
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Bút ký
Chủ đề:
mùa ql–19/6
Tác giả: MX
Ngô Văn Định

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
LTG: Đã trên 30 năm trôi qua, nay tôi viết về cuộc Hành
Quân (HQ) Sóng Thần 4/72 của LĐ/258/TQLC tại vùng địa đầu giới
tuyến. Biên lại những diễn biến đã xảy ra, tất cả không ngoài
mục đích mang
lại sự trung thực và chính xác của trận đánh, và
cũng để bổ túc cho cuốn Chiến Sử TQLC có thể được tái bản trong
tương lai.
Đã có nhiều bài báo trước đây được viết có
liên quan ít nhiều đến trận này, phía Việt Nam có bài “Thần Ưng
xé xác xe tăng Địch” của Đại tá Phạm Văn Chung Tham mưu trưởng
Hành Quân của SĐ/TQLC. Bài “Cộng sản Bắc Việt xâm lăng” của
Trung tá Trần Văn Hiển, Trưởng Phòng 3/TQLC. Ông Hoàng Xuân
Trường viết “Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam trong mùa hè đỏ lửa
1972” dịch từng phần trong cuốn “The Easter Offensive” của Trung
tá Turley, được đăng trong tờ nhật báo Thời Báo phát hành ngày
19/6/1993 tại San José.
Về phía Mỹ, Trung tá G.H. Turley,
TQLC Hoa Kỳ Cố vấn phó Sư Đoàn TQLC. Khi về Mỹ được thăng cấp
đại tá, về hưu giữ chức vụ Deputy Assistant Secretary of Defense
(Reserve Affairs). Tháng 4 năm 1972, nhân dịp từ Sài Gòn ra
Quảng Trị để thăm viếng các Cố vấn tại tiền tuyến, Ông bị giới
chức Mỹ chỉ định tạm thời làm Cố vấn cho Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Ông
có viết một cuốn sách tựa là “The Easter Offensive (The Last
American Advisors Vietnam, 1972)” xuất bản năm 1985.
Đại
uý John Ripley Cố vấn trưởng TĐ3/TQLC viết cuốn “The Bridge at
Đông Hà” xuất bản năm 1989 và tái bản năm 1990.
–MX Ngô Văn Định

Tình hình tổng quát
Lợi dụng khi Quân Đội Hoa Kỳ đã rút quân ra khỏi Nam
Việt Nam và Tổng thống Hoa Kỳ Richard M. Nixon tuyên bố Việt
Nam hóa chiến tranh.
Ngày 29/3/1972,
Bắc Việt khai diễn một chiến dịch quy mô vào lãnh thổ VNCH,
lấy tên là chiến dịch Nguyễn Huệ. Ba hướng tấn công chính:
Thứ nhất – vượt sông Bến Hải, sử dụng
một lực lượng hùng hậu đánh chiếm các căn cứ hỏa lực của ta
tại phía Nam vùng Phi Quân Sự. Xong tiến chiếm tỉnh Quảng
Trị.
Thứ hai – dùng đất Cam–Bốt để
từ đó đánh vào Bình Long, An Lộc.
Thứ ba
– đánh vào Kontum.

Đây tôi chỉ xin đề cập tới hướng Thứ nhất đánh vào Quảng
Trị.
Riêng tại vùng giới tuyến, hai Sư Đoàn 304, 308, 4 Trung
Đoàn biệt lập là 126 đặc công, 31, 246, và 270 thuộc Mặt
Trận B5, với sự yểm trợ của khoảng 200 chiến xa thuộc Trung
Đoàn 203 và 204 xe tăng, tăng cường 3 Trung Đoàn pháo 38,
68, và Trung Đoàn 84 hỏa tiễn địa–không. Với quân số khoảng
30,000 ngàn, đã công khai vượt vùng Phi Quân Sự (DMZ) đánh
chiếm các căn cứ của ta tại phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Dùng
pháo binh và hỏa tiễn để tiến chiếm các căn cứ hỏa lực của
ta ở vùng giới tuyến. Chỉ trong 4 ngày đầu tháng 4, 11 căn
cứ hỏa lực đã lọt vào tay địch. 36 khẩu Đại Bác 105ly, 18
Đại Bác 155ly, và 4 khẩu Đại Bác 175ly mà các đơn vị đã bỏ
lại phía sau khi đơn vị rút khởi các căn cứ. Trung Đoàn 56
BB, thuộc Sư Đoàn 3 do Trung tá Phạm Văn Đính, Trung đoàn
trưởng đã kéo cờ trắng đầu hàng Cộng sản hồi 14:30g ngày 2
tháng 4 năm 1972, trong đó có pháo đội B/105ly thuộc
TĐ1/PB/TQLC được BCH/LĐ/147 tăng phái cho Trung Đoàn 56 theo
lệnh của BTL/SĐ3/BB. Pháo đội truởng là Đại uý Nguyễn Văn
Tâm cùng anh em bị ép buộc phải đầu hàng, Đại uý Tâm bị bắt
làm tù binh. Ngày 23 tháng 4 năm 1972, đài phát thanh Hà Nội
đã đọc lời của Trung tá Phạm Văn Đính tuyên bố về lý do ông
đầu hàng. Ông nêu lý do vì tất cả các đơn vị bạn thuộc SĐ3
đã rút về nơi an toàn, để Trung Đoàn 56 phải đơn độc chiến
đấu dưới áp lực nặng nề của quân đội Giải Phóng xung quanh
căn cứ Tân–Lâm (Carrol), và cũng để tránh thiệt hại nhiều về
sinh mạng cho đơn vị ông. Đồng thời kêu gọi các đơn vị khác
trong quân đội VNCH cũng nên làm như ông.
Sự việc
trên xảy ra, tuy quan trọng nhưng tôi nhận thấy không có ảnh
hưởng đến tinh thần chiến đấu của toàn thể các đơn vị TQLC.
Riêng về phía Cố vấn Mỹ thì họ tỏ ra lo sợ, và nao núng
hoang mang. Nhất là khi họ thấy các Cố vấn của Trung Đoàn 56
cho họ biết tình hình rất là bi đát ở Carrol, rất may được
trực thăng xuống cứu, trong khi quân BV ở dưới bắn lên từ
mọi phía, trực thăng bị trúng đạn nhưng bay đến khu vực
tương đối an ninh trên QL1 và được một trực thăng khác tiếp
cứu đưa về đến Quảng Trị.
Trận cầu Đông Hà
BCH/LĐ/258 và TĐ3 đóng tại căn cứ Nancy, cách thị xã
Quảng Trị 10 cây số về phía Nam. Ngày 29/3/1972, BCH/LĐ gửi
điện văn cho TĐ3 di chuyển từ căn cứ Nancy lên Đông Hà đêm
29/3/1972. Khi tới Đông Hà sẽ trách nhiệm giữ an ninh Quốc
Lộ 9 từ Đông Hà tới Cam Lộ kể từ sáng 30/3/1972.
Ngày 1/4/1972, BCH/LĐ cũng dời Nancy để lên
Ái Tử. Thời gian này các đơn vị dưới quyền chỉ huy hành quân
của Lữ Đoàn 258 gồm:
TĐ1 Quái Điểu – Thiếu tá Nguyễn
Đằng Tống TĐT, làm thành phần trừ bị cho Lữ Đoàn đóng gần
căn cứ Ái Tử. TÐ1 đã tăng phái cho BTL/SÐ3 từ trước khi
BCH/LÐ258 tới Ái Tử.
TĐ3 Sói Biển – Thiếu tá Lê Bá
Bình TĐT, trách nhiệm vùng Đông Hà.
TĐ6 Thần Ưng –
Thiếu tá Đỗ Hữu Tùng TĐT, trách nhiệm phòng thủ căn cứ Ái
Tử, nơi đặt BTL/SĐ3 BB trước ngày 1 tháng 4.
TĐ3/PB
Nỏ Thần – Thiếu tá Trần Thiện Hiệu TĐT, yểm trợ hỏa lực của
pháo binh cho các Tiểu Đoàn.
Những ngày đầu
tháng 4, cộng quân đã chiếm được 11 căn cứ hỏa lực
ở phía Bắc gần vùng Phi Quân Sự (DMZ) Trong khi đó cầu Đông
Hà do một đơn vị thuộc SĐ3 trách nhiệm đã tự động rút khi họ
nghe BTL/SĐ3 rút về Cổ Thành, không có một đơn vị nào trấn
giữ.
Tiểu Đoàn 3 vừa mới từ căn cứ Nancy tới Đông Hà
buổi sáng ngày 30/3/1972. Trong đêm 1 rạng 2 tháng 4, các
đơn vị thuộc Trung Đoàn 57 di tản khỏi căn cứ ở phía Bắc
theo QL1 để trở về phía Đông Hà bị VC đuổi theo, tình trạng
rất hỗn loạn ở khu vực này, vừa lính vừa dân, còn có VC giả
dạng ăn mặc quân phục Bộ Binh VNCH trà trộn. TĐ3 có 2 Đại
Đội giữ phía Nam cầu Đông Hà. Phía Bắc cầu chỉ để một thành
phần nhỏ để theo dõi và quan sát địch ở phía Bắc di chuyển
xuống, còn 2 ĐĐ thì tăng phái cho Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh. Cũng
trong ngày 2/4/1972, khi 2 ĐĐ thuộc TĐ3 ở khu cầu Đông Hà
quan sát thấy một đoàn quân xa chở BB địch cùng một số chiến
xa hơn 20 chiếc, dẫn đầu đoàn quân là 1 chiếc T54 và 1 chiếc
PT76. Vừa tớì đầu cầu thì chiếc T54 bị trúng đạn M72 CCX của
TĐ3, không tiếp tục chạy được, chiếc PT76 định vượt qua phía
trái chiếc T54 để mở đường cho đoàn xe sau, nhưng chiếc PT76
cũng bị các Sói Biển bắn hư hại nằm song song với chiếc T54
ở trên đầu cầu. Do đó tất cả đoàn xe chở Bộ Binh và đoàn
chiến xa phải ngưng lại, có lẽ chúng nghĩ rằng lực lượng của
ta ở phía Nam cầu chắc là rất mạnh nên chúng lui dần và tản
sang 2 bên đường. TĐ3 yêu cầu pháo binh của LĐ, Hải Pháo, và
các Phi Tuần Phản Lực thay phiên nhau đánh vào đoàn xe, khói
lửa mịt mù, không bao lâu lực lượng địch bị tan rã, nhiều
chiến xa bị phá hủy, một số rút về hướng Bắc hoặc chạy trốn
vào các khu làng mạc lân cận. Lực lượng Bộ Binh địch bị tổn
thất rất nặng nề, đa số đã bị Không Quân, Pháo Binh, Hải
Pháo tiêu diệt trên đoạn đường này. TĐ3 và Thiết Đoàn 20
được sự yểm trợ hữu hiệu của Hải Pháo cùng TĐ3/PB nên đã
chặn đứng được đơn vị của VC cấp Sư Đoàn phối hợp với chiến
xa có ý định vượt qua cầu Đông Hà để tiến về Quảng Trị. Sau
đó cầu đã được phá sập do sự cố gắng vượt bực của Đại uý
Ripley và anh em Sói Biển. Đúng ra là SĐ3/BB có cử 1 đơn vị
Công Binh SĐ cùng với thuốc nổ để phá cầu Đông Hà, đơn vị
Công Binh này có cả Cố vấn Mỹ đi theo, nhưng họ không hoàn
tất việc phá cầu, may cho TĐ3 là họ bỏ đi về phía sau nhưng
đã để một số thuốc nổ TNT và ngồi nổ, nên TĐ3 và Cố vấn Mỹ
TĐ đã đi thu lượm lại để có được số chất nổ đủ dùng cho việc
phá sập cầu. Phía bờ Bắc cầu là cộng quân, còn phía Nam là
TĐ3 và Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh do Trung tá Trần Quang Lý chỉ
huy tổng quát.

Hàng ngày chúng pháo vào khu vực Đông
Hà cả ngàn quả 130ly, ngày này qua ngày khác, ta tổn thất
nhiều vì pháo. TĐ3 sau 7 ngày quần thảo với lực lượng hùng
hậu của quân Bắc Việt có đơn vị chiến xa tùng thiết ở khu
vực phía Bắc của cầu Đông Hà. Quân số đã bị hao hụt nhiều,
mặc dù có nhiều anh em bị thương nhẹ nhưng vẫn ở lại chiến
đấu. Thật là khó mà có thể ước đoán được rằng TĐ3 lại có thể
ngăn chặn được sự tiến quân của 1 Sư Ðoàn quân Bắc việt và
các đơn vị chiến xa của chúng, tuy bên ta có được sự yểm trợ
của Không Quân, Pháo Binh, và Hải Pháo. Quân Bắc Việt định
vượt tuyến Đông Hà xuống Nam.
Đặc biệt là trong trận
này, TĐ3 đã tịch thu được 2 giàn hỏa tiễn địa–địa AT–3 của
Cộng sản do Liên Sô chế tạo.
Sói Biển đã dùng Pháo
Binh 105ly bắn trực xạ (khẩu 105ly này mà TĐ3 có là do một
đơn vị BB rút về hướng Nam bỏ lại) và may mắn là có người
biết sử dụng. Các chiến xa M48, súng CCX M72, Sói Biển đã
bắn hạ nhiều chiến xa. Đêm 2/4/1972, VC chuyển hướng, một
đoàn chiến xa khoảng 20 chiếc di chuyển về hướng Cam Lộ, Hải
Pháo đã được gọi can thiệp, mới loạt đạn đầu đã có 2 chiến
xa bị bốc cháy, sau khi Hải Pháo chấm dứt, B52 với hơn 250
qủa bom đã được trút xuống mục tiêu, tiếng động cơ của xe
tăng không còn nghe thấy nữa, chỉ còn những tiếng rên la mà
thôi. Đó cũng là lý do mà tình hình ở Đông Hà trở nên yên
tĩnh vào ngày 3 và những ngày kế tiếp.
Tình hình
trong những ngày đầu của tháng 4 năm 1972 rất là sôi động
tại vùng Hỏa Tuyến, nhiều cuộc tấn công và pháo kích ác liệt
đã xảy ra tại vùng hoạt động của Lữ Đoàn 147/TQLC do Trung
tá Nguyễn Năng Bảo làm Lữ đoàn trưởng. Bộ chỉ huy LĐ đặt tại
căn cứ hỏa lực Mai Lộc thuộc quận Hương Hóa, tỉnh Quảng Trị,
về phía Tây và Tây–Bắc gồm các căn cứ Bá Hộ, Holcomb, Sarge.
Các căn cứ này nằm trên những cao địa có thể quan sát được
tất cả các hoạt động của địch ở phía Tây từ Khe Sanh theo
Quốc Lộ số 9 di chuyển về Cam Lộ và Đông Hà. Chịu áp lực của
2 Sư Đoàn chính quy 304 và 308, các đơn vị Pháo, Phòng
Không, và Chiến Xa. Ngày 1/4/1972, 7 căn cứ hoả lực thuộc Sư
Đoàn 3 BB ở phía Bắc Cam Lộ đã lọt vào tay địch, trong khi
đó thì căn cứ Carroll do Trung Đoàn 56 BB thuộc Sư Đoàn 3 BB
chiếm đóng (Carroll là tên của một Đại uý TQLC Hoa Kỳ J.J.
Carroll tử trận năm 1966). Trung đoàn trưởng là Trung tá
Phạm Văn Đính đã đầu hàng Cộng sản hồi 14:30g ngày 2/4/1972.
Lữ Đoàn 147/TQLC rút quân ra khỏi vùng trách
nhiệm
Ngày 4/4/1972,
BTL/SĐ3 thấy rằng LĐ–147 dưới áp lực quá nặng nề nên Chuẩn
tướng Vũ Văn Giai, Tư lệnh Sư Đoàn 3 BB quyết định rút các
đơn vị ra khỏi Mai Lộc và các căn cứ thuộc phần trách nhiệm
của Lữ Đoàn 147/TQLC.
Cuộc rút có kế hoạch tỷ mỷ
nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn vì những trận đánh lẻ tẻ
trên đường rút quân, ngoài ra VC còn cho những toán tiền sát
len lỏi vào phía Nam để hướng dẫn Pháo Binh của chúng, gây
trở ngại rất nhiều cho Lữ Đoàn 147 khi rút quân. Lữ Đoàn 147
gồm các Tiểu Đoàn 4, 7, và 8 đã về đến Quảng Trị chiều ngày
5/4/1972, tương đối khó khăn nhưng cũng hoàn tất. Tinh thần
của các Tiểu Đoàn vẫn rất cao, chỉ cần nghỉ dưỡng ít ngày và
có tiếp tế đạn dược, lương thực thì các Tiểu Đoàn có thể trở
lại chiến trường ngay.
Di chuyển BTL/SĐ3/BB
và BCH/LĐ/258/TQLC
Ngày 1 tháng 4,
BTL/SĐ3 BB quyết định rời BTL về Cổ Thành Quảng Trị cách Ái
Tử khoảng 5 cây số để khỏi nằm trong tầm pháo 130ly của
địch, hàng ngày pháo không lúc nào ngưng vào khu vực Ái Tử
và Đông Hà. Cũng trong ngày, Lữ Đoàn 258 được lệnh di chuyển
từ căn cứ hỏa lực Nancy ở phía Nam Quảng Trị lên Ái Tử để
thay thế vào nơi BTL/SĐ3/BB rời đi. Mới tới chân ướt chân
ráo, BCH/LĐ đã được dàn chào hơn một ngàn quả đại bác 130ly
chứ không phải 21 phát súng như chúng ta thường thấy. Xe cộ
cháy, mùi cao su, mùi xăng, khói lửa mịt mù trong vùng Ái
Tử, tất cả những gì trên mặt đất đều bị đổ nát, người chết
chỗ này, bị thương chỗ kia, tất cả các Antenne truyền tin
trên nóc Trung Tâm Hành Quân (TTHQ) đều bị gẫy đổ. TTHQ tuy
bị trúng pháo rất nhiều, nhưng vì quá kiên cố nên những
thành phần ở trong được an toàn, TTHQ chiều cao khoảng 15
mét, rất kiên cố, trên nóc là những lớp bao cát dầy chừng 8
mét, có thể chịu được nếu bị trúng bom thường, nhưng nếu
trúng bom B52 thì cũng bị san bằng.
Trong TTHQ chật
ních người, những người đi chưa hết, rồi lại người thuộc Bộ
Chỉ Huy Lữ Đoàn (BCH/LĐ) mới tới. Tổng cộng khoảng gần 200
người, trong đó có trên 20 Cố vấn Mỹ của SĐ3/BB và của TQLC,
một toán Cố vấn về Hải Pháo, một toán Không Quân chiến
thuật, một toán Không Quân chiến lược... Cường độ pháo kích
giảm và thưa dần chỉ còn mỗi phút 1 vài quả, nhân viên
BTL/SĐ3 cùng các Cố vấn đã rời khỏi căn cứ Ái Tử để về Cổ
Thành Quảng Trị nơi đặt BTL mới của SĐ3 BB. Tuy nhiên các Cố
vấn về Hải Pháo, Không Quân chiến thuật, và chiến lược vẫn
còn đặt cạnh BCH/LĐ/258 để yểm trợ cho 2 Lữ Đoàn TQLC.
Vừa tới nơi, việc đầu tiên là tôi họp với Lữ
đoàn phó Trung tá Đỗ Đình Vượng và các sĩ quan Tham Mưu của
Lữ Đoàn:
Trung uý Bùi Cáng – Trưởng Ban 1;
Thiếu tá Nguyễn Văn Châu – Trưởng Ban 2;
Trung uý
Nguyễn Sỹ Toàn – Quân Báo;
Thiếu tá Huỳnh Văn Lượm –
Trưởng Ban 3, Đại uý Mai Văn Tấn phụ tá Ban 3;
Thiếu
tá Quách Ngọc Lâm – Trưởng Ban 4, vì lý do gia đình nên
Thiếu tá Lâm được Trung tướng Tư lệnh cho rời Lữ Đoàn 1
tháng, Đại uý Cao Quang Đô thuộc BTL/SĐ/P4 biệt phái tới tạm
thời làm Trưởng Ban 4;
Thiếu uý Ngô Văn Năm – Trưởng
Ban 5;
Thiếu uý Vũ Văn Nhân – Sĩ Quan Truyền Tin;
Thiếu tá Trần Thiện Hiệu TĐT/TĐ3/PB/TQLC;

cùng
tất cả các Cố vấn Mỹ để mọi người trong phạm vi trách nhiệm
của mình nắm vững tình hình mới nhất.
Về phần
Cố vấn Mỹ:
Thiếu tá Jon Easley – Cố vấn
LĐ/258;
Thiếu tá David Brookbank – Cố vấn Không Trợ,
ông này là cựu Phi Công oanh tạc cơ B52;
Thiếu tá
James Parrish – Pháo Binh 155ly;
Trung uý Joel
Eisentein – Hải Pháo;
Thiếu tá J.F. Neary – đặc trách
về Truyền Tin liên lạc trực tiếp với Đà Nẵng.
Các Cố
vấn trình bày cho biết: “Hiện có 4 Tuần dương hạm ở ngoài
khơi Cửa Việt, 5 chiếc Khu trục hạm đang trên đường đến hải
phận phía Cửa Việt để yểm trợ các đơn vị. Về Không quân
chiến thuật thì một số phi cơ F4 của TQLC Hoa Kỳ tại Nhật
Bản được lệnh trở lại Việt Nam”. Đến ngày 7/4/1972 thì
khoảng 20 phi cơ đã có mặt ở Đà Nẵng và sẵn sàng yểm trợ.
Vào ngày 9/4/1972, các phi vụ B52 cũng được tăng cường để
đánh phá vào các mục tiêu là các căn cứ của ta bị mất vào
tay địch ở vùng phi quân sự (DMZ) và xung quanh tỉnh Quảng
Trị. Chỉ trong tháng 4, số phi cơ B52 đồn trú tại Guam và
Thái Lan để yểm trợ cho Việt Nam đã lên tới con số 138
chiếc, 85 chiếc đồn trú tại Guam, 53 chiếc tại Thái Lan.
Trong tháng 4 đã có 200 phi vụ thả bom xuống Nam Việt Nam.
Giờ phút nghẹt thở chờ B52 trút xuống...
Sau khi BTL/SĐ3/BB rút đi thì Cố vấn của SĐ3 BB báo về
cấp trên ở Sài Gòn là họ đã di chuyển khỏi Ái Tử để về Cổ
Thành, nhưng lại không nói là có Lữ Đoàn 258 TQLC/VN đến
thay thế, và cũng không báo là ở Ái Tử còn số đông Cố vấn.
Phái đoàn Quân sự Mỹ ở Sài Gòn nghĩ rằng không còn đơn vị
nào ở Ái Tử nên họ có chương trình đánh B52 vào Ái Tử đêm
3/4/1972 để phá căn cứ này không để các quân dụng còn bỏ lại
lọt vào tay Việt cộng. Hồi 02:40g ngày 3/4/1972, tôi được
phía Cố vấn báo là mới nhận được tin là sẽ có phi vụ B52
đánh xuống Ái Tử trong vòng 30 phút nữa. Lúc này Phi Cơ B52
đã cất cánh đang trên đường đến Quảng Trị. Tất cả mọi người
đều vô cùng hốt hoảng, phía Cố vấn vì biết nhiều nên họ còn
lo sợ hơn phía mình, mình điếc không sợ súng nên những anh
em nào không có bổn phận gì thì vẫn ngủ ngon lành. Các Cố
vấn tìm hết mọi cách liên lạc để phi vụ được hủy bỏ nhưng
không liên lạc được. May nhờ có ông Thiếu tá David Brookbank
Cố vấn cho Lữ Đoàn về Không trợ, ông này là cựu phi công
B52, nên ông ta còn nhớ những codes đặc biệt. Thiếu tá David
Brookbank gọi mãi gọi hoài mà cũng chẳng được tín hiệu trả
lời, mà giờ bom rơi xuống mục tiêu thì cũng chẳng còn bao
lâu nữa, ông ta lại còn phải kê cả tên vợ, tên con, và địa
chỉ ở Hoa Kỳ, để tránh trường hợp cơ quan có thẩm quyền nghĩ
rằng đó là VC dùng tù binh Mỹ để gửi tín hiệu giả mạo. May
mắn tín hiệu ông đánh đi và BCH Không Quân chiến lược nhận
được và kiểm chứng nên phi vụ đánh vào Ái Tử được rời đi mục
tiêu khác. Tuy nhiên Cố vấn Không Trợ có nói với tôi là tính
kể từ giờ phút bom dự trù được thả đếm ngược từ 30 trở lại,
nếu đếm đến 0 mà không thấy gì thì mới chắc chắn là được an
toàn. Đêm ở đây lạnh mà mồ hôi người nào cũng ra như tắm.
Nếu không có ông Brookbank thì giờ này người viết chuyện này
cùng tất cả các anh em thuộc Lữ Đoàn 258, TĐ1, TĐ6, TĐ3/PB,
và các đơn vị tăng phái cũng đã làm phân bón cho cỏ ở Ái Tử
được xanh tươi rồi. TĐ3 còn ở ngoài Đông Hà không bị ảnh
hưởng nếu Ái Tử bị ăn bom B52.
Di chuyển
TĐ3/TQLC về Ái Tử
Ngày 8 tháng 4,
Tiểu Đoàn 3 được điều động về căn cứ Ái Tử để thay thế Tiểu
Đoàn 6. Khu vực của TĐ3 chịu trách nhiệm được bàn giao lại
cho Liên Đoàn 5 BĐQ, Trung tá Lê Minh Hồng Liên đoàn trưởng.
Trong những ngày đầu tháng 4 này, ngày nào các đơn vị cũng
bị pháo nhiều, tin tức của Quân Đoàn và của phía Mỹ cho biết
là có nhiều chỉ dấu cho thấy các đơn vị BB và chiến xa của
Cộng quân đang di chuyển về phía Nam, xuất phát từ hướng Mai
Lộc. Phòng 2 Quân Đoàn và hệ thống tình báo của Mỹ cho biết
chắc chắn sẽ có những trận đánh lớn xảy ra ở khu vực của
LĐ/258 trong những ngày sắp tới. Sau khi được tin tức trên,
tôi đã chỉ thị Đại uý Cao Quang Đô liên lạc để xem những cơ
quan nào còn tồn trữ mìn chống chiến xa thì xin cấp phát tối
đa cho Lữ Đoàn, rất nhiều mìn chống chiến xa, đơn vị Công
Binh đã được đưa tới để thiết lập các bãi mìn, đồng thời Lữ
Đoàn cũng xin BTL/QĐ tăng phái cho Lữ Đoàn 1 Chi Đoàn chiến
xa M48, đơn xin đã được chấp thuận, Chi Đoàn chiến xa M48
thuộc Thiết Đoàn 20 do Đại uý Đoàn Chí Sanh chỉ huy đến
trình diện Lữ Đoàn tối ngày 8/4/1972.
Chiều
ngày 8 tháng 4, BCH/LĐ nhận được một công điện Mật,
tin tức giá trị cao là đêm 8 rạng 9 sẽ có cuộc tấn công bằng
Bộ Binh và chiến xa vào vị trí các đơn vị TQLC ở khu vực Ái
Tử từ hướng Tây–Nam. Tôi thông báo cho phía Cố vấn Mỹ biết,
để cùng chuẩn bị kế hoạch yểm trợ hỏa lực phi pháo cho các
đơn vị, một yếu tố khó khăn và quan trọng khác nữa là vấn đề
vị trí của TĐ3/PB, địch pháo kích như mưa. TĐ3/PB đã phải
rời vị trí pháo nhiều lần hàng ngày, và phải đào hầm để chứa
đạn phòng bị pháo binh địch phá hủy thì không còn đạn để bắn
khi hữu sự, anh em pháo thủ còn vất vả hơn các đơn vị tác
chiến.
Trận đánh xé xác Chiến Xa địch ở căn
cứ Phượng Hoàng vào ngày 9/4/1972
Một trận
đánh mà có sự tham chiến cấp Trung Đoàn và khoảng trên 30
Chiến xa hạng nặng của quân Bắc Việt như T54 và T59, đây
cũng là trận đánh có sự tham chiến của đơn vị chiến xa cấp
Trung Đoàn đầu tiên trong cuộc chiến tranh Việt Nam mà lực
lượng TQLC/VN/LĐ/258 Gồm Tiểu Đoàn 1 và 6 cùng TĐ3/PB đã
tiêu diệt trọn hơn 30 chiến xa và gây thiệt hại nặng cho
Trung Ðoàn BB tùng thiết của quân Bắc Việt. Không 1 chiếc
Chiến xa nào chạy thoát được. Hai chiếc bị bắt, 1 trong tình
trạng còn nguyên vẹn, 1 bị hư nhẹ.
Tiểu Đoàn 1 TQLC
làm thành phần trừ bị cho Lữ Đoàn, hoạt động ở Tây–Bắc Ái
Tử, Thiếu tá Nguyễn Đăng Tống TĐT, Thiếu tá Đoàn Đức Nghi
TĐP. Chiều ngày 8/4/1972, TĐ1 cùng với Công Binh Quân Đoàn
thiết lập một bãi mìn chống chiến xa trên 500 quả trên các
đường chiến xa địch có thể sử dụng đề tiến vào Ái Tử và
Quảng Trị.
Ngày 8/4/1972, BCH/LĐ
quyết định dùng TĐ3 thay thế TĐ6 vào nhiệm vụ bảo vệ căn cứ
Ái Tử vì trong suốt thời kỳ quân Bắc Việt mở các cuộc tấn
công vào các căn cứ của ta tại giới tuyến thì TĐ6 tương đối
ít thiệt hại hơn các TĐ khác, khả năng tham chiến còn cao,
nên BCH/LĐ điều động TĐ6 do Thiếu tá Đỗ Hữu Tùng chỉ huy di
chuyển đường bộ đến căn cứ Phượng Hoàng ở phía Tây–Nam Ái Tử
9 cây số để thay thế 1 Tiều Đoàn BĐQ. Thiếu tá Bill Warren
và Đại uý William Wischmeyer là Cố vấn cho TĐ6. Hai Cố vấn
trên đến Tiểu Đoàn ngày 21/6/1971 và đã cùng sát cánh với
TĐ6 tham dự tất cả các cuộc HQ suốt nhiệm kỳ của họ. Đại uý
Wischmeyer cũng đã trải qua nhiều cuộc đụng độ giữa TĐ6 và
quân Bắc Việt khi chúng tấn công vào cao điểm núi Bá Hô và
căn cứ Sarge gần Mai Lộc, thuộc quận Hương Hoá, tỉnh Quảng
Trị.
Để tăng cường vị trí phòng thủ cho TĐ6 ở căn cứ
Phượng Hoàng, BCH/LĐ tăng phái cho TĐ6 một xe ủi đất để tổ
chức hệ thống phòng thủ. Về tháng này có mưa nên việc đào
hầm hố chiến đấu cũng gặp khó khăn vì đất ướt. Thiếu tá Đỗ
Hữu Tùng quyết định phối trí Cánh A gồm 2 Đại Đội tại một vị
trí có địa thế cao cách Phượng Hoàng 1 dặm về hướng
Đông–Bắc. Cánh B gồm 1 ĐĐ do Đại uý Nguyễn Văn Sử TĐP chỉ
huy bố trí trên Hương lộ 557 ở phía Đông–Nam căn cứ Phượng
Hoàng 1 dặm, ĐĐ còn lại phòng thủ trong Phượng Hoàng, ĐĐ này
cắt cử 1 Trung Đội bố trí ở phiá Đông căn cứ 600m về hướng
Tây–Bắc. Vì Tiểu Đoàn được phân tán bố trí như vậy nên cả 2
Cố vấn đều đi với Cánh A. Trời cũng đã về khuya, nhưng các
chiến sĩ Cọp Biển Thần Ưng vẫn phải tiếp tục tổ chức công sự
phòng thủ dưới trời đêm lạnh, mưa gió để sẵn sàng chờ địch
đến, suốt đêm pháo binh địch bắn vào các vị trí của ta không
ngừng nghỉ, gần đến rạng Đông, TĐ6 nhận được nhiều phát đạn
đại bác bắn thẳng vào vị trí. Thoạt đầu Thiếu tá Tùng báo
cáo là bị tấn công, và địch có đại bác không giật, tất cả
các đơn vị của TĐ6 đã sẵn sàng, nhưng sau đó Thiếu tá Tùng
và các Cố vấn lại nghe tiếng động cơ nổ máy, không còn nghi
ngờ gì nữa, Thiếu tá Tùng và các Cố vấn chắc chắn đó là
tiếng máy của Chiến xa địch, báo cáo được gửi về BCH/LĐ.
Cuộc chiến ác liệt bắt đầu xảy ra lúc 06:45g ngày 9/4/1972.
Thiếu tá Tùng quan sát thấy 2 Chiến xa tiến rất nhanh về căn
cứ Phượng Hoàng, sau một lát lại quan sát thấy thêm 7 chiếc
nữa đang tiến theo Hương Lộ 557 về phía Phượng Hoàng với tốc
độ khoảng 15 cây số một giờ. Đây là lực lượng đông Chiến xa
hùng hậu của Bắc Việt. Trung Đội tiền đồn của TĐ6 phát giác
những Chiến xa địch, nhưng phương tiện duy nhất để chống trả
lại các Chiến xa là súng chống chiến xa M72 trang bị cho cá
nhân.
Kế hoạch yểm trợ hỏa lực đã được BCH/LĐ và các
Cố vấn Mỹ chuẩn bị chu đáo ngay khi mới đến Ái Tử, nên khi
được Thiếu tá Tùng và các Cố vấn báo cáo thì TĐ3/PB/TQLC do
Thiếu tá Trần Thiện Hiệu chỉ huy đã yểm trợ TĐ6 một cách vô
cùng chính xác và hữu hiệu, những trận mưa pháo của
TĐ3/PB/TQLC đã dội lên đầu địch. Ngay khi đoàn Chiến xa có
Bộ Binh Tùng thiết đến gần vị trí phòng thủ của một Trung
Đội thuộc TĐ6, 12 Chiến xa, hai chiếc đi đầu và 10 chiếc
theo sau, các Cọp Biển nhận diện được là Chiến xa T54 và
T59. Pháo Binh đã bắn tan nát đội hình của đơn vị Tùng thiết
và các Chiến xa địch, Pháo Binh dùng đầu đạn nổ chậm để diệt
các Chiến xa và dùng đạn nổ chụp để tiêu diệt Bộ Binh địch,
ngay giờ phút đầu của cuộc tấn công. Trung Đoàn Bộ Binh Tùng
thiết đã bị tổn thất nặng, một số lớn bị chết, số còn lại
lẩn trốn vào khu bìa rừng kế cận. Đến lúc này thì 30 Chiến
xa tham dự vào cuộc chiến, hơn ½ đã bị trúng mìn chống chiến
xa và bị TĐ3/PB/TQLC phá hủy, số còn lại đóng nắp xe tăng
lại để tránh pháo. Khoảng 7:15g, hai Chiến xa tiến gần vào
vị trí phòng thủ, nhưng bị trúng mìn nên khựng lại. Từ trên
vị trí cao, Thiếu tá Tùng và các Cố vấn nhìn thấy Chiến xa
địch tiến vào vị trí của một Trung Đội và cán lên vị trí
phòng thủ của các chiến sĩ Cọp Biển TĐ6, một số Cọp Biển ở
tiền đồn bị Chiến xa địch cán chết.
Thời tiết u ám,
Không Quân Hoa Kỳ có đến yểm trợ nhưng không hữu hiệu. Trời
quang đãng dần, các Khu Trục A1 của Không Quân Việt Nam đã
đến vùng trời Ái Tử, đánh cháy nhiều Chiến xa của Cộng quân,
các súng phòng không 23ly đặt trên Chiến xa cũng bắn lên phi
cơ dữ dội, 1 máy bay A1 bị trúng đạn gẫy làm hai và rớt
xuống bốc cháy, phi công tử nạn là Đại uý Trần Thế Vinh,
BCH/LĐ đã cho một đơn vị thuộc TĐ1 đi tìm xác Đại uý Vinh,
nhưng việc tìm kiếm thời gian lâu mà không có kết quả. Không
quân của VN đã làm tê liệt khả năng của số Chiến xa còn lại,
làm giảm nhiều áp lực địch cho TĐ6, có 2 Chiến xa không bị
trúng bom nên vào được trong căn cứ Phượng Hoàng, và rồi
cũng 2 chiếc chiến xa này tiến về phía bố phòng của Cánh
A/TĐ6. Khi đến gần Cánh A khoảng 300 mét thì 1 chiếc bị
trúng mìn nổ tung, mảnh và lửa bốc lên như quả cầu lửa, còn
chiếc thứ 2 thì không hiểu vì lý do gì không tiếp tục tiến
về Cánh A/TĐ6, mà lại quay đầu đổi hướng. Một cánh quân khác
gồm nhiều chiến xa và Bộ Binh đã di chuyển bên hông căn cứ
Phượng Hoàng để tấn công căn cứ Ái Tử, nơi đặt BCH/HQ của
LĐ/258. Trên đường đi một số Chiến xa trúng mìn phát nổ, bộ
binh địch tan hàng vì Pháo Binh của TĐ3/PB tác xạ tiêu diệt
một số lớn, chúng chạy tán loạn, một số bị ta bắt sống.
Thiếu tá Hiệu TĐT/TĐ3/PB đã cho bắn trên 3,000 quả đạn 105ly
trong một thời gian ngắn. Vì kế hoạch yểm trợ hỏa lực của
Pháo Binh đã được thiết lập sẵn vào các đường tiến sát nên
đúng như đã tiên liệu, địch đã di chuyển trên những lộ trình
đó nên đa số đã bị tiêu diệt, một số đông Chiến xa bị vướng
mìn nổ tung, thừa thắng xông lên các Cọp Biển đã sử dụng M72
để tiêu diệt các Chiến xa của địch còn nhúc nhích được.
Khi các Chiến xa của quân Bắc Việt đang bị vướng vào bãi
mìn chống chiến xa, kế hoạch phản công được thi hành ngay
khi đó. Khoảng 7:30g sáng, lực lượng phản công đã sẵn sàng,
Cánh B của TĐ1 do Thiếu tá Đoàn Đức Nghi chỉ huy gồm 2 ĐĐ
tác chiến, 12 Thiết Quân Vận M113, và 8 Chiến xa M48, đi
theo lực lượng phản công có Đại uý Larry Livingston, Cố vấn
TĐ1 (Ông Livingston đã thăng cấp trung tướng và hiện tại ngũ
trong TQLC Hoa Kỳ) lực lượng phản công rời khỏi vùng Ái Tử
tiến về khu vực Pedro, khi các Chiến xa M48 quan sát thấy
Chiến xa địch đang vướng bãi mìn, M48 nổ súng, 3 Chiến xa
T54 bốc cháy ngay và nhiều chiếc phát nổ vì mìn. Cuộc phản
công đang tiếp diễn, Thiếu tá Đỗ Hữu Tùng cùng với 2 ĐĐ tác
chiến thuộc TĐ6 nhập với cánh B Tiểu Ðoàn 1. Khi lực lượng
phản công đến cách Pedro khoảng 800m, TĐ3/PB bắn chặn đường
rút lui của địch, Pháo Binh bắn không thua gì B52, chỉ có
khác biệt là tiếng nổ nhỏ hơn thôi. Chúng tháo chạy về khu
rừng hướng Tây–Nam, bỏ lại nhiều xác chết và thương binh chỉ
còn lại các Chiến xa để làm mồi cho các khu trục cơ A1 của
Không quân Việt Nam, đại bác 90ly từ các Chiến xa M48, M72
của các quân nhân TĐ1 và TĐ6 phá hủy, trên 400 Việt cộng bị
chết, một số bị bắt làm tù binh. Tất cả 30 Chiến xa của quân
Bắc Việt tham dự vào trận này đều bị phá hủy bởi mìn chống
chiến xa, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh TQLC, Không Quân Việt Nam,
và các tay súng M72 thuộc Tiểu Đoàn Thần Ưng (TĐ6) và Quái
Điểu (TĐ1). Hai chiếc còn nguyên vẹn, không bị vướng mìn và
chạy được đến con đường dẫn vào BCH/LĐ, nhưng tài xế và xạ
thủ đã bỏ chạy, khi còn cách Ái Tử 500m, một chiếc còn tốt
có thể chạy được và một chiếc bị hư hại nhẹ, chiếc tốt đã
được Đại uý Nguyễn Văn Sanh, Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn M48
cho chạy về Ái Tử sáng ngày 9/4/1972 đậu trước TTHQ. Ngày
hôm sau được đưa về Huế để triển lãm theo lệnh của Trung
tướng Lê Nguyên Khang, Tư lệnh TQLC. Sau khi triển lãm ở Huế
một thời gian, chiếc T59 này được đưa về Sài Gòn triển lãm
trước toà Đô Chính cho đồng bào xem chiến thắng của
LĐ258/TQLC. Chiếc T59 kể trên được tặng cho quân đội Hoa Kỳ
để nghiên cứu, vì thời chiến tranh Triều Tiên quân đội Hoa
Kỳ rất muốn bắt sống một chiếc nhưng không có cơ hội.

Sáng ngày 13/4/1972, tôi chạy xe ra Huế
để họp ở BTL/SĐ/TQLC, trên đường đi tôi thấy đoàn xe của
Trung tướng Hoàng Xuân Lãm Tư lệnh QĐ1 chạy lên hướng Quảng
Trị. Tôi chào Trung tướng và tôi thấy xe của ông ngừng lại,
tôi ngừng xe và đi về phía xe của Trung tướng. Ông bắt tay
tôi và lấy bản đồ ra rồi hỏi tôi nguyên văn như sau:
“Anh cho tôi biết đầu
đuôi trận đánh ngày hôm đó như thế nào?”.
Tôi trình bày xong thì ông lên xe đi Quảng Trị, còn tôi
về Huế họp. Trên đường đi, tôi cứ thắc mắc hoài là tại sao
một biến cố quan trọng như thế đã xảy ra gần một tuần mà bây
giờ ông Tư lệnh Quân Đoàn lại hỏi mình một câu như vậy.
Ngày 3/5/1972, Trung tướng Ngô Quang
Trưởng được đề cử giữ chức vụ Tư lệnh QĐ1 thay thế Trung
tướng Hoàng Xuân Lãm, nên từ đó tôi không có dịp gặp lại
ông, mãi tới năm 1980 tại Hoa Kỳ, nhưng chuyện qua lâu rồi
cho qua luôn.
Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Chiến Tranh
Chính Trị (CTCT) có gửi văn thư cho các đơn vị là sẽ thưởng
30 ngàn đồng cho mỗi chiếc Chiến xa bị bắn hạ, do đó tôi đã
quyết định là báo cáo tất cả số Chiến xa bị hạ là 30 chiếc ở
Ái Tử cho TĐ6 và TĐ3/PB, 20 chiếc ở Bắc Đông Hà cho TĐ3 để
các Tiểu Đoàn có một ngân khoản ủy lạo các thương binh và
gia đình tử sĩ. Trung tướng Tư lệnh cũng đồng ý như vậy. Tôi
cũng trình với Trung tướng Khang là sự thực thì 50% số Chiến
xa ở khu vực Pedro bị phá hủy là do mìn, 30% là do TĐ3/PB,
20% còn lại là do Không Quân VN, Chi Đoàn 20 M48, và các
chiến sĩ TĐ6 và TĐ1.
Ngày nào các đơn vị cũng bị
pháo, tình hình lúc nào cũng sôi động, chạm địch thường
xuyên, và bị pháo kích suốt ngày đêm, nhưng các Tiểu Đoàn
TQLC vẫn làm chủ tình hình, lúc này thì TQLC và Liên Đoàn 5
BĐQ, và Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh là 3 đơn vị duy nhất còn ở vùng
giới tuyến.
Cuộc chiến vẫn tiếp diễn trên toàn khu
vực trách nhiệm của Lữ Đoàn 258 qua những ngày 10, 11, và 12
tháng 4 năm 1972. Cánh B Tiểu Đoàn 1 sau ngày hành quân phản
công vào khu vực Phượng Hoàng, vẫn tiếp tục phối hợp với TĐ6
để truy lùng địch ở phía Tây các ngày 10 và 11 tháng 4. Sáng
ngày 12/4, Cánh B Tiểu Đoàn 1 cùng 8 chiếc chiến xa M48 và
12 Thiết quân vận M113 trên đường trở về Ái Tử, khi còn cách
Ái Tử 2 cây số về hướng Tây, Đại Đội đi đầu cùng Chi Đoàn
Chiến xa và Thiết vận xa quan sát thấy nhiều VC đang đào hầm
hố và giao thông hào trên đường Cánh B dự trù sẽ về ngang
qua, ở giữa Phượng Hoàng và Ái Tử. Pháo binh được gọi can
thiệp, các Đại Đội và chiến xa tiến lên tràn ngập vị trí của
cộng quân, hai bên chạm súng dữ dội, VC ước chừng 2 Tiểu
Đoàn có trang bị đại bác không giật và súng chống chiến xa.
Hai bên đánh nhau, có những lúc cận chiến bằng lựu đạn, cuộc
chiến kéo dài cho tới tối, ta làm chủ chiến trường, xác địch
chết ngổn ngang, dưới hố, dưới giao thông hào. Có lẽ đơn vị
này định phục kích bất ngờ khi Cánh B trở về Ái Tử nhưng bị
phát giác. Hơn 200 xác đếm được, quần áo và trang bị của đơn
vị này đều mới, vũ khí tối tân, nhiều vũ khí cá nhân và cộng
đồng ta tịch thu được. Thiếu tá Đoàn Đức Nghi, TĐP chỉ huy
Cánh B đã bị trúng đạn đại liên và tử thương trong cuộc đụng
độ này, một số anh em bị thương.
Trong đêm
12/4/1972, khi các đơn vị đang bị pháo kích và tấn
công, được Cố vấn cho tôi biết một phi cơ Mỹ bị bắn rớt ở
phía Bắc Cam Lộ, một Trung tá phi công nhảy dù ra an toàn,
để cứu phi công này thì tất cả pháo binh đều không được tác
xạ cho đến khi cứu được viên sĩ quan phi công. Mỹ đã điều
động 4 trực thăng, 2 Cobra hộ tống, và 2 Huey đến nơi phi
công lâm nạn trong đêm, 1 Huey đã bị bắn cháy không có ai
sống sót, còn phi cơ Cobra trúng đạn phòng không nhưng bay
ra đuợc đến bờ biển, đêm 13 thì họ cứu được phi công này
bằng đường sông Cam Lộ.
Suốt trong thời gian hơn một
ngày đó, địch pháo hoặc tấn công nhưng chúng ta không được
sử dụng pháo binh nên những sự tổn thất của ta trong thời
gian đó lên cao, và có nhiều nguy hiểm.
Ngày
22/4/1972, BCH/LĐ/258 được lệnh rời căn cứ Ái Tử,
Lữ Đoàn 147 Trung tá Nguyễn Năng Bảo LĐT đến thay thế chúng
tôi. BCH/LĐ/258 cùng TĐ3, TĐ6, và TĐ3/PB được di chuyển về
Huế dưỡng quân. TĐ1 ở lại làm việc với Lữ Đoàn 147, cùng
TĐ7, TĐ8, và TĐ2/PB.
Kết luận
Lữ Đoàn 258 TQLC (TĐ1, TĐ3, và TĐ6) có được chiến thắng
này là nhờ bãi mìn chống chiến xa trên 500 quả mà BCH/LÐ đã
thiết lập khi vừa đến Ái Tử, sự yểm trợ nhanh chóng và chính
xác của TĐ3/PB/TQLC do Thiếu tá Trần Thiện Hiệu chỉ huy, của
Chi Đoàn chiến xa M48 có khả năng diệt xe tăng T54 và T59
của Việt cộng từ xa, tinh thần quân nhân các cấp thuộc các
Tiểu Đoàn rất cao, khả năng và kinh nghiệm tác chiến trội
hơn quân Bắc Việt nhiều, sự làm việc không biết mệt mỏi suốt
ngày đêm của Trung tá Đỗ Đình Vượng Lữ đoàn phó kiêm Tham
mưu trưởng cùng các sĩ quan Tham Mưu Lữ Đoàn.
Ngày 23/4/1972, tại Huế có một cuộc diễn
hành mừng chiến thắng Ái Tử và Đông Hà. Trung tướng Lê
Nguyên Khang, TL/SĐ/TQLC đã khen ngợi các anh hùng, 52 quân
nhân đại diện các đơn vị thuộc Lữ Ðoàn tham dự diễn hành,
trong số này có Thiếu tá Lê Bá Bình TĐT/TĐ3 và Đại uý John
Ripley Cố vấn trưởng TĐ.
Viết để tưởng nhớ và
tri ân:
Đại uý Không Quân Trần Thế Vinh đã
hy sinh trong khi hăng say diệt chiến xa của Việt cộng ngày
9/4/1972 tại khu vực Ái Tử, Quảng Trị.
Các chiến sĩ
thuộc Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng đã hy sinh ngày 9/4/1972 tại căn
cứ phượng Hoàng, Quảng Trị.
Thiếu tá Đoàn Đức Nghi,
Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 1 đã tử thương chiều ngày 12/4/1972
khi Cánh B/TĐ1 do anh chỉ huy đã đụng độ ác liệt với 2 Tiểu
Đoàn quân chính quy Bắc Việt ở phía Tây căn cứ Ái Tử 1 cây
số.
San José, CA ngày 9 tháng 4 năm 2001
MX Ngô Văn Định (1954 –1975)
nguồn:
trang nhà tqlc


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch




|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by nvt chuyển
Đăng ngày Thứ Ba, June 24, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH