
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tản văn
Chủ đề: thơ thế lữ
Tác giả: Nguyễn Xuân Tùng

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Ngày
tôi còn trẻ, cách nay khoảng 85 năm, tôi thường dùng xe đạp đi chơi
các nơi thắng cảnh chung quanh Hà Nội như Chùa Trăm Gian, còn gọi là
Chùa Tiên Lữ, tại Hà Đông, cách Hà Nội khoảng 20 cây số. Đi tắm và
bơi lội tại Nghi Tàm, Phía Đông Hồ Tây. Làng Nghi Tàm có từ thế kỷ
12, chuyên nghề trồng dâu nuôi tằm. Sau này đổi thành nghề trồng
hoa, bán hoa cho Hà Nội. Thăm Chùa Trấn Quốc ở Cửa bắc Hà Nội, có
Ông Thiện Ông Ác đứng canh giữ sự trang nghiêm cho ngôi chùa thờ
Phật. Ông Thiện mặt hiền từ, còn Ông Ác mặt dễ sợ. Hồi nhỏ tôi cứ
nghĩ Ông Thiện là Ông Thiện. Ông Ác là Ông Ác. Nhưng sau tìm hiểu về
Đạo Phật, tôi mới biết cả Hai Ông Thiện và Ông Ác là hai vị Hộ Pháp
canh giữ cho sự trang nghiêm của nơi cửa chùa thờ cúng Đức Phật. Ông
Ác không phải là ông Ác mà là Ông Hộ Pháp chống lại những kẻ gian
ác, tham–sân–si trên đời không lọt được vào chốn tôn nghiêm thanh
tịnh, tu hành thờ Phật.
Tôi cũng hay đến Đền Ngọc Sơn ở Bờ Hồ
Hoàn kiếm, có cây si rất lớn. Cành si lan tỏa trên mặt hồ và trên
cành có những rễ si mọc xuống tới đất, trông như có nhiều cây si.
Tôi cũng đến Vườn Bách Thú Hà Nội, ở đấy có một con hổ, bị nhốt
trong một cái lồng sắt, giống như lồng chim. Nhưng khi nhìn kỹ thì
thấy nó giống như hình một cái vương miện thật lớn. Nói là thật lớn
nhưng nó hầu như chỉ rộng bằng hai chiều dài của con hổ bị nhốt ở
trong đó. Tôi tới đó nhiều lần nhưng không lần nào thấy nó đứng dậy,
vươn vai, cào móng vuốt vào song cũi chuồng cọp. Lúc nào cũng chỉ
thấy nó nằm như một con mèo ngái ngủ và có vẻ mặt buồn buồn. Thỉnh
thoảng nó lại quẫy tai, lắc đầu để xua đuổi những con ruồi nhặng đậu
trên mặt miệng nó.
Thế rồi lúc tôi học trung học, học các nhà
văn, nhà thơ, thì có học đến bài "Nhớ Rừng" của Thế Lữ. Làm tôi
nhớ lại hình ảnh của con hổ tại Vườn Bách Thú. Thì mới cảm thấy tại
sao con hổ ở Vườn Bách Thú Hà Nội nó cứ buồn buồn không vui. Thế Lữ
cũng nhìn thấy con hổ buồn buồn đó trong Vườn Bách Thú nhưng ông lý
giải được cái buồn của nó, cái buồn của một chúa sơn lâm đã từng
vùng vẫy trong rừng thẳm vang bóng một thời. Nay với cảnh sa cơ thất
thế, bị nhốt trong một cái chuồng nhỏ hẹp, làm kiểng cho người tới
xem như những con thú vật tầm thường khác mà nó coi thường coi khinh
khi ở trong rừng. Thật đúng là cảnh "Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng
hèn". Bài thơ "nhớ rừng" của Thế Lữ như sau:
"Gặm một khối
căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé giễu oai
linh rừng thẳm,
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ
mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp
báo chuồng bên vô tư lự.
Ta sống mãi trong tình thương nỗi
nhớ,
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn
lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn
hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên,
dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã
quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể cả
muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Nào
đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng
tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặng ngắm
giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng
máu sau rừng.
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm
lấy riêng phần bí mật?
– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
* * * * *
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những
cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả
dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả
suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm
vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang
vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Hỡi oai linh, cảnh nước
non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị.
Nơi thênh
thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng
ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
– Hỡi cảnh
rừng ghê gớm của ta ơi!" –Thế Lữ
* * * * *
Nói đến thơ
"nhớ rừng" mà không nói tới tiểu sử tác
giả Thế Lữ là điều bất kính. Vậy xin tóm lược tiểu sử của nhà văn,
nhà thơ, kịch sĩ Thế Lữ như sau:
Thế Lữ tên thật là: Nguyễn
Đình Lễ, sau đổi thành Nguyễn Thứ Lễ. Ông sinh ngày 10 tháng 6 năm
1907 và mất ngày 3 tháng 6 năm 1989. Thế Lữ là nhà thơ, nhà văn, nhà
soạn kịch, và là nhà hoạt động sân khấu. Ông nổi tiếng trên văn đàn
vào những năm 1930, với những tác phẩm Thơ mới, đặc biệt là bài
Nhớ Rừng, cùng những tác phẩm văn xuôi, tiêu biểu là tập truyện Vàng
và máu. Thế lữ trở thành thành viên của nhóm Tự Lực Văn Đoàn ngay từ
khi mới thành lập năm 1934. Ông hầu hết hoạt động sáng tác văn
chương trong thời gian là thành viên của nhóm Tự Lực Văn Đàn, đồng
thời cũng đảm nhận vai trò là một nhà báo, nhà phê bình, biên tập
viên minh mẫn của các tờ báo Phong hóa và Ngày nay. Bài thơ "Nhớ Rừng",
còn có tên là "Lời con hổ ở vườn Bách thú" của Thế Lữ tặng
Nguyễn Tường Tam, là Nhà Văn Nhất Linh trong Tự Lực văn Đoàn./.
Nguyễn Xuân Tùng
Diễn Đàn Kitô–hữu
11/08/2026

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by vn chuyển.
Đăng ngày thứ Sáu, August 14, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH