. Ông ta được cố
vấn, thả thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng nơi Bắc Việt nhận
quân dụng, vũ khí viện trợ từ các quốc gia cộng sản.
Ông Thiệu phải đưa Trung tướng Ngô Quang Trưởng từ dưới Vùng
IV ra thay thế Trung tướng Hoàng Xuân Lãm làm Tư lệnh Quân
Đoàn I. Binh sĩ ngoài Vùng I Chiến Thuật lên tinh thần, quân
đội VNCH thảo kế hoạch phản công lấy lại phần đất mất về tay
địch. Sư Đoàn 1 BB tấn công về hướng Tây (rừng núi dãy
Trường Sơn, biên giới Việt–Lào). Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn TQLC,
được tăng cường Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân tấn công lên
hướng Bắc về hướng thành phố Quảng Trị.
Trận phản
công tái chiếm thành phố Quảng Trị và cổ thành Đinh Công
Tráng đẫm máu, số thương vong cả hai bên lên rất cao. Quân
đôi Bắc Việt tiếp tục đổ thêm quân vào chiến trường, theo
lời một người lính Bắc Việt đã từng tham dự “Các tân binh
được đưa vào bổ sung vào buổi tối. Họ chết trước rạng đông
ngày hôm sau... Không kịp để biết người lính đó từ đâu bổ
sung đến, cấp chỉ huy là ai?” Cổ thành Quảng Trị được phòng
thủ mạnh nhất, TQLC VNCH cắm cờ ngày 16 tháng Chín năm 1972.
TQLC VNCH báo cáo tổn thất 3,658 quân nhân trong bảy tuần lễ
tấn công tái chiếm cổ thành Đinh Công Tráng. Cứ bốn người
lính TQLC VNCH, một người tử trận hoặc bị thương.
Trên vùng cao nguyên, quân đội VNCH đứng vững bảo vệ thành
phố Kontum, quân cộng sản bị thiệt hại nặng phải rút lui. Ở
An Lộc trong Quân Đoàn III cũng thế, ba Sư Đoàn 5, 7, 9 Việt
cộng bị thiệt hại nặng vẫn không chiếm được thị trấn An Lộc
cũng phải rút qua đất Cambodia.
5. MÙA HÈ 1975 (TỔNG
TẤN CÔNG LẦN THỨ BA)
Theo tài liệu Viện Nghiên Cứu
Quân Sử Việt Nam (Bắc Việt), báo cáo của đảng Cộng Sản VN
khi chiến tranh chấm dứt. “Số lượng đồ tiếp liệu chuyên chở
vào miền Nam trên đường Trường Sơn (HCM) từ đầu năm 1974 cho
đến cuối tháng Tư năm 1975 là 823,146 tấn quân dụng, vũ khí,
đạn dược, hơn gấp rưỡi (1.6) lần tổng số lượng đồ tiếp liệu
chở vào miền Nam trong 13 năm trước đó.” Cũng “trong thời
gian 1973–1974, hơn 150,000 thanh niên được gọi nhập ngũ.
Nhiều đơn vị tác chiến được bổ sung đầy đủ quân số, 68,000
quân được bổ sung, 8,000 cán bộ, chuyên viên kỹ thuật được
đưa ra chiến trường.”
Ngày 1 tháng Bảy năm 1973, Quốc
Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật ngăn cấm không cho quân đội
Hoa Kỳ tham dự trực tiếp hay gián tiếp trên đất Lào,
Cambodia, và cả hai miền Bắc, Nam Việt Nam. Ngày 7 tháng
Mười Một, Thượng Viện phủ quyết quyền tuyên chiến của Tổng
thống Hoa Kỳ, nếu không được Quốc Hội thông qua. Trong thời
gian 1972–1973, Nam Việt Nam nhận được 2.2 tỷ đô–la viện trợ
Hoa Kỳ. Thời gian 1973–1974, con số đó giảm xuống còn 965
triệu đô–la, cắt giảm hơn một nửa.
Đến giữa năm 1974,
quân đội VNCH mới cảm thấy thiếu thốn sự viện trợ của Hoa
Kỳ, kết quả số tổn thất, thương vong gia tăng (không có trực
thăng tản thương...). “Các quân y viện đều chật cứng thương
binh, thiếu thốc men, đặc biệt thuốc kháng sinh, và máu (cho
người bị thương). Trong thành phố Sài Gòn, đơn vị xe cứu
thương không đủ xăng để di tản thương binh...”
Bộ
Tổng Tham Mưu quân đội VNCH không giúp được gì, Đại tướng
Trần Thiện Khiêm (Thủ tướng) có bề ngoài thương gia hơn vị
tướng bốn sao. Ông ta luôn đứng trong bóng tối, tránh né tai
tiếng, trách nhiệm trực tiếp. Ông ta để cho Tổng thống Thiệu
quyết định mọi việc, hỗ trợ ông Thiệu trong vấn đề chính
trị.
Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng
quân đội VNCH, cũng im lặng trong bóng tối, để cho ông Thiệu
trực tiếp làm việc với các Tư lệnh Quân Đoàn, đánh giặc.
Một trong những người tin tưởng chế độ VNCH trong Sài
Gòn là Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin. Ông ta làm việc rất hăng
say, không biết mệt. Một nhân viên trong tòa đại sứ nói “Tôi
biết có ông đại sứ, nhưng chưa gặp ông ta lần nào.” Đại Sứ
Martin trở nên “người tin tưởng tuyệt đối”, ông ta lặp lại
những điều Tổng thống Nixon, rồi Tổng thống Ford hứa hẹn
không để VNCH thua trận. Ông ta bị “buộc tội” báo cáo về
Washington (Bộ Ngoại Giao) và Tổng thống Hoa Kỳ “bóp méo sự
thật, che giấu khuyết điểm của chính quyền ông Thiệu, cung
cấp tin tức sai lạc cho giới soạn chính sách (cho Việt
Nam)”.
Tệ hại hơn nữa, Tướng Murray, trưởng cơ quan
DAO (Phòng Tùy Viên Quân Sự – trực thuộc tòa Đại Sứ) cho
rằng ông ta đã hướng dẫn cấp chỉ huy chính quyền VNCH sai
lạc, lặp đi lặp lại lời hứa hẹn của các vị Tổng thống Hoa Kỳ
(Nixon, Ford), sẽ yểm trợ tối đa ông Thiệu. Sự thật, Quốc
Hội Hoa Kỳ cắt viện trợ Hoa Kỳ là xong, Tổng thống Hoa Kỳ
không làm gì được.

Ngày 10 tháng Ba năm 1975,
quân đội Bắc Việt tấn công bất ngờ thị xã Ban Mê Thuột.
Thiếu tướng Phạm Văn Phú vẫn tin Kontum, Pleiku sẽ là bãi
chiến trường chính trên Quân Đoàn II, nên đưa quân lên bảo
vệ hai thành phố trên, Ban Mê Thuột chỉ có một Tiểu Đoàn
thuộc Trung Đoàn 53, Sư Đoàn 23 BB cùng các đơn vị Điạ
Phương Quân VNCH bảo vệ.
Ban Mê Thuột thất thủ, Tổng
thống Thiệu rối trí, đưa ra quyết định sai lầm chiến lược,
ra lệnh cho Tướng Phú rút quân còn lại trên vùng cao nguyên
(Biệt Động Quân, Thiết Giáp) về miền duyên hải. Tin đồn về
cuộc di tản làm cho người dân trong hai tỉnh Kontum, Pleiku
hoang mang, lo sợ, tìm đủ mọi phương tiện, xe cộ chạy theo
đoàn xe chở quân đội làm tắc nghẽn con đường độc đạo di tản
Liên tỉnh lộ 7B. Sư Đoàn 320 Bắc Việt đuổi kịp và kết quả,
đoàn xe trở thành những mục tiêu dễ dàng cho pháo binh, súng
cối, đại bác không dật, quân đội Bắc Việt. Quân dân VNCH về
đến Tuy Hòa, Phú Yên chỉ còn một phần ba.
Tiếp theo,
ông Thiệu ra lệnh rút Sư Đoàn Dù về Sài Gòn làm cho tuyến
phòng thủ Quân Đoàn I yếu đi. Ra lệnh cho Tướng Ngô Quang
Trưởng rút quân về phòng thủ thị xã Đà Nẵng... sau đó đổi ý,
ra lệnh bảo vệ thành phố Huế... rồi lại bỏ Huế... sau vài
lần thay đổi qua lại, lệnh lạt không được tuân hành nữa.

Đến cuối tháng Ba, cả hai Quân Đoàn I và II VNCH
sụp đổ... Các Sư Đoàn, Quân Đoàn chính quy Bắc Việt tiến
công về hướng Sài Gòn chỉ dừng lại nơi phòng tuyền Xuân Lộc.
Sư Đoàn 18 BB VNCH được một Lữ Đoàn Nhảy Dù, một Lữ Đoàn kỵ
binh, 1 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân tăng cường chống cự quyết
liệt đến gần cuối tháng Tư mới phải rút bỏ... “phòng tuyến
thép”.
Ngày 21 tháng Tư năm 1975, trước áp lực chính
trị, ông Thiệu từ chức, Sài Gòn sụp đổ ngày 30 tháng Tư năm
1975, kết thúc cuộc chiến kéo dài 21 năm. Thương binh VNCH
đang điều trị bị đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa chiều
ngày 30 tháng Tư năm 1975.
III. KẾT LUẬN
Tổng
thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu được người Pháp huấn luyện, ông
cố gắng học hỏi theo hệ thống người Hoa Kỳ. Ông Thiệu tự học
hỏi không cần người chỉ dẫn, tin tưởng nơi quân đội sẽ đứng
sau lung, trung thành với ông ta.
Trên đường chính
trị, ông Thiệu không phải là đối thủ của Henry Kissinger.
Ông Thiệu không bao giờ chấp nhận chính sách giới hạn thả
bom (miền Bắc) để thúc đẩy việc thương thuyết, được bộ
trưởng Quốc phòng McNamara ủng hộ và Tổng thống Lyndon
Johnson nghe theo. Ông ta hy vọng, Nixon sẽ sử dụng sức mạnh
tối đa (đối với quân đội Bắc Việt), khi họ tấn công miền
Nam, sau khi ký kết hiệp định ngừng bắn Paris.
Trong
thời gian nắm quyền trong miền Nam Việt Nam, ông Thiệu phải
đương đầu với hai cuộc chiến: Chiến Tranh Chính Trị, chống
lại Kissinger và người Hoa Kỳ, và trận chiến quân sự với
Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Lê Duẩn. Thua
cuộc chiến chống Kissinger, tiếp theo, ông Thiệu thua luôn
cuộc chiến quân sự chống Hà Nội.
Ông Thiệu sống ẩn
dật trong thời gian sống nơi xứ lạ quê người phương Tây. Lúc
định cư ở bên nước Anh, ông Thiệu từ chối gặp gỡ bất cứ ai
để trả lời cuộc phỏng vấn. Sau khi qua sống ở Boston,
Massachusetts ông Thiệu tiếp tục giữ kín, kể cả viết hồi ký.
Theo tài liệu:
“Dr.
Võ M. Nghĩa, ‘Nguyên Van Thieu’s Four Wars, Radix Press
1975, pages: 5–21’”
Dallas, Texas 30 Nov., 2023
Vđh



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by bđq vđh chuyển
Đăng ngày thứ Hai, January 12, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH