

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tạp ghi
Chủ đề:
74 năm – trường sqtb/bbtđ
Tác giả:
Trần Xuân Thời

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Quý Niên Trưởng, quý Chiến hữu,
Trước
hết, tôi xin gửi lời chào mừng quý Niên trưởng, quý Chiến
hữu đã không quản ngại đường sá xa xôi, nước non ngàn dặm ra
đi, tham dự Kỷ niệm ngày Truyền Thống thứ 74 (1951–2025) của
Cựu Sinh viên Sĩ Quan Trừ Bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Việt Nam vốn là một quốc gia thống nhất từ Ải Nam Quan
đến mũi Cà Mau. Sau khi Nhật đảo chánh quân Pháp ở Đông
Dương, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Hoàng Đế Bảo Đại đã tuyên
Cáo Việt Nam độc lập, trong bản Tuyên ngôn có đoạn:
“Chiếu tình hình thế giới nói chung và tình hình Á Châu nói
riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể
từ ngày hôm nay hiệp ước bảo hộ ký với Pháp được bãi bỏ và
đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia.
Khâm
thử,
Huế, ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại.”
Sau đó, Hiệp ước Vịnh Hạ Long được ký kết vào ngày 5
tháng 6 năm 1948 Pháp quốc công nhận nền độc lập của Việt
Nam và thành lập Quân đội Quốc Gia Việt Nam.
1.
Trường Sĩ Quan Trừ Bị
Sau thế chiến thứ II, với chính
sách ngăn ngừa sự bành trướng của Cộng sản quốc tế (US
containment policy) từ Âu sang Á, Hoa Kỳ cung cấp viện trợ
quân sự và kinh tế cho các quốc gia chống lại chủ nghĩa Cộng
sản với các kế hoạch:
(a) Kế hoạch Marshall: Cung cấp
hỗ trợ tài chính để tái thiết nền kinh tế châu Âu nhằm ngăn
chặn ảnh hưởng của Cộng sản;
(b) Thành lập NATO:
Thiết lập một liên minh quân sự để chống lại sự xâm lược của
Liên Xô ở châu Âu.
(c) Chính sách ngăn chặn: Áp dụng
chiến lược ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản
trên toàn cầu.
(d) Hỗ trợ các chế độ chống cộng: Ủng
hộ các chính phủ và phong trào chống Cộng sản, ngay cả khi
là chế độ độc tài.
(e) Can thiệp quân sự: Tham gia
vào các cuộc xung đột để ngăn chặn sự lây lan của chủ nghĩa
Cộng sản ở các khu vực trọng điểm bắt đầu can thiệp quân sự
vào Việt Nam.
Tổng thống
Harry Truman viện trợ
quân sự cho Việt Nam để tăng cường quân lực. Quốc Trưởng Bảo
Đại ký Sắc Lệnh ngày 15 tháng 7 năm 1951, kêu gọi tổng động
viên: Thanh niên tuổi từ 18 đến 28 đều phải nhập ngũ. Những
người có bằng từ Cao đẳng Tiểu học trở lên cóđủ điều kiện
nhập học khoá Sĩ Quan Trừ Bị. Viện trợ quân sự của Hoa Kỳ đã
giúp ngân khoản cho chính phủ Việt Nam:
(a) Di chuyển
Trường Sĩ Quan tại Đập Đá Huế được thành lập năm 1948 lên Đà
Lạt với danh xưng mới Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. (École
Militaire Interarmes).
(b) Thành lập thêm hai Trường
Sĩ Quan Trừ Bị (Écoles d Officiers de Reserve) tại Nam Định
và Thủ Đức.
(1) Khoá I Nam Định và Khoá I Thủ Đức
được khai giảng vào ngày 1 tháng 10 năm 1951. Trường Nam
Định chỉ huấn luyện được 1 khoá rồi ngưng hoạt động vì Việt
Minh được Trung cộng hỗ trợ mở chiến dịch Đông Xuân tại Miền
Bắc. Trường Thủ Đức đào tạo được 5 khoá thì tạm ngưng huấn
luyện vào tháng 2 năm 1955, chiếu điều khoản giảm trừ binh
bị của Hiệp Định Geneve ký ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hiệp
Định Geneve do Thực Dân Pháp và Cộng sản ký kết, tự động
phân đội Việt Nam ra miền Nam Bắc trái vớiý chí của toàn
dân, đã vi phạm quyền dân tộc tự quyết (right to
self–determination) của Quốc Gia Việt Nam do Đức Quốc Trưởng
Bảo Đại lãnh đạo.
(2) Trường Thủ Đức tái hoạt động
vào tháng 2 năm 1957 từ khoá 6 và được cải danh thành Liên
trường Võ khoa Thủ Đức (Thu Duc Military Center) gồm thêm
các Trường: Thiết giáp, Pháo binh, Công binh, Quân cụ,
Truyền tin, Quân chính, Thông vận binh, Thể dục quân sự.
Tháng 10 năm 1961, các trường chuyên môn được tách ra khỏi
Liên trường Võ khoa Thủ Đức, ngoại trừ 3 Trường Bộ binh,
Thiết giáp, và Thể dục Quân sự. Ngày 1 tháng 8 năm 1963,
Trường lấy lại danh hiệu cũ lúc ban đầu là Trường Sĩ Quan
Trừ Bị Thủ Đức. Năm 1964, Trường lãnh thêm nhiệm vụ đào tạo
các cán bộ Đại đội trưởng và Tiểu đoàn trưởng. Cũng kể từ
năm 1964 tuyển sinh vào học Sĩ Quan Trừ Bị phải có văn bằng
Tú tài 1 trở lên hoặc chứng chỉ tương đương. Ngày 1 tháng 7
năm 1964 Trường được cải danh thànhTrường Bộ Binh (Infantry
School).
(3) Trường đào tạo từ khoá 1 (1951) đến khoá
27 (1967) theo thứ tự từng năm nhưng khi chiến cuộc leo
thang, nhu cầu đòi hỏi nhiều sĩ quan khiến số khoá tăng lên
từ trên 2 khoá mỗi năm. Kể từ năm 1968 trở đi thì mỗi khoá
được gọi là “1/68”, “2/68”, “1/69”, “2/69”... và cuối cùng
là khoá 3/75.Kể từ năm 1968 công việc đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị
của Trường Thủ Đức được bổ túc bởi Trường Sĩ Quan Đồng Đế ở
Nha Trang. Cuối
năm 1973, Trường Bộ Binh Thủ Đức được lệnh di chuyển về Huấn
khu Long Thành. Đến giữa tháng 4 năm 1975 lại di chuyển về
Thủ Đức. Đến 30 tháng 4 năm 1975, các Trường đào tạo Sĩ Quan
Trừ Bị VNCH ngưng hoạt động.
2. Tổng Hội
Sau
gần ¼ thế kỷ, Trường Sĩ Quan Trừ Bị đã đào tạo được khoảng
80, 000 Sĩ Quan kiêu hùng, phục vụ trong mọi quân, binh
chủng, sánh vai với khoảng 6,600 Sĩ quan Hiện dịch xuất thân
từ Trường Võ Bị Quốc Gia và các sĩ quan Không Quân và Hải
quân trên mọi chiến trường chống Cộng sản từ Bắc chí Nam.
Ngày 30/4/1975, vì thiếu sự hỗ trợ của đồng minh, VNCH lui
binh. Một số CSV cố thủ tại quê nhà, một số di tản ra ngoại
quốc.Tại hải ngoại, sau thời gian thích nghi với cuộc sống
mới, các cựu Sinh Viên đã bắt đầu thành lập các đoàn thể tại
các tiểu bang Hoa kỳ và tại các quốc gia tự do từ đầu thập
niên 1980.
Đến giữa thập niên 1980, Tổng Thống Ronald
Reagan phái Đại tướng John Vessey sang Việt Nam thương thảo
về ba vấn đề:
(a) Tìm kiếm cựu quân nhân Hoa Kỳ mất
tích (MIA);
(b) Vấn đề đoàn tụ gia đình (ODP); và
(c) Vấn để phóng thích tù nhân chính trị (HO).
–
Các văn thư đính kèm do Đại tướng John Vessey, Nghị sĩ HK
Boschwitz, và Tổng thống Clinton gửi chiến hữu Trần Xuân
Thời, nguyên Chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Tiểu bang và Liên
bang Hoa Kỳ, về tiến trình thương thảo với CSVN, nghi trình
tại Quốc Hội Hoa Kỳ, và vấn đề thiết lập bang giao với Cộng
sản Việt Nam sau 20 năm cấm vận vì CS Hà Nội vi phạm Hoà Ước
Ba Lê năm 1973. Đại tướng Vessey cho biết ban đầu Chính phủ
Hà Nội không chịu phóng thích tù nhân chính trị, sợ nguy hại
đến nền an ninh. Tướng Vessey tường trình với Tổng thống
Reagan về sự lo ngại của Bắc Bộ Phủ. Tổng thống Reagan cho
biết sẽ bảo trợ tất cả những chiến binh được phóng thích qua
định cư tại Hoa kỳ, sau đó mới có sự thoả thuận qua chương
trình HO (Humanitarian Operation).
Nhờ các đợt di dân
thuyền nhân, đoàn tụ gia đình, và HO, một số đông cựu sinh
viên đã được Chính Phủ Hoa Kỳ bảo trợ đến định cư tại Hoa
Kỳ, đã gia tăng nhân số của cựu sinh viên tại các tiểu bang
Hoa Kỳ. Nhưng mãi đến đầu thập niên 2000, mới có sự phối hợp
sinh hoạt cấp quốc gia và quốc tế qua các Đại Hội tại
Houston, WADC, Louisiana, Canada, Úc Châu, San Jose, CA.
Chúng ta tri ân quý Niên trưởng và Chiến hữu đã tham gia vào
công tác tổ chức cơ chế Tổng Hội và thăng tiến sinh hoạt từ
đầu thập niên 2000 đến nay.
Trong thập niên 2010,
Tổng Hội tổ chức Đại Hội ở Georgia, mở màn cho một giai đoạn
mới. Sau Đại Hội Georgia năm 2014, các Đại Hội lần lượt được
tổ chức tại Florida, Dallas, Houston, Oklahoma... Qua thập
niên 2020, các Đại Hội được tổ chức tại St. Paul Minnesota
State Capitol năm 2022, tại San Jose, CA năm 2023, và kỷ
niệm ngày Truyền Thống năm 2024 đã được tổ chức tại San
Diego, CA vào hai ngày 17–18 tháng 8 năm 2024, họp mặt và
bầu Tân Hội Đồng Quản Trị cho nhiệm kỳ 2024–2026. Đại Hội
tháng 9 năm nay 2025 sẽ được tổ chức tại Houston, TX. Tính
từ Đại Hội 2014 tại Atlanta, GA đến 2025, Tổng Hội đã phát
hành 16 Bản Tin, và 3 Đặc San. Đại Hội San Diego 2024 đã
phát hành Kỷ Yếu Thập Niên ghi nhận sinh hoạt trong giai
đoạn từ năm 2014 đến 2024.
3. Hoạt Động
Tổng
Hội là tổ chức được thành lập chiếu luật về hiệp hội phi lợi
nhuận (NPO – Not for profit organization). Hiện nay tại Hoa
Kỳ có 50 bộ luật tại 50 tiểu bang. Các hội tại tiểu bang,
tuỳ nhu cầu, có thể hoạt động có giấy phép (de jure) do tiểu
bang cấp. Điểm lợi của giấy phép là giúp tổ chức có tư cách
pháp nhân (legal entity), được thụ hưởng các quyền lợi luật
định như xin miễn thuế (501(c)(3)… hoặc không xin giấy phép
(de facto). Mỗi thành viên của Hội là một chiến sĩ nhân
quyền đang xây dựng dân chủ cho Việt Nam bằng cách tham gia
sinh hoạt trong các đoàn thể văn hoá, xã hội, kinh tế, chính
trị. Trong suốt 50 năm (1975–2025), từ ngày di tản chiến
thuật, ngoài một số cựu sinh viên cố thủ trên quê hương, một
số khác lần lượt qua thời gian đã tái định cư tại các quốc
gia tự do, và quyết tâm thực hiện các mục tiêu đã được ghi
trong bản Nội quy. Một số mục tiêu chính được tóm lược như
sau:
(1) Thăng tiến tình huynh đệ chi binh.
(2) Tạo môi trường gặp gỡ, khuyến khích tinh thần tương
thân, tương trợ, hỗ trợ thương phế binh và gia đình tử sĩ.
(3) Đóng góp vào công tác duy trì nền văn hoá Việt Tộc
và phát huy văn hóa Việt Nam hải ngoại. Phục vụ Cộng đồng,
tham gia sinh hoạt trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội, kinh
tế chính trị tại các quốc gia nơi có người Việt tỵ nạn Cộng
sản đang sinh sống, truyền thông tình tự dân tộc và tinh
thần quốc gia qua các thế hệ dậu duệ.
(4) Góp phần
tranh đấu nhằm tái lập độc lập, tự do, dân chủ, nhân quyền,
và hạnh phúc thực sự cho đồng bào quốc nội.
“Việc
nhân nghĩa, cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Tổng Hội là một tập thể chiến binh kiêu hùng, đa năng,
đa hiệu đã thể hiện khả năng, kinh nghiệm quản trị về mọi
ngành sinh hoạt quốc gia liên quan đến văn hoá, xã hội, kinh
tế, chính trị, quân sự, ngoại giao trước 1975... Tổng Hội
luôn kết chặt thân tình, kết tinh chí hướng, liên tục tranh
đấu để tái lập tự do, dân chủ, nhân quyền, và sự toàn vẹn
lãnh thổ cho Việt Nam, hầu giúp cho đại nghiệp cứu quốc của
toàn dân chóng được viên thành. Khi đó “Cờ Vàng sẽ mọc thiên
phương, vạn hướng, và sẽ không còn loại Cờ Máu đỏ lòm”.
4. Đại Hội
(1) Đại Hội nhằm kết chặt thân tình,
kết tinh chí hướng, tri ân các chiến hữu đồng môn, chiến sĩ
đồng minh Hoa Kỳ, các quốc gia tham chiến, và hơn 3 triệu
dân, quân, cán, chính VNCH, đã hy sinh trong cuộc chiến
chống Cộng sản.
(2) Kiểm điểm công tác đã thực hiện
trong thời gian qua và hoạch định chương trình cho tương
lai, hỗ trợ hậu duệ với hoài bão “Làm cho khắp nơi vang
tiếng người Việt Nam cho đến muôn đời.”
(3) Thăng
tiến sinh hoạt của Tống Hội quyết tâm thực thi tôn chỉ “Tổ
Quốc –Danh Dự– Trách Nhiệm”. Tổng Hội phục vụ tập thể đồng
hương, tập thể chiến hữu VNCH, đóng góp vào đại nghiệp tái
lập tự do, dân chủ, nhân quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, và
hạnh phúc thực sự cho đồng bào quốc nội.
(4) Tổng Hội
phục vụ Việt Nam Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Khối
Dân, Quân, Cán, Chính đã di tản ra ngoại quốc vẫn tiếp tục
công tác tranh đấu cho quê hương, hợp tác với tập thể chiến
sĩ các quân binh chủng và đồng bào đang cố thủ tại quê nhà,
trong ứng, ngoại hợp, chờ cơ hội tái lập sự toàn vẹn lãnh
thổ từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau.
(5) Trong công tác
xây dựng dân chủ cho Việt Nam. Tổng Hội đương nhiên không
công nhận sự hiện diện bất hợp pháp của nhà cầm quyền Cộng
sản trên quê hương tại Miền Bắc từ 1954 vì Cộng sản Hà Nội
và Thực dân đã đơn phương ký kết Hiệp Ước Geneve, phân đôi
Việt Nam ra hai Miền Nam Bắc, vi phạm quyền dân tộc tự
quyết, trái với nguyện vọng của toàn dân Việt Nam do Đức
Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo.
(6) Năm 1975, Đảng Cộng
sản Hà Nội, một lần nữa, đã vi phạm Hòa Ước Ba Lê ký kết năm
1973. Hoà ước 1973 quy định các quốc gia ký kết vào Hoà Ước
Ba Lê phải tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của VNCH và công
nhận quyền Miền Nam Việt Nam lựa chọn chính thể cai trị qua
một cuộc bầu cử tự do dưới sự giám sát quốc tế.
(7)
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cộng sản Bắc Việt xâm lăng VNCH
bằng vũ lực trái với công pháp quốc tế và áp đặt nền cai trị
độc tài vô sản chuyên chính trên quê hương điêu tàn suốt 50
năm qua. Lê Duẩn TBT đảng CS đã tuyên bố Bắc Việt xâm lăng
VNCH là đánh cho Nga Xô và Trung cộng, đúng là rước voi dày
mã tổ.
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi”.
Chính
phủ và Quân Lực VNCH, Dân, Quân, Cán, Chính đành phải di tản
ra hải ngoại để bảo vệ thực lực, chờ ngày phục quốc để giải
phóng quê hương vì:
“Quê ta chốn ấy giờ tang thương
lắm
Mảnh đất ưu phiền hai chữ nắng mưa.”
5. Quốc
nạn thức trung thần, gia bần tri hiếu tử
(1) Mặc dù
có quan điểm khác nhau về ngày 30 tháng 4 năm 1975. Việt Nam
Cộng Hòa thực sự chưa bao giờ chính thức đầu hàng quân xâm
lăng Cộng sản vẫn là ý kiến áp đảo. Ý kiến này cho rằng hành
vi yêu cầu buông súng của cựu Tướng Dương Văn Minh ngày 30
tháng 4 năm 1975, là hành vi bất hợp lệ vì cựu Tướng Dương
Văn Minh không phải là Tổng thống hợp hiến chiếu theo tinh
thần của Hiến Pháp VNCH. Lời kêu gọi buông súng này đã sa
vào bẫy của CS khiến cho biết bao quân sĩ anh hùng của
QLVNCH phần thì tuẫn tiết, phần thì căm thù giặc, nghiến đến
gãy cả hàm răng, chết đứng giữa trận tiền hoặc đành lui binh
vào hiểm địa hoặc bị tù tội chôn vùi cả một thời thanh xuân.
Những chiến sĩ đã hy sinh hoặc sống còn đều là những anh
hùng hào kiệt của dân tộc Việt đáng được ngàn năm ghi danh
vào sử sách. Đó là danh dự vĩnh viễn của Dân, Quân, Cán,
Chính của Việt Nam Cộng Hoà.
“Trượng phu không hay xé
gan bẻ cột phù cương thường
Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu
lạc tha hương
Trời Nam nghìn dặm thẳm, mây nước một màu
sương...
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta
ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ
cây.”
(2) “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”. Chiếu
Điều 56 Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967, Ông Trần Văn
Hương đã đảm nhiệm chức Tổng thống khi Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu từ chức vào ngày 21/4. Nếu ông Trần Văn Hương không
đảm nhiệm chức tổng thống nữa thì chủ tịch Thượng viện, lúc
đó là ông Trần Văn Lắm, sẽ là người ngồi lên ghế tổng thống.
Sau đó ba tháng, chính quyền sẽ tổ chức bầu cử lại. Cựu
Tướng Dương Văn Minh, lúc bấy giờ, không phải phó tổng
thống, không phải chủ tịch Thượng viện, cũng chẳng được bầu
lên... Về mặt pháp lý, việc cựu Tướng Dương Văn Minh trở
thành tổng thống là hoàn toàn vi hiến.
(3) Quốc hội
Việt Nam thời bấy giờ có 3 khuynh hướng theo nhận xét của
một vị cựu Dân biểu VNCH: “Sau Hiệp Định Paris, nhìn thấy
trước mắt con đường liên hiệp tâm lý các khối thế lực: Phật
giáo, Công giáo, Đảng phái đều ra sức chống Tổng thống Thiệu
để giành chỗ, làm cho tình hình trở nên rối ren hơn, chỉ có
lợi cho Cộng sản. Trong giai đoạn đó, 3 nhóm họp thành khối
đối lập DTXH theo đuổi ba chương trình khác nhau:
– 1
Nhóm Phật giáo chống Thiệu và muốn Thiệu ra đi bằng mọi giá.
– 2 Nhóm Đảng phái lo củng cố đảng.
– 3 Nhóm thân
tướng Mình muốn ông Dương Văn Minh thay thế Tổng thống
Thiệu.”
(4) Trước hoàn cảnh trong không ấm, ngoài
không êm như vậy, Việt Nam Cộng Hoà đành đành phải lui binh
để bảo toàn thực lực, hẹn ngày tái chiếm Việt Nam. Quân tử
không oán Thiên vưu nhân. Đồng minh và cấp lãnh đao VNCH
cũng đã cố gắng hành xử hết khả năng của mình. Không nên
trách tha nhân về sự cố mà chính mình không làm gì khá hơn
được. Dù muốn, dù không, quá khứ là quá khứ, là kinh nghiệm,
không thay đổi được. Nỗ lực chung hiện nay là mỗi chiến hữu
trong cương vị của mình, tích cực góp phần xây dựng tương
lai của giống nòi mới là quan trọng. Được đào luyện thành
chiến sĩ mà không tiếp tục chiến đấu trong trận chiến nhân
quyền hay chính trị hiện nay chẳng khác nào đã cày sâu cuốc
bẫm mà không trồng trọt. “The one who learns and learns and
does not practice is like the one who plows and plows and
never plants.” –Platon
(5) Socrates đã nhận định: Lui
binh không phải thất bại. Thất bại là lui binh mà không
chuẩn bị ngày Đông sơn tái khởi. “– Falling down is not
failure. Failure comes when you stay where you have fallen”.
Đa số chúng ta đang ở trong hoàn cảnh:
“Quốc thù vị
báo đầu tiên bạch – Hận nước chưa trả xong, đầu đã bạc,
nhưng gươm mài bóng nguyệt đã bao ngày”.
Là những
chiến sĩ nhân quyền, chúng ta đang chiến đấu vì quyền lợi
của dân tộc và truyền lại gương oanh liệt, hào hùng tranh
đấu vì hạnh phúc của toàn cho hậu duệ. Thành công không có
bí quyết. Thành công là kết quả của sự chuẩn bị –sẵn sàng–
là nỗ lực xây dựng tương lai dựa vào kinh nghiệm quá khứ –
“There is no secrets to success. It is the result of
preparation, hard work and learning from failure”. –Colin Powell
6. Các Định Chế Xã hội–Chính Trị
(1)
Thành viên củaTổng Hội cũng như cựu quân nhân trong các quân
binh chủng VNCH thường hoạt động trong Cộng đồng người Việt
trên toàn thế giới, trong các chính đảng, những tổ chức có
trước 1975 và một số đoàn thể tự phát sau 1975.
(a)
Cộng đồng: Định chế xã hội người Việt tỵ nạn CS hoạt động
tại nhiều địa phương, quốc gia. Ngoài các công tác xã hội,
thường tổ chức biểu dương lực lượng và sinh hoạt tranh đấu
cho nhân quyền, tự do, dân chủ, phản đối các phái đoàn CSVN
tha hương cầu thực, tranh đấu cho tự do tôn giáo, chống đối
hành vi đàn áp dân lành, đả phá chủ trương vĩ nhân hóa HCM,
giương cao ngọn cờ chính nghĩa... liên lạc với chính quyền
các cấp, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ thực hiện chương trình
đoàn tụ gia đình, phóng thích tù nhân chính trị...
(b) Chính đảng: Đoàn thể chính trị thường tổ chức các nghi
hội quốc gia, quốc tế. Có hàng chục đoàn thể tham dự, từ
thập niên 1990, các Hội Nghị Liên Kết, Hội Nghị Yểm Trợ Tự
Do cho Việt Nam, các tổ chức kháng chiến.... mỗi đảng có
đảng quy và đảng viên thi hành chính sách của đảng.
(c) Chính Phủ: Hiện nay có Chính Phủ Pháp Định (De Jure
Government) kế tục chính phủ VNCH trước 1975 (de Jure là hợp
pháp hay pháp định) và các Chính phủ tự phát sau 1975.
(2) Khi quốc gia lâm nguy, quần hùng thường nổi dậy
chống xâm lăng là chuyện thiên kinh địa nghĩa đã xảy ra tự
cổ chí kim qua lịch sử Việt Tộc trên bốn ngàn năm văn hiến.
Những cố gắng thực sự tranh đấu cho tổ quốc cần được khích
lệ hoặc tham gia thay vì “dị ứng” hay ngoảnh mặt, cúi đầu
như thái độ của “Thương nữ vô tri vong quốc hận”.
Vì
nếu không có tổ chức để quật khởi, tranh đấu cho tự do, dân
chủ thì dân tộc khó thoát khỏi tình trạng độc tài đảng trị.
Ngoài các công trình của quý Niên Trưởng, Chiến hữu trong
công tác thành lập và sinh hoạt trong các công đồng, các
chính đảng, các đoàn thể tranh đấu, sau 1975 sinh hoạt của
một số cựu Sinh Viên SQ Thủ Đức liên quan đến quốc sự được
ghi nhận như sau:
(a) Đốc sự Nguyễn Bá Cẩn, Chủ tịch
Hạ Viện, Quốc Hội VNCH, được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ
nhiệm làm Thủ tướng, thay thế Thủ tướng Trần Thiện Khiệm.
Sau ngày 30/4/1975, tại hải ngoại, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẫn,
chiếu Sắc lệnh 350–TTSL của TT Nguyễn Văn Thiệu, đã đại diện
VNCH trình hồ sơ lên Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế trong vụ kiện
Trung cộng vi phạm Công Ước về Biển 1982.
“Qua việc
Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn nộp Hồ Sơ Nới Rộng Thềm Lục Địa vào
năm 2009 mà Liên Hiệp Quốc đã gián tiếp công nhận VNCH là
một chính thể còn tồn tại. Vì để Liên Hiệp Quốc tiếp nhận hồ
sơ này thì phải hội đủ hai điều kiện như sau:
1. Phải
nộp hồ sơ với tư cách quốc gia.
2. Phải là quốc gia
đã có ký vào Hiệp ước Luật biển (UNCLOS).
Để thỏa mãn
hai điều kiện trên, cố Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn đã quyết tâm
ngày đêm tranh đấu, tìm tòi và cuối cùng đã được Liên Hiệp
Quốc chấp nhận hồ sơ...”.
“Chúng ta rất cần có sự
hiện diện của VNCH trên chính trường quốc tế vì đó là nhân
chứng và cũng là chính thể VNCH nối tiếp công quyền của Đệ
Nhị VNCH.” Như trường hợp tiền lệ gần nhất là trong lịch sử
cận đại: Sau khi Đức Quốc Xã chiếm Pháp Quốc, Thống Chế
Pétain đầu hàng và lập chính phủ thân Đức tại Vichy. Tướng
De Gaulle, một thành viên của Nội các chính phủ Pháp, năm
1940, vượt biển sang Anh Quốc lập chính phủ chống Đức Quốc
Xã thường goi là “Shadow Government” âm thầm hoạt động cho
đến ngày tái chiếm Pháp Quốc.
(b) Thủ tướng Nguyễn Bá
Cẩn, thế hệ 1930, được đào luyện từ Học Viện Quốc Gia Hành
Chánh và Trường Sĩ Quan Thủ Đức, qua đời năm 2009. Luật sư
Lê Trọng Quát, thế hệ 1930, được đào luyện từ Đại học Luật
Khoa và Trường Sĩ Quan Thủ Đức, nguyên là Quốc Vụ Khanh
trong chính phủ Nguyễn Bá Cẩn, đủ điều kiện hợp lý để tiếp
nối sứ mệnh Thủ tướng lãnh đạo chính phủ, qua đời năm 2022.
Đốc sự Trần Xuân Thời, thế hệ 1940, được đào luyện từ Đại
học Văn Khoa, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Trường Sĩ Quan
Thủ Đức, và sau 1975 từ Đại học Kinh Doanh, Đại học Luật
Khoa tại Hoa Kỳ, nguyên Phó thủ tướng, lãnh nhiệm vụ Thủ
tướng lãnh đạo chính phủ Pháp Định. Tất cả các sự chuyển
tiếp đều theo quy trình kế tục hợp lý, hợp pháp về cả hai
phương diện tổ chức và điều hành chính phủ Pháp Định tiếp
nối chính phủ VNCH trước 1975.
(c) Nhân sự, chức
chưởng, nhiệm vụ, trong chính phủ chỉ là phương tiện để phục
vụ tổ quốc, thay đổi theo thời gian, nhằm phục vụ chính
nghĩa quốc gia và là lực lượng thù địch đối với CSVN. Nội
các đang mở rộng cho mọi nhân sĩ sẵn sàng tham gia với tinh
thần “Nhân–Trí–Dũng, Tiên lễ hậu binh, nhưng không hòa giải
hoà hợp”, đã được thể hiện qua lịch sử VN từ chủ trương “Đem
đại nghĩa thắng hung tàn. Lấy chí nhân thay cường bạo” đến
sách lược “Chiêu hồi” để đại cuộc tái lập tự do, dân chủ cho
Việt Nam chóng được viên thành.
Chính phủ tôn trọng
công pháp quốc tế và bang giao quốc tế, đóng vai trò như một
lực lượng đối lập đối với nhà cầm quyền độc tài Cộng sản.
Chính phủ đối đầu với chính sách vô nhân đao của tập đoàn CS
Hà Nội. CS Hà Nội đã từng chủ trương “Dù phải đốt hết rặng
núi Trường sơn, giết đến người Việt cuối cùng, chúng cũng
quyết xâm lăng VNCH để dâng cho Cộng sản quốc tế”.
Chính phủ VNCH Pháp Định, với hơn 20 Bộ chuyên môn, đang
tiếp tục hoạt động tại hải ngoại đáp ứng nhu cầu cho thế
giới biết Chính phủ VNCH vẫn còn và QLVNCH vẫn còn. Chủ
trương này đã và đang làm cho đối phương lo lắng và tìm cách
phá hoại.
(d) Ngoài các công tác liên quan đến văn
hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, chính phủ đang tiếp tục sứ
mệnh bang giao quốc tế mà tổ quốc đã giao phó trong công tác
vận động, liên lạc với các quốc gia đã từng lập bang giao
với Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 và các quốc gia tự do đã ký
kết với Hòa Ước Ba Lê năm 1973 để yêu cầu tái hợp Hoà Đàm Ba
Lê và thi hành các điều khoản đã ký kết về Việt Nam để tổ
chức một cuộc tuyển cử tự do cho toàn dân Việt dưới sự giám
sát quốc tế. Sau khi công thành, chính phủ sẽ từ chức và
trao quyền cho tân chính phủ.
Chiếu theo Hiến Pháp
VNCH 1967, điều 52.1: “Tổng thống và Phó tổng thống cùng
đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo
lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín.” Như vậy, bất cứ
ai muốn trở thành Tổng Thống của VNCH đều phải thông qua bầu
cử. Từ đó có thể xác định rằng, ai không thông qua cuộc bầu
cử tự do đều là vi hiến.
(e) Hiện nay, công tác tranh
đấu cho tự do dân chủ tại Việt Nam là vấn đề trường kỳ.
Chính phủ là tổ chức phục vụ phúc lợi chung của đồng bào
quốc gia quốc nội và hải ngoại, trong tinh thần tôn trọng và
thực thi công lý:
Sống lương thiện, không gây tác hại
cho người khác và tôn trọng quyền lợi của mọi người cũng là
nguyên tắc luân lý xã hội chung cho tập thể người Việt cao
quý.
“Justice is to live honestly, not to injure
others and to give everyone his due”.
Để thực thi sứ
mệnh tái lập tự do, dân chủ cho Việt Nam, Chính Phủ Pháp
Định kêu gọi sự hỗ trợ của quý vị đồng hương và đồng thời
sẵn sàng hợp tác với tất cả quý vị Dân–Quân–Cán–Chính VNCH,
các tổ chức đấu tranh quốc gia, tôn trọng mọị ý kiến xây
dựng để hầu đại nghiệp cứu quốc của toàn dân chóng được viên
thành.
7. Các Hiệp Ước Quốc Tế về Việt Nam
Cộng sản chiếm được thành, giành được đất nhưng vẫn bị thế
giới và toàn dân than oán. “Công tâm vi thượng, công thành
vi hạ” – Đánh lấy lòng người là thượng sách, đánh lấy thành
trì là hạ sách. Cũng may quyền lợi của nhân dân Miền Nam
Việt Nam đã được thế giới minh thị công nhân qua các Hiệp
Ước Quốc tế sẽ là gia bảo pháp lý dùng làm căn bản cho công
cuộc tái lập tự do, dân chủ cho Việt Nam. Điều khoản về
quyền dân tộc tự quyết, nhân dân Miền Nam Việt Nam có quyền
tổ chức bầu cử tự do dưới sự giám sát quốc tế như đã quy
định trong Hiệp ước Ba Lê năm 1973. Giải pháp bầu cử tự do
nhằm giúp nhân dân Việt Nam tuyển chọn chính thể chính trị
theo ước nguyện của toàn dân theo sách lược “Tiên Lễ hậu
binh” phụ trợ với hai giải pháp bất đắc dĩ, chẳng đặng đừng
khi cần là giải pháp vũ lực và hỗ trợ nhân dân trong nước
nổi dậy lật đổ chế độ Công sản
Cộng sản Hà Nội đã gây
chiến tranh sát hại hơn ba triệu dân, quân, cán, chính, chôn
sống hơn 7,000 người dân vô tội trong Tết Mậu Thân 1968, đều
là hình tội chống lại loài người. Những tội ác chống lại
loài người và diệt chủng đều là những tội ác không bị thời
tiêu, không chóng thì chầy sẽ bị trừng trị.
Các phiên
tòa tại Nuremberg, sau đệ nhị Chiến, đã xác định rằng nhân
loại sẽ được bảo vệ bởi một lá chắn pháp lý quốc tế và ngay
cả một Nguyên thủ quốc gia cũng sẽ phải chịu trách nhiệm
hình sự và bị trừng phạt về các hành vi gây hấn và tội ác
chống lại loài người.
“The Nuremberg trials
established that all of humanity would be guarded by an
international legal shield and that even a Head of State
would be held criminally responsible and punished for
aggression and Crimes Against Humanity.”
Liên Hiệp
Quốc tái xác định không áp dụng luật thời tiêu năm 1968 đối
với tội ác gây chiến tranh chống lại nhân loại “The 1968
Convention on the Non–Applicability of Statutory Limitations
to War Crimes and Crimes Against Humanity was a significant
development, affirming that individuals who commit such
heinous acts cannot evade justice by citing time limits.”
Hoa Kỳ đã cấm vận CSVN 20 năm từ 1975–1995 vì vi phạm
Hiệp ước Ba lê 1973. Chúng ta phải tiếp tục đấu tranh cho
đến ngày toàn thắng.
(1) Hiệp định Geneva ngày 20
tháng 7 năm 1954
Do Cộng sản và Thực dân ký kết đã
tước đoạt quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Việt Nam khi
quyết định chia cắt đất nước VN thành hai miền Nam Bắc trước
sự phản đối của chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng
Bảo Đại lãnh đạo.Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ đã bày tỏ thái độ
qua lời phát biểu: “Chính phủ Quốc gia Việt Nam yêu cầu Hội
nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng
phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không
tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc
gia Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự
giành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ
quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực
hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở”.
Đến
năm 1956, chính phủ VNCH bác bỏ đề nghị tổng tuyển cử hiệp
thương giữa hai miền Nam Bắc vì:
(a) Không thể có bầu
cử tự do tại Miền Bắc do CS kiểm soát.
(b) Quốc gia
Việt Nam đã không ký vào Hiệp Định Geneve năm 1954 nên không
có trách vụ thi hành.
(c) Đồng minh Hoa Kỳ cũng đã
không ký vào Hiệp Định Geneve năm 1954 vì Hoa Kỳ chấp nhận
Trung Hoa Quốc Gia và bác bỏ tư cách đại diện của Trung cộng
trên diễn đàn chính trị quốc tế.
(d) Không có điều
khoản nào trong Hiệp Định ấn định thể thức Tổng Tuyển Cử mà
chỉ là phần đàm luận trong bản Tuyên cáo chung sau Hội Nghị.
(2) Hiệp định Paris (Paris Agreement on Ending the War
and Restoring Peace in Vietnam) ngày 27 tháng 1 năm 1973
Công nhận quyền Dân Tộc Tự Quyết của Miền Nam Việt Nam:
Chương IV, điều 9 ấn định:
(a) Quyền tự quyết của
nhân dân Miền Nam Việt Nam là quyền thiêng liêng, không thể
chuyển nhượng và các quốc gia phải tôn trọng. – “The South
Vietnamese Peoples right to self–determination is sacred,
inalienable, and shall be respected by all countries”.
(b) Nhân dân Miền Nam Việt Nam sẽ quyết định chính phủ
tương lai cho Nam Việt Nam qua cuộc bầu cử thật sự tự do và
dân chủ dưới sự giám sát quốc tế. – “The South Vietnamese
People shall decide themselves the political future of the
South through genuinely free and democratic general
elections under international supervision”.
Điều 19:
Các quốc gia tham dự Hội nghị đồng ý triệu tập Hội Nghị quốc
tế trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký thỏa ước để công nhận
thỏa ước đã được ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, duy
trì hòa bình cho Việt Nam, tôn trọng những quyền căn bản của
nhân dân Việt Nam và quyền dân tộc tự quyết của nhân dân
miền Nam Việt Nam, đóng góp và bảo đảm hòa bình tại Đông
Dương.
Thi hành điều 19 thượng dẫn, ngày 2 tháng 3
năm 1973, 12 quốc gia họp trước sự chứng kiến của Tổng Thư
Ký Liên Hiệp Quốc đã ký một văn kiện gọi là ACT of the Paris
Agreement ending the War and restoring Peace for Vietnam.
(3) Định Ước (Act of the Paris Agreement on ending the
War and Restoring Peace in Viet Nam)
Do 12 quốc gia
ký ngày 2 tháng 3 năm 1973 được xem như là bản “Tông Đồ Công
Vụ” của 12 vị Bộ Trưởng Ngoại Giao của 12 thành viên tham
gia vào Hòa Hội Paris, gồm có Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Việt Nam
Cộng Hòa, Canada, Nam Dương, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Trung
cộng, Cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng. Bản Định Ước này quy
định biện pháp áp dụng trong trường hợp có sự vi phạm Hiệp
Ước Ba Lê.
Định ước này có tính cách quan trọng trong
vấn đề đòi lại quyền dân tộc tự quyết cho Việt Nam khi Việt
cộng vi phạm Hiệp Định Ba Lê xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà, áp
đặt chế độ độc tài đảng trị CS lên toàn dân Việt từ 1975 đến
nay.
Điều 2: Bản Định Ước xác định nguyện vọng và các
quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam, độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, quyền dân tộc tự quyết của
nhân dân Miền Nam Việt Nam phải được tôn trọng...
Điều 7:
(a) Nếu có sự vi phạm Hiệp Định Ba Lê nguy
hại đến nền hòa bình, một hay nhiều quốc gia có quyền tham
khảo với các quốc gia khác để quyết định biện pháp giải
quyết.
(b) Hội Nghị Quốc Tế sẽ được tái triệu tập khi
Hoa Kỳ và CS Hà Nội yêu cầu.
(c) Hoặc theo lời yêu
cầu của sáu hay nhiều hơn trong 12 quốc gia tham dự vào bản
Định Ước.
Nếu chúng ta vận động mạnh mẽ với 9 quốc
gia tự do trong 12 thành viên ký vào bản Định Ước thì chúng
ta có cơ hội thành công.
(4) Đạo luật Public Law
93–559
Do Tổng Thống Gerald Ford ban hành ngày 30
tháng 12 năm 1974. Section 34(b): ấn định vấn đề tái triệu
tập Hội Nghị Ba Lê “Để giảm thiểu sự đau khổ của nhân dân và
mang lại hòa bình thực sự cho Đông Dương”, Quốc hội khẩn
thiết yêu cầu Tổng thống và Bộ trưởng Ngoại Giao áp dụng
biện pháp sau đây: Tái nhóm Hội Nghị Ba Lê để tìm phương
cách thực thi toàn vẹn các điều khoản của Hội nghị ký ngày
27 tháng 1 năm 1973 về các thành viên liên hệ đến cuộc xung
đột tại Việt Nam.
Đạo luật này chưa được thực hiện
hay hủy bỏ, do đó còn có hiệu lực. Mặc dù nhân sự đã thay
đổi trong các chính phủ, nhưng trách nhiệm thi hành các hiệp
ước, đạo luật không phải vì thế mà bị thời tiêu.
Cộng
sản muốn chúng ta không đề cập đến giao ước, như những kẻ
quỵt nợ muốn huỷ bỏ các giao ước.
Thưa quý vị, Đoàn
kết là sống, chia rẽ là chết. Tổng Hội đã công bố chủ trương
bảo vệ Cờ Vàng, thật đáng được vinh danh là:
“Sư Đoàn
Alpha Bảo Vệ Quốc, Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hoà”
Khôi
phục nền dân chủ ở một quốc gia bị Cộng sản chiếm đóng có
thể là một quá trình phức tạp và đầy thách thức, nhưng cũng
là một vấn đề khả thể như Liên Bang Xô Viết sụp đổ đầu thập
niên 1990. “Never say never”. Ngoài các vấn đề liên quan đến
bang giao quốc tế như đã nêu trên, các sách lược sau đây
liên quan đến vận động quần chúng trong và ngoài nước cũng
xin được nêu lên để tất cả chúng ta, tập thể người Việt tỵ
nạn CS trên toàn thế giới, môt phen tri kỷ cùng nhau, tuỳ cơ
ứng biến, góp một bàn tay vào đại nghiệp giải phóng quê
hương.
– 1 Thúc đẩy các phong trào nhân dân và các tổ
chức xã hội dân sự ủng hộ các giá trị dân chủ và nhân quyền.
– 2 Hỗ trợ các cơ quan truyền thông độc lập và các nhà
báo đưa tin về tham nhũng và lạm quyền của chính phủ Cộng
sản VN.
– 3 Khuyến khích áp lực và trừng phạt quốc tế
đối với chính phủ CSVN để thực thi sự tôn trọng nhân quyền
và tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng.
– 4
Xây dựng liên minh với các quốc gia và tổ chức quốc tế khác
để hỗ trợ quá trình chuyển đổi dân chủ.
– 5 Cung cấp
viện trợ kỹ thuật cho các tổ chức phát triển kinh tế và nhân
đạo để hỗ trợ sự phát triển và ổn định đời sống của nhân
dân.
– 6 Khuyến khích đối thoại và đàm phán giữa
chính phủ và các nhóm đối lập để đạt được một quá trình
chuyển đổi hòa bình, chuyển lửa về quê hương.
– 7 Hỗ
trợ các thể chế và thực thi quy trình dân chủ, chẳng hạn như
xúc tiến tiến trình bầu cử tự do, một xã hội công bằng, một
nền tư pháp độc lập, và một nền báo chí tự do.
– 8
Khuyến khích các chương trình giáo dục và trao đổi văn hóa
để thúc đẩy các giá trị và tôn trọng các nguyên tắc dân chủ.
Điều quan trọng cần lưu ý là tình hình thế giới thay đổi
khác nhau và những gì hiệu quả ở giai đoạn này, có thể không
hiệu quả ở giai đoạn khác. Hơn nữa, bất kỳ giải pháp nào
cũng cần trong ứng, ngoại hợp, đặt trọng tâm vào sự hợp tác
với đồng bào trong nước, với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc
tế.
Với lòng tin tất thắng, các tổ chức chống cộng
vẫn dõng dạc đường hoàng lên đường. Chúng ta sẽ chiến đấu
với sức mạnh gấp đôi khi chiến đấu với lòng tin vào chính
nghĩa quốc gia. “We are twice armed if we fight with faith.”
–Platon
Kính chúc quý vị hưởng trọn niềm vui “huynh
đệ chi binh” trong ngày tái ngộ.
Đại Hội Houston ngày 27–28 tháng 9 năm 2025
Trần Xuân Thời
Cựu Chủ tịch Tổng Hội CSVSQTB



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by psxh chuyển
Đăng ngày
thứ
Năm, January 8, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH