
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự Truyện
Chủ đề:
lính kể
Tác giả: MĐ Phan Hội Yên

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)

Mục Lục
chiến dịch lam sơn–719/hạ lào & đồi
31...
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4


Phần 1
Một mẩu chuyện về Đồi 31...
Gần đây, trên Facebook và nhiều trang web rộ lên câu chuyện của “Đồi 31” và các nhân vật liên quan.

Là một người lính thuộc
đơn vị đã trực tiếp chiến đấu tại trận địa, tôi thấy, việc
đúng sai có lẽ đã tùy thuộc vào góc nhìn cũng như quan điểm,
mục đích của
mỗi một người viết. Nhưng với tôi là chưa đủ.
khi các bài viết không rõ ràng các phiên hiệu đơn vị tại
thời điểm và địa điểm... và với óc tưởng tượng khá phong phú
của một vị... “Tư lệnh” khi cho người đọc những nhận định,
phán đoán... chiến lựơc, chiến thuật từ Quân Đoàn, Sư Đoàn,
Lữ Đoàn, xuống tận... Tiểu Đội.
Xin góp một mảnh vỡ
khác của người lính trong ký ức về Đồi 31, trong phạm vi một
Trung Đội chiến đấu mà tôi được biết.
Đường qua Ái Tử

Đang ngồi ở văn phòng Đại Đội, chợt
tiếng chuông điện thoại reo vang. Nơi, hạ sĩ quan trực nhấc
máy, và quay lại phía chúng tôi:
– Đại uý! Tiểu Đoàn
mời họp.
– Mấy giờ?
– Ngay bây giờ, thưa đại
uý.
Đại uý nhìn chúng tôi:
– Mấy anh chờ ở
đây, cho đến khi tôi về.
Lại chờ, suốt mười hai ngày
quanh quẩn trong doanh trại, với lịnh cấm quân một trăm phần
trăm, ứng chiến cấp một, tất cả như căng ra trong dự đoán,
lần này không biết sẽ đi đâu.
Tình hình chiến sự cũng
không có gì căng thẳng, và những thuận lợi trên chiến trường
kể từ sau cuộc hành quân “Toàn thắng 70” của Quân Đoàn III
mà chúng tôi vừa tham chiến trên mặt trận Cam Bốt, bẻ gãy
căn cứ hậu cần quan trọng và giẵm nát Trung ương cục “R” của
đối phương trong vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt đã khẳng định thế
trưởng thành, vững chắc của Quân Đội.
Tôi thả bộ
xuống Trung Đội, trong dãy hành lang rợp bóng ngô đồng,
những người lính nhìn tôi dò hỏi... Cũng chưa có gì, thì đâu
cũng vậy thôi.
Tôi trả lời qua loa:
– Chưa hết
Tết mà, Đích thân!
– Tết nhất gì nữa! mấy năm trước
mình có ăn Tết ở nhà đâu.
– Lâu lâu mới có một lần,
ít quá cũng chưa đủ...
– “Tri túc thiện túc” mậy!
Tôi quay về hướng câu chữ nho. Hạ sĩ nhất Muôn đang cười
sau câu đối của mình.
– “Hà thời túc” chứ?
–
Nói vậy thôi Đích thân, trông đi quách cho rồi, để còn về
cưới vợ, chờ hoài muốn oải quá.
– Kỳ này đi, có người
mong nhớ, chắc hên nhé. Về có cái cánh gà mới, cưới vợ cũng
oai.
Muôn có mặt ở đơn vị từ khi tôi mới ra trường,
một chữ bẻ đôi cũng không biết, nhưng lại thuộc làu “Minh
tâm bửu giám”, nói chuyện năm ba câu, đã hết hai câu “Gia
nhà Quốc nước, Tiền trước Hậu sau...”
Tôi ngồi xuống
bên cạnh anh:
– Không biết cánh gà xé phay hay rô ti
đây. Muôn cười cười.
– Bậy mày! Nhất còn chưa ngán
huống hồ Muôn, ai luộc nổi!
– Con bồ nó láng lắm Đích
thân. Cu cậu hơi nhụt chí nam nhi rồi.
Có tiếng cười
ở bên trên chiếc giường hai tầng vọng xuống:
– Vậy
ông thì sao? Vợ con đùm đề chẳng thấy nhụt chí tý nào?
Trung sĩ Biên nhảy xuống, giọng Quảng Nam vui tai:
– Nặng nợ vợ con, tui khoái đi hành quân hơn ở nhà, túi
rỗng ở trong rừng đỡ vả hơn túi rỗng về thành phố.
Tôi chợt nghĩ tới các bà trong trại gia binh, tập trung nhốn
nháo ở cổng Tiểu Đoàn trong những kỳ lương cuối tháng, mà vợ
Trung sĩ Biên là thủ lãnh. Họ cũng chia thành các Trung Đội,
chia phiên trực gác, chận hậu đón lỏng, mà các ông không tài
nào trốn thoát, trừ khi nạp đủ, đúng phần trách nhiệm cho
gia đình, kể cả thực phẩm phụ trội và khẩu phần Quân tiếp
vụ.
Tôi hỏi Biên:
– Anh em vô đủ chưa?
– Thằng Thông xin đi hồi sáng chưa về, tôi bảo lãnh cho nó.
– Chính vô chưa?
– Tui đây Đích thân.
–
Chào đồng hương, Mạ có vô thăm không rứa?
– Dạ Mạ tui
đi chi được.
Tôi cười xòa đi về phía cuối nhà ngủ,
nơi có chiếc bàn làm việc của Thượng sĩ Đàng, Trung đội phó.
Người thượng sĩ trẻ tuổi đứng lên chào:
– Trung uý!
– Chào thượng sĩ, ông cố gắng giữ đủ quân số, tình hình
này chưa biết sẽ đi lúc nào.
– Đủ hết Trung uý à, có
lẽ chiều nay thằng Thông sẽ vào, Trung uý xin Đại Đội cho bổ
sung thêm mấy phụ xạ thủ, tôi muốn đưa thằng Kiều, thằng Sỹ
lên Tiểu Đội Khinh binh, tụi nó có khả năng.
– Để tôi
hỏi xem, chưa thấy có tân binh về.
Tôi vẫn có thói
quen la cà xuống phòng ngủ của quân nhân độc thân. Đó là một
dãy nhà tôn dài, núp bóng dưới những tàn ngô đồng dim mát, ở
đó tôi tìm đôi chút gần gũi trong những ngày quân về hậu cứ,
sinh hoạt với họ giản dị như những người bạn đường gian khổ,
tôi thích gần gũi họ, chia sẻ với họ, hay là được họ chia sẻ
với tôi khoảng trống vắng lạ lùng của những người lính độc
thân xa nhà, đăm chiêu từng bóng nắng xuyên qua kẽ lá rải
xuống mặt sân những đốm vàng lóng lánh.
Những đốm
trắng tròn vo nhắc tôi nhớ đến ngày thơ ấu trong vườn nhà
quê ngoại. Nơi đó, tôi một mình rong chơi quanh quẩn, không
đủ khôn lớn để tự hỏi... Tại sao tôi mãi cứ một mình với
Ngoại, với Dì. Những buổi tan trường về côi cút trong từng
bóng nắng, chảy xuyên qua mái tranh những đốm tròn bạc cắc.
Tôi muốn giữ nó mãi tròn xoe lóng lánh, âu yếm như đôi mắt
nào tôi chưa từng có, bụm hai tay hứng từng giọt nắng nhẹ
nhàng bỏ vào túi áo. Tôi biết, khi xòe tay ra thì mình chẳng
có gì, nhưng túi áo sẽ đầy lên muôn vàn điều hoang tưởng.
Những điều hoang tưởng theo tôi vào giấc ngủ, khi thì về một
góc sân nào đó, tôi đong đưa đôi chân trần trên quang gánh
của Mẹ, phiên chợ chiều bảng lảng bóng hoàng hôn, miệng nhâm
nhi khúc kẹo gừng thơm ngọt. Tôi vẫn mơ dù chưa biết mặt Mẹ
bao giờ...
Tôi ký vội vào bảng điểm danh, Trung Đội
chưa bao giờ đủ cấp số, kể cả tôi là hai mươi tám mống, vị
chi còn thiếu chừng mươi người nữa theo đúng lý thuyết.
Thoáng thấy tôi, Thượng sĩ nhất Xá vội gọi:
–
Trung uý! Đại uý mời về họp.
Tôi trở về văn phòng Đại
Đội, các sĩ quan Trung đội trưởng khác đang ngồi đăm chiêu,
Đại uý Bôn, Đại đội trưởng đi lui đi tới:
– Chưa biết
gì hơn, tất cả sẽ được phổ biến tại tiền trạm, bây giờ các
anh cho chuẩn bị đầy đủ.
Tôi bỏ nhỏ:
– Đâu vậy
Đại uý?
– Tôi cũng chẳng biết gì hơn, bản đồ hành
quân sẽ được phát tại tiền trạm.
Chúng tôi lại đoán
già đoán non:
– Chắc tại Cam Bốt nữa rồi.
Kỳ
này cho thằng On tìm lại cái răng vàng bị rơi ở Mỏ Vẹt.
On, Thiếu uý, cùng khoá với tôi nhỏm dậy:
– Tao
làm cái khác rồi không chơi răng vàng nữa.
Trước mỗi
bước đường gian nguy sắp tới, chúng tôi vẫn như thói quen,
“trích đoạn” những hoạt cảnh vui nhộn nhất của từng cuộc
hành quân cũ. Như viên thuốc ngọt ngào nuốt vội xuống cổ, bỏ
qua những âu lo bất trắc. Dằn xuống tận đáy lòng nỗi bâng
khuâng sâu kín, chỉ còn trên từng khuôn mặt rám nắng một nét
cương nghị vội vàng khỏa lấp. Không ai bắt chúng tôi phải
đùa vui như thế, không ai bắt chúng tôi phải tự dối nỗi
buồn. Nhưng dòng nước đã chảy, chúng tôi đã trôi theo định
mệnh thì tiếc gì mà không cười vang trên nguy khốn. Dù biết
rằng khi trở lại, chắc gì giọng cười kia còn nguyên vẹn, nào
biết ai đánh cuộc với mất còn.
Thôi, mấy anh chỉnh
lại đồng hồ, bây giờ là 17:30g. Lịnh Tiểu Đoàn tập họp lúc
21:00g, trang bị đầy đủ như thường lệ.
Chúng tôi vội
vã đứng dậy, chỉnh đồng hồ thật khớp nhau. Tôi chợt nghĩ đến
Phượng. Thế là không thể gặp để từ giã, những điều cần nói
với nhau chưa có dịp. Tôi vẫn miệt mài trên những bước quân
hành xa tít, mà ngày về ngắn ngủi chưa rũ sạch bụi chinh y
thì đã lên đường. Có một khoảng cách vô tận, mà đôi khi nắng
chiều đã đổ dài chiếc bóng vẫn không với được tay nhau. Tôi
lại lên đường không người đưa tiễn.
Rời văn phòng
xuống lại Trung Đội, tôi phổ biến lịnh tập họp rồi quay về
phòng mình chuẩn bị hành trang. Cũng chẳng có gì để chuẩn
bị, chiếc ba lô nhỏ vừa đủ hai bộ quần áo, còn phải chừa chỗ
cho gạo sấy lương khô, một vài quyển sách – Sách, lần nào
tôi cũng mang theo nhưng chẳng lần nào đọc được một chữ. Leo
lên võng đã tối mịt một ngày, sáng thức dậy khi rừng còn
sương sớm. Quyển sách duy nhất vừa đi có thể vừa đọc là tấm
bản đồ hành quân với nét chì xanh đỏ, đọc cho đến thuộc lòng
vẫn thấy lạ hoắc mỗi bước chân, nhìn cho ngút tầm bóng lá
vẫn chưa qua được một lóng tay trên nét vẽ. Tôi nhét chiếc
radio nhỏ xíu vào trong mớ bùi nhùi hỗn độn. Chợt nhìn thấy
hình người ca sĩ phảng phất nối ruồi duyên của Phượng trên
chiếc băng catsette mới mua, tôi gỡ bỏ ra bỏ vào ví. Thôi
cũng được, có một bóng hình để ngắm lúc dừng quân, biết đâu
cũng mát giọt mồ hôi trên lưng áo.
Đoàn quân im lìm
trong bóng tối của chòm cao su ngả bóng, trăng thượng tuần
treo lơ lửng một vành bán nguyệt, tôi chợt thấm thía hồn
chinh phụ...
“Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm
trăng này nghỉ mát nơi nao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi Cầu Vị ào ào gió thu...”
Một vài đốm thuốc
lóe lên đâu đó, ngoài đường xe cộ qua lại thưa thớt, đêm đã
về khuya. Sài Gòn ngủ muộn như một cô gái dậy thì, không
biết có ai còn thao thức cho đêm từ biệt, những ngày Tết
muộn còn tươi xác pháo trên nẻo đường phố thị, mà hình như
khói pháo còn âm ỷ mắt cay cay. Chúng tôi quay lại nhìn sân
cờ Tiểu Đoàn và quyến luyến tạm biệt, đoàn xe từ từ lăn
bánh, bao nhiêu chàng Kinh Kha qua sông Dịch, mấy ai biết
hẹn lấy ngày về.
Phi trường Tân Sơn Nhất rộn rịp từng
đoàn quân xa xuôi ngược, tôi linh cảm một cuộc chuyển quân
lớn đang khởi động. C130 lên xuống không ngớt, tiếng động cơ
ầm ì ầm ì như bản quân hành hùng tráng, dọc theo phi đạo,
trong ánh sáng lờ mờ từ các hăng ga tỏa ra, từng đơn vị nối
đuôi nhau lên tàu. Tôi nhìn đồng hồ, 1:30g sáng, cảm giác
quen thuộc của những lần máy bay cất cánh ru tôi vào giấc
ngủ chập chờn mộng mị, tên đã bắn, mũi tên khổng lồ mang
chúng tôi về một phương trời nào giông bão. Giông bão triền
miên mời gọi, hết Đông lại Đoài, xuôi Nam ngược Bắc, qua
biết bao nhiêu miền đất nước, thấm thía nỗi hoang tàn của
chiến tranh, có khi muốn mơ về một ngày yên bình trở lại
cũng không biết phải khởi điểm giấc mơ từ nơi nào. Ở đâu
cũng thấy lửa đạn, ở đâu cũng chỉ có chiến chinh, còn đâu
những làng quê yên ả, còn đâu tiếng sao diều lúc nhặt lúc
khoan, và còn đâu những dòng sông trôi hết thời thơ ấu. Tôi
giở chiếc địa bàn nhìn về phía trước, tam giác dạ quang,
lung linh hướng Bắc về phía mũi con tàu. Những người lính
bình thản trong từng giấc chập chờn, đong đưa theo cánh bay
dìu dặt, bên ngoài cửa sổ vài chòm sao xuôi về đuôi tàu chầm
chậm. Tôi tự hỏi giữa muôn ngàn hư không đó, có vì sao nào
của bà Tiên hiền dịu, có vì sao nào cho tôi chỉ một điều
ước, để ngày thanh bình bất chợt nở rộ giữa thinh không. Tôi
thiếp đi trong điều huyễn hoặc đó...

...
Tiếng bánh xe chạm đất đánh thức tôi giữa cơn mộng mị, ngoài
trời vẫn còn tối, thấp thoáng những đỉnh núi mờ mờ trong màn
sương trắng đục. Tôi nhận ra nơi mình đến bỗng quen thuộc vô
cùng. Ai có đi xa, khi trở về quê cũ, có thấy lâng lâng một
mùi hương khó tả, có thấy quen quen một ngọn gió vô tình, có
thấy bồi hồi từng khoảng trời bát ngát hồn quê. Tôi đang ở
đó, nơi đã ra đi chưa dám hẹn ngày về, sân bay Phú Bài vẫn
như cảnh cũ, có khác chăng cái rộn ràng bất chợt của đoàn
quân ra trận. Xuống xe lên tàu và xuống tàu lên xe chúng tôi
lại tiếp tục trực chỉ phương Bắc, đã ra đến đây rồi thì chỉ
còn chiến trường giới tuyến, nơi địa đầu nghèo khó Trị–Thiên
quê tôi.
Xe qua Phú Lương Hương Thủy, qua Dạ Lê An
Cựu, từng con đường trải một đời tôi nhung nhớ, ký ức bỗng
hiện về những ngày tan trường áo trắng, dòng sông trôi trôi
mãi những bâng khuâng... “Những buổi sáng mù sương hàng
Phượng Vỹ. Dăm buổi chiều thơ thẩn bến đò ngang...” Vòm cây
cũ, mái trường xưa cô tịch, nhịp cầu đong đưa từng vòng bánh
xe xuôi về tả ngạn, bóng hoàng thành còn đâu đó bóng tôi,
góc Nam đài trĩu xanh màu mận chín, trong bóng tối mơ hồ của
đêm chờ sáng, tôi nhận ra bóng cây quen thuộc của gốc nhãn
già trước ngõ, vườn ai kia đang thơm ngát hoa Quỳnh.
Huế quê tôi vẫn còn say giấc điệp; có biết bao đàn con hối
hả lên đường giữ yên quê Mẹ, để Xuân về không còn những vành
khăn tang vội vã, không còn áo em thơ nhuộm máu mẹ hiền,
không còn súng bạo ngược luồn trong tiếng pháo. Mậu Thân ơi!
Chưa nguôi nỗi kinh hoàng.
Quốc lộ 1 đưa chúng tôi
xuôi về Quảng Trị, qua Gio Linh Đông Hà, rồi rẽ về Quốc lộ 9
ngược lên Khe Sanh. Trên bản đồ hành quân đã được phổ biến
tại sân bay Phú Bài, tôi lần dò từng vách núi cheo leo xơ
xác, cảm tưởng về một cánh rừng đại ngàn Trường Sơn bỗng trở
nên hụt hẫng. Còng queo những thân cây khô không lá, vươn
lên trời khổ lụy như hình ảnh buổi cầu kinh của người Do
Thái. Con đường hoang phế, ngoằn ngèo bên sườn núi, loang lổ
vết bom mìn, tôi vẫy tay chào người xạ thủ trên chiếc trực
thăng võ trang hộ tống đoàn xe đang sà xuống, tiếng động cơ
dội vào vách núi, hòa cùng tiếng gầm của những tràng đại bác
bắn dọn đường từ Căn cứ Ái Tử, khúc dạo đầu đã trổi lên thay
hồi kèn xung trận. Chúng tôi được lịnh dừng quân bên đồn
điền cà phê hoang phế; đó đây những gốc lão mai rực rỡ hoa
vàng, vài xác nhà còn trơ tường vách lỗ chỗ vết đạn, Khe
Sanh. Khe Sanh... Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
Tưởng cũng nên nhắc lại chiến thuật hành quân mà đơn vị tôi
thường áp dụng một thời gian dài trước đó trên quan điểm
lùng và diệt địch, chủ động tấn công, hoặc dẫn dụ địch tấn
công trên một chiến trường đã được chọn lựa sẵn, mỗi cuộc
hành quân cấp Lữ Đoàn được phân tán nhỏ tận cấp Đại Đội độc
lập tác chiến. Mỗi Tiểu Đoàn được trực tiếp yểm trợ bằng một
Pháo đội 105ly bắn nhanh. Pháo đội đó đã được một Đại Đội
tác chiến và Đại Đội chỉ huy công vụ của Tiểu Đoàn bảo vệ
trong một Căn cứ hỏa lực dã chiến. Đôi khi Bộ chỉ huy Lữ
Đoàn cũng trú đóng trong Căn cứ hỏa lực. Mỗi căn cứ lại được
yểm trợ bằng ít nhất hai hoặc ba căn cứ tương tự trực thuộc
Lữ Đoàn, trong tầm tác xạ của Pháo binh 105ly, và thường
thường có tăng cường một Trung Đội Pháo binh Quân Đoàn gồm
hai khẩu đội 155ly nòng bạc. Chưa kể hỏa lực yểm trợ của
Không quân, Không pháo Ara, Trực thăng võ trang.
Những Căn cứ hỏa lực này được cắm sâu vào đất địch bằng trực
thăng vận, và đứng vững bằng sự hữu hiệu của các Đại Đội
chiến đấu, và tốc độ tác xạ nhanh chóng, chính xác, của các
Pháo đội Pháo binh Nhảy Dù, hơn là bằng sự vững chắc của các
công sự chiến đấu được thiết lập bằng vật liệu nhẹ. Từ đó
các Đại Đội được tung ra lùng sục, đôi khi xuất phát từ căn
cứ, hoặc bằng trực thăng vận đổ sâu vào các vùng tình nghi
có căn cứ của địch, trong thế liên hoàn sẵn sàng cứu ứng lẫn
nhau nếu gặp lực lượng mạnh của đối phương.
Trong ba
năm 68, 69, 70, chiến thuật này đã đạt được những chiến
thắng rực rỡ qua các cuộc hành quân Toàn Thắng ở vùng III
chiến thuật với Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, các địa
danh lừng vang chiến tích như Tân Phước, Bến Cồ Nổi thuộc
tỉnh Tây Ninh, nơi Tiểu Đoàn chúng tôi một mình một ngựa
đánh tan cuộc tấn công dữ dội của hai Trung Đoàn chủ lực
thuộc Công trường 9 chính quy Bắc Việt. Căn cứ Diana Tam
giác sắt, Bến cát xóa sổ Tiểu Đoàn K15 Trung Đoàn Đồng Nai
chủ lực miền. Rồi Lưỡi Câu Mỏ vẹt, Choup, Snoul. Damber sâu
trong đất Chùa Tháp, căn cứ đầu não Trung ương cục, địch bỏ
của chạy lấy người để lại vô vàn chiến cụ, súng ống, đạn
dược, thuốc men, y cụ mà chúng tôi phải phá hủy tại chỗ.
Phải chi họ đừng dùng đống tài sản khổng lồ đó mà phát động
cuộc chiến tranh thôn tính miền Nam, để nỗ lực xây dựng,
kiến thiết Miền Bắc thì máu xương dân Việt hai miền có đâu
thành núi xương sông máu.
Chủ quan trên những chiến
tích đó, Bộ chỉ huy tối cao bê nguyên bài bản, ném chúng tôi
vào mặt trận Hạ Lào, nơi có sự tương quan binh lực khác hẳn
cũng như tương quan hỏa lực đột biến có lợi cho đối phương.
Nơi đó, hình như đối phương và đồng minh đã chọn lựa sẵn để
vô hiệu hóa từng bước sức đề kháng của Quân Đội và nhân dân
Miền Nam. Bước đầu tiên là tiêu hao sinh lực các đơn vị
thiện chiến nhất, Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Sư Đoàn TQLC, Sư Đoàn
ND, các Liên Đoàn 1 và 3 BĐQ, Lữ Đoàn 1 Thiết Giáp. Các bạn
ơi! Dù đã được điểm danh, chúng ta vẫn sẵn sàng vào trận
“Nhất tướng công thành vạn cốt khô.” Huống chi chúng ta có
nhiều tướng công không thành?
Mặt trận ngoại vi
Sau những trì hoãn lộ liễu, cuộc đổ quân lại được ồn ào
thực hiện, dù chỉ mấy tháng trong quân trường thời chiến,
đào tạo vội vã để được cung cấp cho nhu cầu chiến trường.
Chúng tôi cũng đã học trọn vẹn những bài bản chiến thuật cơ
bản, rồi những sách vở đọc qua thời đi học cũng giúp chúng
tôi ý thức được giá trị của yếu tố bí mật, bất ngờ trong
hành quân tác chiến. Rầm rộ tập trung quân một thời gian quá
dài ở Khe Sanh, những chuyến trực thăng ồn ào thám sát lên
xuống, qua lại biên giới, khôi phục phi đạo cho C130 chở đồ
tiếp liệu, tất cả đó có khác nào gởi cho địch một thông điệp
với đầy đủ chi tiết ý đồ điều quân, tọa độ bãi đáp, mục tiêu
tấn công... Lại còn nhắn thêm:
... “các ông tập trung
quân đủ chưa để tôi đổ lính tôi vào...”
Tôi đi với
Tiểu Đội Khinh binh của Trung sĩ nhất Biên trên chiếc trực
thăng đầu tiên bốc lên khỏi đỉnh đồi. Trong mục tiêu và
nhiệm vụ được giao phó cho Đại Đội, Trung Đội tôi là mũi đột
phá chính, đổ quân ngay trên mục tiêu lập đầu cầu, mở rộng
vòng đai an toàn cho các đơn vị kế tiếp đổ bộ. Đoàn không
vận là là trên những ngọn cây, quanh co theo triền núi hiểm
trở, băng thác vượt ngàn, rồi vụt bốc cao qua đỉnh núi.
Chúng tôi đổ xuống một ngọn đồi vô danh, hoang vắng. Trên
bản đồ ghi ký hiệu “31”.
Được lịnh của Đại
Đội, chúng tôi nhanh chóng chiếm lĩnh cao điểm Đông–Bắc của
Đồi “31” làm tiền đồn, đồng thời làm nút chặn phía Bắc, bảo
vệ cho bãi đáp trực thăng trên yên ngựa thấp, nằm giữa hai
ngọn đồi, tất cả diễn ra êm thắm không một tiếng súng. Chúng
tôi biết, sự im lặng trước cơn bão không có nghĩa là cơn bão
đã tan, chúng tôi sẵn sàng chờ đợi, bất chấp cường độ hung
bạo của cơn bão sẽ đến. Chỉ định Hạ sĩ nhất Muôn chỉ huy
toán tiền đồn gồm 6 người, và tăng cường một khẩu đại liên
M60, tôi rút Trung Đội về cứ điểm chính. Lại công việc quen
thuộc, đào hầm hố, củng cố công sự, tổ chức phòng thủ trong
tuyến chiến đấu được giao, Cuộc đổ quân vẫn đang tiếp diễn,
những chiếc Chinook lặc lè đạn pháo, và những khẩu pháo
105ly cũng đã đến cùng các pháo thủ thuộc Pháo đội B3, người
bạn đường chung thủy của chúng tôi.
Trong máy truyền
tin PRC25 tôi nghe Trung Đội một của Bé cũng đã tiến chiếm
ngọn đồi phía Nam, và đang lục soát sâu xuống chân đồi, thở
phào nhẹ nhõm, Đại Đội đã đặt chân lên các mục tiêu trong
ngày khi trời vừa đứng bóng và lại đối diện với một khó khăn
khác trên ngọn đồi trọc lóc không một bóng cây.
Thông
thường, chúng tôi sử dụng cây rừng để làm công sự; trong
những cánh rừng vùng III hoặc vùng II, điều đó không thành
vấn đề, nhưng ở đây, chỉ toàn cỏ tranh muốn có một gốc cây
đủ kích thước quả là một điều khó khăn, những người lính
phải lội xuống chân đồi, trong điều kiện mơ hồ về tình hình
địch, vừa phải tổ chức mở rộng vòng an toàn, vừa cưa cây
chuyển lên đỉnh đồi, nên công việc tiến triển rất chậm, mãi
cho đến ngày hôm sau mới tạm ổn những hầm cá nhân chiến đấu,
chúng tôi còn phải thực hiện giao thông hào vòng quanh cứ
điểm.
Ngọn đồi thật đẹp trong nắng sớm, nó được chọn
lựa đúng bài bản chiến thuật, nằm trên một độ cao khống chế
toàn vùng trong vòng bán kính 10km, xa xa trong nắng sớm
chúng tôi nhìn thấy một cao điểm khác cũng đang rộn rịp trực
thăng lên xuống, trên bản đồ ghi ký hiệu 32.
Những
ngày yên tĩnh giả tạo chấm dứt khi chiếc trực thăng đầu tiên
của N+ vừa đáp xuống, cũng là lúc những trái 82ly nổ quanh
quẩn dưới chân đồi. Họ vẫn thế, vẫn bài bản cũ, lồng trong
tiếng động cơ trực thăng, những tiếng nổ đầu nòng của súng
cối trở nên khó xác định; thật thế, trên mục tiêu bị pháo
kích, chúng tôi rất khó nhận ra hướng địch đặt súng, cũng
như rất khó ước lượng khoảng cách, khi mọi tiếng động quyện
lấy nhau, hòa tan trong nhau rồi dội vào vách núi, nổ bùng
ra trong bụi, cát. Tiếng máy bay phành phạch phành phạch,
tiếng nổ của đạn pháo trên mục tiêu, tiếng pháo binh phản
ứng cấp thời trên những tọa độ tình nghi trong khi chờ đợi
xác định đúng vị trí địch.

Và họ cũng không
bao giờ biết vì sao chỉ cần sau trái đạn thứ ba bắn đi, là
vị trí của họ đã được tính chính xác trên yếu tố tác xạ của
các Pháo đội Pháo binh 105ly của chúng tôi. Vâng! chính xác
từng một phần mười ô vuông trên bản đồ để phản pháo nhanh
chóng, hiệu quả. Phần việc này của ba Đại Đội khác đang
quanh quẩn bên ngoài căn cứ, không xa, ngay khi súng cối
địch khai hỏa, các Đại đội trưởng phải nhanh chóng báo cáo
về Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn hướng đặt súng, ước lượng khoảng
cách, đồng thời các sĩ quan Pháo binh tiền sát cũng trực
tiếp gởi cho các Pháo đội số liệu tương tự. (Mỗi Đại Đội
luôn luôn có một tổ tiền sát viên Pháo binh do Tiểu Đoàn
Pháo binh tăng phái). Tổng hợp và phân tích các số liệu đó
thành các yếu tố phản pháo là công việc quen thuộc của các
Pháo đội. Chúng tôi kính phục tinh thần chiến đấu gan dạ của
các chiến sĩ pháo binh, dù đạn pháo địch có nổ dồn trên cứ
điểm, các anh vẫn vững vàng trong đội hình tác xạ, chính xác
từng vòng xoay hướng địch, nhanh chóng tung những viên đạn
rời nòng lao về phía địch, dội bão lửa xuống vị trí chúng,
khoá mõm chúng trong thời gian ngắn nhất. Và không ít lần,
đồng đội các anh đã ngã xuống ngay bên chân súng. Người nọ
nối tiếp người kia, nòng súng vẫn vươn cao gầm thét, như hồi
trống quân hành giục dã. Trong tấn công, hỏa lực của các anh
là mũi xung kích quan trọng, ghìm đầu giặc xuống cho chúng
tôi lao lên, năm mươi mét một, từng loạt đạn chuyển lằn
chính xác là tấm lá chắn vững vàng cho các chiến sĩ Khinh
binh nương theo chớp lửa hò reo xung trận, để khi giặc chưa
kịp hoàn hồn sau những loạt pháo, nòng súng đen tuyền nước
thép đã chĩa thẳng vào mặt chúng, vô hiệu hóa từng ổ đề
kháng, từng căn hầm vững chắc núp bóng dưới cây rừng. Trong
phòng thủ, các tuyến tiên liệu pháo binh đã tỏ ra vô cùng
hữu hiệu trong việc bẻ gãy các đợt xung phong biển người của
địch, chặn chúng lại dưới những hàng rào lửa, không cho
chúng có đủ thời gian chỉnh đốn hàng ngũ, đã phải vội vã
tháo chạy trước các đợt tấn kích phản xung phong được tung
ra đúng lúc.
Theo hướng phản pháo, chúng tôi phán
đoán địch đặt súng dưới chân dãy đồi thấp phía Tây–Nam căn
cứ, họ cũng không bắn được bao nhiêu phát đạn đã vội im
tiếng, không một trái nào rơi gần chính xác, phần lớn mất
hút vu vơ dưới thung lũng. Điều chúng tôi bâng khuâng là xen
giữa những trái đạn nổ sát thương là những trái đạn khói.
Tôi biết họ đang hiệu chỉnh tác xạ, việc này họ chưa bao giờ
làm trước đó.
Ngay khi đợt phản pháo cuối cùng chấm
dứt, chúng tôi được lịnh bàn giao vị trí cho Đại Đội 30 trám
tuyến trong khi chờ Đại Đội 31 rút về thay thế và rời căn cứ
tiến về hướng Tây, nơi một dãy đồi thấp chạy dài yên ngựa,
được xác định là vị trí pháo của địch. Chúng tôi có 45 phút
để chuẩn bị cơm nước, tăng cường cấp số hỏa lực và nhận thêm
Tân binh đã được đưa về Tiểu Đoàn vài ngày trước đó.
Muôn dẫn toán tiền đồn trở về, anh ngồi xuống bên cạnh tôi
và Thượng sĩ Đàng.
– Trung uý cho tụi tôi giữ luôn
cây M60! Tôi thấy tụi nó muốn chơi lớn rồi đó.
– Ai
mang?
– Tôi.
Thượng sĩ Đàng phân vân:
–
Thiếu M79 cũng ngại lắm, chú mày đâu có mang nổi hai em!
Muôn nhìn tôi do dự, hiểu ý anh tôi nói:
– Thôi
được, tôi sẽ mang cây M79 của Muôn, tôi cũng muốn thay đổi
không khí.
Trải tấm bản đồ xuống đất, tôi chỉ cho các
Tiểu đội trưởng các mục tiêu đã được đánh dấu, mục tiêu số 1
là một cụm rừng thưa trải dài theo đường thông thủy từ Bắc
xuống Nam, địa thế quan sát từ trên cao điểm 31 nhìn xuống
bị những ngọn đồi cuộn sóng cỏ tranh che khuất; nếu chạm
địch ở mục tiêu này, chúng tôi rất khó nhận sự yểm trợ chính
xác của Pháo binh vì tầm đạn lớn, lại bắt buộc phải bắn qua
đầu khi tác xạ từ Đồi 31. Mục tiêu số 2 không có gì lo ngại,
nó nằm ngay trên ngọn đồi trọc rất dễ định vị trên bản đồ,
và địch cũng không dại gì ém quân ở đó để làm mồi cho phi
pháo. Từ mục tiêu số 2, chúng tôi phải tiến qua một yên ngựa
hẹp và hiểm trở, trên bản đồ, những vòng cao độ chen sát vào
nhau chạy dài như một ngọn lao, hay đúng hơn, như một mũi
tên lao thẳng vào Đồi 31, qua khỏi yên ngựa đó là mục tiêu
số 3, dãy núi lấm tấm cỏ tranh, và một vài vệt xanh xám của
rừng.
Trao đổi ngắn với Tiểu Đội Khinh binh, chúng
tôi quyết định tăng cường cho Trung sĩ Biên bốn chiến sĩ từ
hai Tiểu Đội hỏa lực để Biên có đủ quân số chia làm hai bán
Tiểu Đội khả dĩ có thể yểm trợ được cho nhau theo đội hình
cuốn chiếu. Hạ sĩ nhất Chính, chỉ huy bán Tiểu Đội số hai.
Như vậy tất cả sinh lực của Trung Đội đã dồn lên phía trước,
chúng tôi hoàn toàn an tâm để Thượng sĩ Đàng chỉ huy đoạn
hậu, gồm hai Tiểu Đội hỏa lực còn lại, tôi theo Muôn ở bán
Tiểu Đội Khinh binh thứ nhứt, Biên và Chính ở Tiểu Đội Khinh
binh số hai. Phi, hạ sĩ truyền tin tình nguyện mang thêm hai
trái M72 kẹp bên hông máy, dù anh biết sẽ rất vướng víu khi
phải theo sát tôi trong tất cả mọi tình thế. Kiểm soát một
lần nữa các vệt lân tinh kẻ trên nón sắt và trên dải ba lô
của tất cả chiến sĩ, tôi gởi cho Muôn thủ hiệu xuất phát khi
cụm mây chiều bất chợt sà xuống, mang theo cái lạnh gờn gợn
của núi rừng.
Toàn Đại Đội đã rời khỏi căn cứ trong
bóng tối nhòe nhoẹt của rừng đêm đất lạ, tôi theo sát Muôn
để giữ đúng hướng trên địa bàn, trước mặt anh là Binh nhất
Thông và Hạ sĩ Chí đang ghìm chắc tay súng, vệt lân tinh
người trước dẫn lối người sau, tiếng sôi nhè nhẹ của máy
truyền tin như nối nhịp thở cho đoàn quân ra trận, nối mạch
sống người nơi tiền tuyến, đến mơ ước yên lành ở hậu phương
xa rời bạc bẽo. Phi dúi vào tay tôi ống liên hợp của máy
truyền tin.
– Hai (Trung Đội) nghe! Tôi trả lời nhè
nhẹ đón lịnh của Đại Đội.
– Nhanh thêm một chút, Hai
phải mời Thanh Lan The Last Tango.
– Hai nhận! Đích
thân.
Lệnh, chúng tôi phải thi hành, nhưng 2 cây số
đường rừng trong bóng tối, vẫn giữ đúng đội hình tác chiến,
vừa giữ chính xác tọa độ đơn vị trên một địa thế vô cùng
hiểm trở, chỉ cần người Khinh binh số một lệch bước chân một
độ trên la bàn, là cả đơn vị lệch xa mục tiêu hàng trăm mét,
sai số này không bao giờ được phép xảy ra trên chiến trường,
nếu không muốn nhận những hậu quả khốc liệt từ các hỏa lực
yểm trợ. Tôi nói với Muôn không cần mở đường như thường lệ,
len lách thật nhanh trong lau sậy tiến về phía trước, ưu
tiên giữ đúng hướng, giữ liên lạc hàng ngang với Trung Đội 1
bên phải và Trung Đội 3 bên trái, hai Trung Đội này đang
tiến rất chậm, vì họ phải mở rộng đội hình xuống hai triền
núi chông chênh, bảo vệ cạnh sườn đơn vị. Muôn quàng dây đạn
qua vai, xốc lại cây M60 nhìn xuống la bàn rồi băng lên phía
trước, Thông và Nam ghìm súng theo sau, tôi quay lại nhìn
đỉnh Đồi 31 mờ mờ in trên một vòm trời đen hình hổ phục, đối
chiếu hướng trên bản đồ và tọa độ những trái pháo dọn đường,
chúng tôi đang ở cách căn cứ một ô vuông rưỡi Tây–Nam, hỏi
lại Một và Ba có nhìn thấy chúng tôi? On và Bé cho biết,
đang theo sát. Chúng tôi đã lên đến đỉnh đồi, dưới kia là
mục tiêu số 1, rặng cây dài im lìm trong bóng tối. Tôi báo
cho Đại Đội “Đã nhìn thấy Thanh Lan.”
Thanh Lan! Nốt
ruồi duyên sao giờ đây gai góc và bóng tối, tên mục tiêu
được đặt một cách tình cờ với tấm hình trong ví, đang bay
theo làn sóng vô tuyến, đang nhấp nháy trên bản đồ của các
trung tâm hành quân lớn, nhỏ... Tiểu Đoàn... Lữ Đoàn... Sư
Đoàn... Quân Đoàn... và cao hơn thế, bao nhiêu ánh mắt đang
chờ đợi các chiến sĩ Khinh binh bắt tay người ca sĩ khi bản
tango cuối cùng dồn lên nhạc điệu... Nghĩa là chúng tôi phải
vào mục tiêu trước 12:00g đêm, dù chạm địch hay không chạm
địch... Và có khi, những bản tình ca ngọt ngào nàng đã hát
cũng mang theo ít nhiều may mắn cho người ái mộ. Trung Đội
đã không chạm địch trong phiên trực chiến số một của mình.
Chúng tôi dừng quân trên mục tiêu, sau khi gởi hai toán
tiền đồn trong phạm vi trách nhiệm, nhắc Thượng sĩ Đàng tổ
chức và kiểm soát tuyến phòng thủ, mắc vội chiếc võng giữa
hai nhánh cây rừng, quấn chiếc poncho tìm chút hơi ấm, tôi
chợt thèm một hơi thuốc cay nồng, vài trái hỏa châu rơi chầm
chậm xa xa, ánh sáng yếu ớt xuyên qua kẽ lá, mong manh những
hạnh phúc không thật và vô vàn điều khốn quẫn vây quanh.
Sáng hôm sau đơn vị lại lên đường, tận dụng tối đa yếu
tố bất ngờ chiến thuật, 5:00g sáng, Đại Đội đã gởi được toán
xung kích đầu tiên lên mục tiêu số 2, đầu cầu đã được lập,
Tiểu Đội Khinh binh của Trung Đội ba tiếp cận mục tiêu êm
thắm, Trung Đội tôi hết phiên trực, lệch qua cánh trái để
Trung Đội ba của On làm nỗ lực chính. Biên và Muôn dẫn đầu
bán Tiểu Đội Khinh binh số hai chếch xuống triền đồi, hội
quân ở số hai nhắm hướng số ba xuất phát, chúng tôi vẫn
chông chênh bên triền núi cách trục chính chừng năm mươi
mét, khoảng cách đủ tầm quan sát trên địa thế hẹp và rậm rạp
cỏ tranh, sim rừng.
Và... Ầmmmm... toctoctoc...
toctoctoc... toctoctoc...
Ngay trên nếp gấp khúc của
địa hình, chúng tôi chạm địch ở hướng chính, loạt đạn đầu
tiên của họ là một sự phối hợp nhịp nhàng của B40 và AK47,
sau đó là âm thanh ồm ồm của trọng liên, trên máy tôi nghe
On báo cáo đã có thương vong. Biên và Chính vẫy tôi từ sau
một ụ mối, khom người chạy lên theo hướng tay của Chính tôi
thấy cụm hỏa lực của họ, khẩu 12.8ly đặt ngay ngã ba của hai
dãy đồi gặp nhau khống chế trọn vẹn hướng tiến quân của
chúng tôi trên yên ngựa hẹp. Trung Đội ba hứng toàn bộ áp
lực đó và rất khó xoay sở. Tôi báo lên Đại Đội vị trí của
chúng tôi, tình hình địch, nhận định, và đề nghị của mình về
trận thế. Họ chưa phát hiện chúng tôi ở bên cánh trái, không
có lằn đạn nào quạt xuống sườn đồi, toàn bộ hỏa lực của một
chốt mạnh, bắn xối xả dọc theo lườn xâu táo và sườn phải,
nơi Trung Đội một và ba cũng đang bắn trả dữ dội, tôi ra thủ
hiệu cho toàn Trung Đội nằm im bất động, tránh sự phát hiện
của địch. Quá gần để xin sự yểm trợ của phi pháo, và cũng
không thể rút lui để dãn khoảng cách, khi mà các chiến sĩ
Khinh binh của Trung Đội ba đang nằm trọn trong tầm khống
chế của hỏa lực đối phương. Đại đội trưởng quyết định chuyển
hướng tấn công chính qua Trung Đội tôi, hai Trung Đội còn
lại tung hết hỏa lực, thu hút sự chú ý của địch.
Trao
đổi chớp nhoáng với Biên, Chính, Muôn, và Thượng sĩ Đàng,
chúng tôi đồng loạt khai hỏa tám trái hỏa tiễn M72 và cắp
súng lao lên. Muôn dũng mãnh như một con hổ dữ, cây M60 trên
tay anh đẩy dồn địch vào thế bất ngờ hoảng hốt sau một chùm
tiếng nổ uy hiếp của M72, địch quay ngoắt nòng 12.8ly sang
trái kết hợp với cây RPD cố gắng kháng cự, chúng tôi lại gặp
hên, có lẽ họ không tiên liệu được trên sườn dốc dựng đứng
lại có một cánh quân đang hành tiến một cách kín đáo, họ đã
để trống hỏa lực, và có lẽ các xạ thủ này quen bắn máy bay
hơn là đối kháng với bộ binh, nên đến khi Muôn xông lên gần
tới, nòng 12.8ly quay vội vàng, lại phải chúc mũi bắn xuống,
không đạt được hiệu quả tác xạ. Họ cũng can đảm không kém
khi phải đứng lên trước làn đạn điêu luyện của Muôn và tốc
đô xung phong dũng mãnh của các chiến sĩ Khinh binh với sự
dẫn dắt của Biên, Chính, Thông, Chí. Cây trung liên nồi RPD
cũng lâm vào tình thế tương tự. Họ không còn cơ hội để sửa
chữa sai lầm tai hại đó. M60 trên tay Muôn đốn gục tổ xạ
thủ, trọng liên của địch, cùng lúc Chính thảy chính xác một
trái lựu đạn M67 vào ngay ổ RPD, cơ phận địch sống sót nhốn
nháo rút lui gặp ngay sự truy kích của Trung Đội ba đang
“thừa thắng xông lên”, chốt đã bị bứng gọn, Trung Đội ba lại
được dương về phía trước án ngữ mặt tiền trận địa và chúng
tôi tổ chức phòng thủ tạm thời, để phòng địch phản kích để
tải thương và chuyển chiến lợi phẩm về căn cứ.
Không
có chiến thắng nào lại không đổi bằng máu xương người lính,
và vòng nguyệt quế nào lại không man mác chia ly, Biên bế
Chí trên tay giàn giụa nước mắt, máu anh thấm đẫm áo hai
người, Chí ngã xuống khi đang cùng với Thông cố chiêu hàng
người lính địch bị thương; anh ta ôm ghì khẩu AK trong hầm
chiến đấu, Chí chĩa súng thủ thế và ra lệnh:
– Bỏ
súng xuống, tôi sẽ đưa anh lên băng bó!
Đáp lại vòng
tay đầy tình người của Chí là một băng đạn AK hất ngược anh
trở lại. Chí chết khi hai mắt vẫn còn mở lớn. Nếu muốn giết
anh ta trong cơn thất thế, Chí đã làm việc đó dễ dàng, hà cớ
gì lại phải phơi người trước mũi súng, Chí ơi, Chí làm sao
hiểu được tại sao những chiến binh bên kia lại nhiều quá căm
thù?
Với Chí, khi chiến địa đã im tiếng súng, thì
chúng tôi không còn có kẻ thù, kể cả tù hàng binh của địch.
Việc gì chúng tôi phải căm thù những người lính bên kia? Họ
cũng như chúng tôi, tai trời ách nước. Tổ quốc không phải
mới phân ly lần thứ nhứt, người Việt xấu số không chỉ mới
một lần cầm vũ khí chống lại nhau, cầm bằng cuộc phân tranh
Trịnh–Nguyễn, cũng chẳng có bài học nào của lịch sử dạy
chúng tôi phải căm thù quân Nguyễn hay quân Trịnh và cũng
chẳng ai dạy hay bắt buộc chúng tôi phải học căm thù khi ra
trận. Không hơn không kém, họ chỉ đơn giản là kẻ địch và chỉ
là kẻ địch khi cầm súng đối kháng, còn khi họ đã là tù hàng
binh, họ cũng chỉ là thanh niên Việt Nam thời chiến, một học
sinh Hà Nội phải rời ghế nhà trường, một nông dân Nam Định
phải giã từ ruộng lúa... không gặp gỡ, không quen biết bao
giờ thì tại sao lại phải thù hằn khi cùng chung nòi giống?
Tôi buồn bã nhìn đống chiến lợi phẩm, Biên thảy xuống
trước mặt tôi cây 12.8ly bên cạnh khẩu súng cối 82 và RPD,
B40... ánh mắt anh thoáng nhiều trách móc, Chí là em kết
nghĩa của Biên, đã nhiều lần Biên nói với tôi để Chí đoạn
hậu, hay thử M60 cũng được, hai anh em tôi một đứa Khinh
binh được rồi, tôi lại rất ngại phải xáo trộn đội hình khi
phải đưa người này lên đưa người kia xuống, đã đành không
phải ở Tiểu Đội hỏa lực là an toàn hơn ở Tiểu Đội Khinh
binh, tỷ lệ thương vong ở hai vị trí này khi lâm trận là một
chín một mười, có khi địch tập trung hỏa lực khống chế cây
M60 nếu họ phát hiện, thì cũng gian nguy không kém; và hai
Tiểu Đội hỏa lực cũng phải xung phong theo đội hình Trung
Đội khi tấn công, chứ không phải chỉ thuần tuý yểm trợ. Tấm
lòng người anh của Biên muốn thu xếp cho người em một chỗ ít
nguy hiểm hơn mình đã không được toại nguyện. Chí đã vĩnh
viễn ra đi, sự hy sinh của anh khẳng định tính cách của
người lính bên này chiến tuyến. Chúng tôi chiến đấu không
hận thù và cuộc chiến đấu của chúng tôi mang đầy nhân tính.

Một mẩu chuyện về Đồi 31...
Phần 1,
2,
3,
4,
Mục lục


Phần 2
Một mẩu chuyện về Đồi 31...
Sau khi tái tiếp tế đạn được thu dọn xong chiến trường khoảng 10:00g sáng hôm đó, ngọn đồi trước mặt đang mù tung bụi cát dưới hàng loạt đạn pháo 105ly được bắn đi từ Căn cứ 31. Mục tiêu số 2 vẫn đang là một thách thức bí ẩn.

Đại Đội cho biết,
thằng 32 “Hông Thiếp”, đang tiếp cận phía sau và sẵn sàng
tăng viện khi chúng tôi hỏi thăm Thái Thanh, mục tiêu số 3.
Ý thức được tầm quan trọng của tình hình, cũng như dự đoán
chắc chắn, sẽ gặp lực lượng mạnh của địch, Đại Đội yêu cầu
bốn phi tuần phản lực oanh tạc mục tiêu trước khi tiếp cận,
cũng như phải được cover Cobra trên lộ trình. Tiếc thay!
Những yêu cầu hợp lý đó đã không được thỏa mãn. Từ Bộ chỉ
huy Tiểu Đoàn, Sĩ quan hành quân “Hồng Vân” cho biết “họ”
khước từ yểm trợ với lý do mục tiêu bị sương mù che phủ.
Sương mù che phủ? Tôi nhìn lên bầu trời trong vắt không một
bóng mây, lòng phân vân những điều không dám nghĩ tới.
Cuối cùng thì cũng phải lên đường theo quân lệnh và cũng
được cover bằng hai chiếc trực thăng võ trang VNAF, cám ơn
các bạn, dù sao chúng ta cũng cùng chung chiến tuyến, cùng
chung một mục đích để chiến đấu, đó là sự yên vui của quê
nhà, khi lòng nhân hậu của con người chưa thui chột giữa can
qua.
Từ điểm chạm địch buổi sáng nhìn đến số 3 khoảng
ba trăm mét ngắn ngủi, bằng mắt thường, ngọn đồi nằm im ắng
trong nắng sớm phất phơ từng chòm lau trắng bạc, quả thật,
không có dấu hiệu nào chứng tỏ họ đang chờ chúng tôi ở đó.
Chiếc OV10 nghiêng ngó lòng vòng trên độ cao an toàn, không
thấy gì, bắn hú họa một tràng đại liên rồi dông thẳng. Tiếng
người sĩ quan quan sát Việt Nam trên máy bay thoáng chút
phẫn uất ở tần số Đại Đội:
– Nó bay cao quá, tôi
không thấy gì được cả, xin các bạn cẩn thận, không thấy hầm
hố gì... nhưng có nhiều đường mòn mới rạp cỏ tranh lưng
chừng đồi hướng đối diện các bạn. Chúc may mắn! Hết.
Trước một kẻ địch mà kỹ thuật ngụy trang là tiêu chuẩn số
một trên quan điểm chiến thuật của họ, thì việc truy tìm vị
tí từ những phi vụ quan sát chiếu lệ trên loại máy bay trinh
sát võ trang OV10 quả là điều khó khăn, huống chi lại bay
quá cao, quá nhanh như ông bạn đồng minh vừa rồi thì hết
biết. Các quan sát viên, dù được huấn luyện đầy, dày dạn
trận mạc, khi tăng phái cho đồng minh trong những điều kiện
như thế, cũng không giúp gì hơn cho đồng đội.
Đợt
pháo kích theo lời yêu cầu vừa chấm dứt, hai chiếc HU1A nối
đuôi bay quành trở lại, phối hợp nhau gởi xuống mục tiêu
những quả rocket dài ngoằn xé gió. Chúng tôi biết mình phải
làm gì sau đợt không kích đó. Tôi đọc thấy thoáng âu lo trên
khuôn mặt từng chiến sĩ. Kể cả tôi, cũng không thể trốn
tránh thực tại hết sức căng thẳng của trận chiến. Vừa vượt
qua cái chết buổi sáng đã phân vân với số mệnh buổi trưa. Ai
đã đi qua chiến tranh, đã đánh chừng mươi trận mà vẫn còn
sống để chờ đợi trận đánh thứ mười một chưa biết mất còn,
mới chia sẻ được cái cảm giác hồi hộp, nặng nề của người
lính trước trận đánh. Huống chi quanh đây, không kể hai tân
binh mới ra trận lần đầu chưa biết hòn tên mũi đạn, từ quan
tới lính, người nào cũng dự vài ba chục trận, vài ba chục
lần quẳng cái bản chất thằng người tham sanh uý tử xuống
đất, ôm súng lao lên theo tiếng thét xung phong của đồng
đội. Có muốn hèn cũng không thể hèn được, có muốn dừng lại
cũng không thể dừng lại được. Cái cảm giác xung trận nó vô
cùng kỳ lạ, nó cuốn hút người ta lao vào bất kể tới đâu...
Nó thấy ta chưa chắc đã dám bắn, bắn chưa chắc đã trúng,
trúng chưa chắc đã bị thương, bị thương chưa chắc đã chết,
và chết chưa chắc đã... chôn. Cứ phỉnh phờ cái lo lắng, cứ
giả vờ hồn nhiên cười cợt, mà sao trong những đôi mắt kia
chợt tối nỗi bâng khuâng. Có phải Biên đang nghĩ đến đàn con
quây quần trong ánh đèn vàng vọt, căn nhà nhỏ trong trại gia
binh có ai đang thao thức nguyện cầu? Có phải Muôn đang nhớ
về người tình chơn chất, lời hẹn thề chưa ngút một tuần
trăng? Có phải Chính đang rối bời mẹ già tóc bạc, phận làm
con biền biệt chốn biên cương? Ô kìa ông Đàng! Mười hai năm
quân ngũ đã hằn lên vết tích, tuổi thanh xuân qua trên khổ
lụy quê nhà có làm anh ít nói, hay đang lặng im trên chính
về nỗi ước mơ còn xa vời vợi, mảnh vườn quê chim hót nắng
mai. Và Sĩ, Thông, và Kiều, và... hai mươi sáu cái nón sắt
rằn ri màu lá, che kín hai mươi sáu cõi riêng tư. Đã điên
đâu mà vui mừng hăng hái, có phải là đồ tể đâu mà say máu
bắn giết, chẳng qua, họ đã dấy động can qua thì chúng tôi
phải chiến đấu để tự vệ, để giành cái quyền sống làm người
theo cách đã chọn lựa.

Chúng tôi hiểu rằng,
đằng sau chốt tiền tiêu với chừng đó hỏa lực, vừa vượt qua
buổi sáng, không thể là một đơn vị nhỏ của địch, và lại càng
không phải của một căn cứ hậu cần dễ uy hiếp. Trên các xác
chết để lại, quân phục ka–ki Nam Định, không có quân hàm,
quân hiệu, cũng không có giấy tờ gì khả dĩ giúp chúng tôi
đọc được phiên hiệu đơn vị, tuy rằng điều đó không thật sự
cần thiết cho trận đánh, nhưng dù sao, cũng muốn biết mình
đang đánh nhau với thằng nào, quen hay lạ, đòn thế và nội
lực ra sao để còn tính bề xoay sở.
Và cũng thật khó
khăn khi phải mô tả địa thế, trên bản đồ vị trí phỏng đoán
có địch là những vòng cao độ hình móng ngựa, một ngọn đồi
cánh cung mà hướng tiếp cận duy nhất lại nằm gọn giữa hai
cánh tay đáng ngại đó. Yếu tố bất ngờ cũng không còn khi đã
bộc lộ hỏa lực. Trên mấy ngọn núi quanh quẩn đâu đây, chắc
chắn những ống viễn kính của cấp chỉ huy cao hơn đơn vị địch
tại trận tuyến cũng đã nhìn thấy chúng tôi mồn một. Không
biết cấp chỉ huy cao hơn của chúng tôi có nhìn thấy họ, để
cân nhắc từng quân cờ hay chỉ thúc quân vô tội vạ trên làn
sóng vô tuyến... Tiến lên! Tiến lên! Với bất cứ giá nào.
Dĩ nhiên, chúng tôi phải tiến chiếm mục tiêu. Nhưng
không phải với bất cứ giá nào như thượng lịnh. Cấp Đại Đội
luôn luôn cân nhắc cái giá phải trả cho từng giờ, từng phút,
cuộc chiến đâu phải chỉ ngày một ngày hai, và mục tiêu đâu
chỉ là một, hai, ba bốn... Cần dè xẻn từng giọt máu phải đổ,
để mỗi lần xuất phát khỏi nhìn trước ngó sau, đếm lui đếm
tới, buồn bã tiếc nuối những mũi nhọn đã mất đi, như một cơ
thể đang cường tráng bỗng hụt hẫng một phần sinh lực.
Trên quan điểm đó, Đại Đội quyết định gởi 3 toán trinh
sát thăm dò hỏa lực địch, mỗi Trung Đội phụ trách một toán,
gồm ba chiến sĩ, mang theo PRC6 (chúng thường gọi máy truyền
tin loại này là “Bà già trầu”, mang theo gánh nặng, lại
không sử dụng được bao nhiêu, thường thường nghe ngoài rõ
hơn trong). Đụng địch ở đâu, nằm lại vị trí đó, các Tiểu Đội
đại liên M60 sẵn sàng yểm trợ, bắn che cho trinh sát.
Chính, Thông, Sĩ lo phần việc đó của Trung Đội, họ phải
theo xuống triền đồi rồi ngóc lên ở vòng cung bên trái, yểm
trợ tích cực cho toán 3, nếu cần, tung hỏa lực nghi binh để
toán này tiến lên được càng cao càng tốt.
Ý đồ của
Đại Đội như thế. Nhưng đối phương đã kịp thời phản ứng. Ngay
khi các toán trinh sát xuất phát chừng một trăm mét, trận
địa đang im ắng bỗng rộ lên hàng loạt tiếng súng cối và
tiếng đạn đi xé gió, khoảng năm hoặc sáu khẩu 82ly của địch
xa về hướng Tây, tác xạ tập trung vào vị trí Đại Đội, dù
không chính xác cho lắm, nhưng pháo kích kiểu vãi đậu như
thế này, quả thật cũng làm chúng tôi lúng túng. Phía trước
mặt, hỏa lực bắn thẳng của họ cũng bắt đầu lên tiếng, hòng
chặn đứng mũi tiền kích đang cố gắng bám vị trí.
Trong khi chúng tôi chật vật vì súng cối địch, thì vị trí
của họ cũng tả tơi dưới hàng loạt đạn pháo của B3 từ Đồi 31
và từ Pháo đội C3 (CCHL 30...) trong tầm hiệu quả, đang bắn
yểm trợ.
– Lỡ rồi! Chơi luôn Một Hai Ba!
– Một
nhận!
– Hai nhận!
– Ba nhận!
– Tụi nó ở
dưới khe suối cạn và đỉnh đồi bên kia!
– Chờ thằng
Phở bắc nấu xong tô nào chơi tô đó, Phú Bổn lên với Phú Ông,
Một và Hai theo luôn trái phải!
– Hai nhận!
Biên đã bắt tay được với Chính, Thông, Sỹ tôi vắn tắt lịnh
tấn công sau đợt pháo chuyển làn tác xạ, cần phải nhanh
chóng giải quyết trận địa nếu không muốn làm bia cho địch
pháo kích.
Đúng lúc những loạt đại bác dồn lên sườn
đồi bên kia, chúng tôi đánh ép xuống thung lũng với nòng
súng cắm lưỡi lê sẵn sàng cận chiến. Từ triền dốc thoai
thoải, Biên và Chính phối hợp nhau dẫn đồng đội tiến lên
từng điểm ẩn nấp dưới làn đạn địch; Thông băng thật nhanh
lên phía trước, bắn ghìm sát mặt đất vừa dứt một băng đạn là
đã tấp vào được một gốc cây ven bìa suối, ống quần rách toạc
vì vướng gai buổi sáng chưa kịp thay, lòng thòng miếng vải
phất lên phất xuống không đủ che cái mông ốm nhách, xám xịt;
anh chàng quay lại toét miệng định cười, đã vội nằm hụp
xuống, tay giữ nón sắt, co gọn người tránh làn đạn vuốt cỏ
cây ngã rạp bên cạnh; anh rút chốt trái lựu đạn ném về phía
trước, bắn rẽ quạt cho Chính, Sỹ, và Tiểu Đội Khinh binh
tiến lên hàng ngang, bám được bìa rừng là nắm chắc tám mươi
phần trăm chiến thắng, là hạn chế tối đa thương vong. Và
địch cũng hiểu như vậy nên họ tổ chức phản kích dữ dội, liệu
thế đơn vị chốt tại bờ suối không chống đỡ nỗi, khoảng chừng
một Trung Đội địch từ trên đỉnh đồi tràn xuống cứu viện,
quyết không cho chúng tôi vượt qua.
Đến đây tôi chợt
hiểu, chúng tôi đã được chỉ huy và theo dõi chu đáo từ Bộ
chỉ huy Tiểu Đoàn, Lữ Đoàn, khi cánh quân địch nhớn nhác
tràn xuống chưa tới lưng chừng đồi đã phải khựng lại rồi tan
tác dưới từng loạt pháo nổ chụp thần sầu của B3. Từng mảnh
người tung lên rồi đổ gục. Ha ha chưa biết ai chơi “Công đồn
đả viện” thiện nghệ hơn ai đấy nghe ông bạn. Liễu Thăng, Mộc
Thạnh đã bị chém đầu thì Vương Thông còn hơi sức đâu mà đấm
đá. Hàng ngũ địch hoảng loạn, hỏa lực của họ tức khắc rối
bời không che phủ nhau được như trước. Đúng lúc đó, Đại Đội
phát lệnh xung phong toàn đơn vị.
– Xung phong!
Tiếng thét rền vang vách núi, đoàn quân băng băng trên
triền dốc lao xuống, vượt qua lửa đạn, vượt lên chông gai
xông tới, tiếng quân reo át tiếng đạn thù. Xung phong! Xung
phong, đạn xủi mặt đất, đạn xuyên tàn lá, đạn nổ bùng lửa
đỏ, đan veo véo bên tai, người trước ngã người sau xông tới,
khản cổ theo tiếng reo đồng đội, tim đập muốn vỡ tung lồng
ngực. Hây Sỹ, sao nằm đó? Hây Kiều! Sao nằm đó? Tụi nó chết
rồi! Hây! Phi? Bị thương rồi hả? Đưa máy đây! Xung phong
xung phong. Tôi quàng vội chiếc máy truyền tin, dặn Phi nằm
đó, Trung Đội 4 sẽ lên kéo về. Hai nghe Hai nghe! Lên luôn
nhận năm, được 3 hầm có cả cối! Nằm xuống Trung uý! Chính
húc luôn cái nón sắt vào mặt xô tôi ngã rạp đúng lúc làn đạn
cắt lá rụng tả tơi trước mặt, không hề gì, cái hầm này nằm
dưới đám rễ cây, nãy giờ chơi đủ thứ không suy suyển.
– Á hà! Nó bắn nữa đó, thằng này kẹt chấu lên không được
xuống không được coi bộ liều mạng.
– Hai đây Phú Bổn!
– Hai nghe!
– Sao hai?
– Còn một thằng
chưa nuốt nổi.
– Nói con cái đừng chơi như thằng Chí.
Khỏi bắt tù binh nghe chưa!
– Nhận năm.
–
Biên! Biên! Kêu ông già thảy lỗ.
“Ông già thảy lỗ” là
biệt danh của Thượng sĩ Đàng, cái tài bắn bun (bowl) trăm
phát trăm trúng của ông “Đã biến đơn vị vô địch thủ, hắc
diện Thượng sĩ”, cả Tiểu Đoàn không ai địch nổi. Nghề chơi
đôi khi cũng hữu ích cho cuộc sống, nên khi nào ông cũng thủ
sẵn cho riêng mình cả chục trái M26 loại cũ, loại này tin
tưởng hơn, nhảy mỏ vịt rồi ít nhất cũng ba mươi giây mới nổ,
đủ thời gian cho mình nhắm, không nổ bất tử như thằng tròn
M67, có bữa tan xác.
– Ông thấy cái miệng hầm không?
– Đâu? Đâu?
– Dụ cho nó bắn đi Muôn!
– Đó
đó nó bắn đó! Khỏi dụ! Hai đứa lận.
– Bắn che cho tôi
đi!
– Có ngay!
Bốn năm tay súng cùng châu về
một phía bắn quyết liệt, Đàng im lìm sau một gốc cây, tay
nắm chắc trái tạc đạn đã rút chốt vẻ mặt căng thẳng.
– Trúng!
Mỏ vịt bật đánh tách một tiếng trước khi nhẹ
nhàng rời khỏi tay khum num vuốt nhẹ, rồi khẽ kéo giật lùi
như vừa đủ điều khiển một sợi giây vô hình dẫn tới mục tiêu,
nhuần nhuyễn, chính xác như đang ném viên bun trong sân chơi
Tiểu Đoàn.
Ầm...
Chỉ chờ có thể, sự phối hợp
chiến thuật nhuần nhuyễn của các chiến binh dàn dạy trận mạc
đã gần như bài bản của một đội bóng chuyên nghiệp, mà các
cầu thủ đã hiểu rõ ý nhau, tin tưởng vào khả năng giao bóng
chính xác của đồng đội. Trong nháng lửa vừa dứt, đã thấy
Thông và Muôn sừng sững trên miệng hầm toang hoác, súng trên
tay hai người rung lên từng hồi chớp giật. Vậy thôi, chiến
tranh không còn chỗ cho sự khoan nhượng khi mà giọt máu của
Chí còn nóng hổi trên trận địa, không còn thời gian để lưỡng
lự khi cái chết và sự sống gần nhau trong gang tấc. Thêm Sỹ
và Kiều, trong một ngày mất luôn 3 mạng người không thể thay
thế, không thể so sánh khi đã cùng nhau miệt mài trên những
nẻo đường đất nước. Các sĩ quan ở Tổng cục chiến tranh chính
trị và Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu có thể xoa tay hài lòng
trước sự chênh lệch về tỷ số thương vong của hai phía, đếm
xác địch và ta để thống kê chiến thắng.
Vâng, mười
hai xác địch tại trận địa, vắt vẻo trên miệng hầm trong một
tuyệt vọng thoát thân, chôn vùi trong hố chiến đấu bị bắn
sập trong cố gắng kháng cự, tan xác dưới hố đạn pháo binh...
So với hai chiến sĩ ta tử trận. Tỷ lệ chênh lệch lớn lao đó
cũng không thể xoa dịu nỗi đớn đau của người lính bên xác
đồng đội. Bên những khuôn mặt mới đây còn nói nói cười cười,
còn chia nhau mẩu thuốc quân tiếp vụ cong queo trong túi
áo... hay thậm chí mới đây còn... đm thằng này thằng nọ.
Riêng với Kiều, tôi đã mất đi không những một chiến sĩ
đôn hậu, thật thà, tháo vát mà còn mất đi mối tình thân họ
mạc. Kiều cùng quê với tôi, khi tiếp nhận Trung Đội từ Trung
uý Dũng, tôi nhận luôn sự ký thác về người lính nhỏ tuổi
nhất đơn vị của anh.
– Nó nhỏ quá, mới mười sáu tuổi,
khai gian mười tám, trốn nhà đi lính, mầy lo được gì cho nó
thì giúp.
– Lo!
Chuẩn uý Trung đội trưởng như
tôi thì lo được gì ngoài việc bố trí quanh quẩn trong Trung
Đội, thôi thì ở với tôi, tôi phong cho chức phụ tá Truyền
tin Trung Đội, một chức vụ không có trong bảng cấp số Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa, chia sẻ với nhau mang vác, ngoài súng
đạn cá nhân còn có gạo sấy, lương khô, pin dự phòng cho
PRC25, theo ông Sâm (Trung đội phó cũ) ở đoạn hậu, được đâu
chừng hai cuộc hành quân, qua lần hành quân thứ ba anh chàng
ngập ngừng nói với tôi... “Chuẩn uý cho tui ra ngoài, tụi nó
nói tui làm tà lọt cho Chuẩn uý chứ không phải phụ tá Truyền
tin.”
– Trời đất! Cái thằng Bật mã Ôn! Làm gì có vụ
tà lọt trong này?
– Tôi biết đây là trò trêu chọc của
đám lính cũ dành cho anh chàng ngây thơ mặt mụn; tà lọt nỗi
gì khi tôi cũng phải một ba lô đầy nhóc, lỉnh kỉnh đủ thứ,
súng tôi cũng dài như súng hắn, tôi cũng phải cong đít đào
hầm như hắn, ăn tôi cùng ăn với hắn, ngủ hắn còn ngáy to hơn
tôi...
Tôi làm mặt giận, mà giận thiệt! Khả năng tôi
chỉ có chừng đó, hắn khước từ coi như tôi cụt vốn.
–
Ưng ra thì ra, nói ông Sâm cho người bàn giao đồ nghề rồi ra
ở với Trung sĩ Yến!
– Chuẩn uý cho tui đi Khinh binh!
– Nhiều chuyện, về tổ đại liên với ông Yến đi đã.
Kiều về Tiểu Đội hỏa lực, với sức vóc bặm trợn nên được
cho thủ cây M60 làm xạ thủ chính, mối thân tình giữa chúng
tôi chẳng có gì sứt mẻ. Những lần về hậu cứ, ai đi đâu thì
đi, Kiều cứ quanh quẩn trong doanh trại, cơm gạo tạ cá mắm
chuồng mà sao mỗi ngày một cao lớn.
Tôi giở poncho
nhìn mặt Kiều và Sỹ lần cuối, máu người chết trận sũng thấm
màu áo lính; hai người lãnh nguyên mấy mảnh cối 82ly nổ trên
tán cây, chụp xuống khẩu đại liên đang mải mê nhả đạn.
Địch vẫn pháo kích, không có dấu hiệu gì chứng tỏ họ từ
bỏ trận địa sau khi đã thua đậm hai trận, với chừng đó tổn
thất mà vẫn giữ ý định bám chốt, thì rõ ràng quân số họ phải
nhiều hơn một Đại Đội. Hai vị trí quan trọng, bị mất trong
một ngày, coi như vòng phòng thủ ngoại vi của đơn vị địch
trên đỉnh đồi đã bị nhổ sạch, (nếu họ có ý định phòng thủ),
những hầm hố còn tươi gỗ mới, chứng tỏ họ cũng vừa chân ướt
chân ráo tới đây, và mục tiêu thì đã quá rõ rệt, khi bố trí
với mức độ vượt cấp số bích kích pháo 82ly trong tầm hữu
hiệu đến Căn cứ hỏa lực 31.

Vâng, chúng tôi
đang công phá mắc xích đầu tiên của một sợi giây đang dần
dần hình thành chung quanh ngọn đồi chiến lược, mà trận
chiến đấu đẫm máu sau này, cũng do chính đơn vị tôi phòng
thủ, trong cái phủi tay của lời hứa không yểm, trong thế
chênh lệch quá cao về quân số, hỏa lực. Mỉa mai thay, ưu thế
đó lại thuộc về phía địch. Trong cái xoa tay hí hửng của
“Bạn” và thù, trong cái đau đớn của vị Tư lệnh Sư Đoàn, khi
giọng nói ông đi vào tận tần số Trung Đội, chia sẻ với người
Trung đội trưởng vô danh, với người chiến sĩ Khinh binh tiểu
tốt những gian nguy đang có, bất lực nhìn con cái đã tăng
phái vào tuyệt địa, tước mất cây gậy chỉ huy đầy hiệu lực
trong tay ông. Thân làm tướng, thành hay bại còn do thời do
thế, nhưng chừng mực nào đó, để lại trong lòng thuộc cấp
chút gần gũi, ngưỡng mộ, âu cũng là lưu chút lòng son với sử
xanh.
Tất cả thương binh, tử sĩ đã được Trung Đội 4
chuyển về phía sau để cấp cứu và chờ tải thương. Phi bị một
viên đạn xuyên đùi trái, tôi chỉ biết khi cái ống liên hợp
tuột khỏi tay tôi, và Phi ngã quỵ. Thượng sĩ Sâm đưa Quá lên
mang máy sau khi đã hỏi ý kiến tôi. Ai cũng được, chẳng có
chỗ nào an toàn, trong cuộc chiến ác liệt này.
Chúng
tôi phải bố trí lại hỏa lực khi cây đại liên của Kiều đã bị
hỏng chưa kịp thay thế. Trung Đội 1 không có thương vong,
Trung Đội 3 lại dính thêm một chết, hai bị thương, vị chi từ
sáng tới giờ, hắn ba, tôi ba, đổi lại trên hai mươi xác địch
với từng đó súng ống, chưa kể súng cộng đồng. Nếu cách đây
một, hai năm, với thành tích đó có thể khao quân ân thưởng,
rộ thêm vòng hoa chiến thắng. Huân chương, huy chương trĩu
nặng trên hiệu kỳ đơn vị. Thì hiện nay cường độ chiến cuộc
đã trở nên ác liệt, hiếm có cuộc hành quân nào chỉ đơn độc
một Lữ Đoàn tham chiến; địch cũng như ta, tăng cường hết khả
năng có thể có vào mỗi một chiến trường, và phiên hiệu mỗi
bên ít nhất cũng là những Sư Đoàn phối thuộc, thì với những
vị trí vô danh vừa chiếm được, chỉ là cuộc chạm trán ngắn
ngủi giữa những đơn vị tiền tiêu, để hai bên thăm dò khả
năng lực lượng đối thủ, trên một trận tuyến mở rộng gần cả
trăm cây số, từ Khe Sanh Lao Bảo đến tận Bản Đông, Tchepone
Hạ Lào.
Và nhiệm vụ chúng tôi vẫn chưa hoàn tất, khi
mục tiêu số ba trong phần trách nhiệm chưa giải quyết xong.
Hai bên trao đổi từng đợt pháo kích, mặt đất liên tục bị cày
nát lên mù tung bụi cát, khói lửa. Lệnh Phú Bổn phải tấn
công dứt điểm trước khi trời tối, chúng tôi hiểu, khi truyền
đạt lệnh này, ông đã nghĩ đến những khó khăn sẽ gặp trên một
chiến trường hoàn toàn xa lạ vào đêm tối. Kinh nghiệm trận
mạc của người sĩ quan Đại đội trưởng thâm niên nhất đơn vị,
xuất thân Khoá 18 Võ Bị Quốc Gia, khước từ thân thế, đã từng
thu xếp cho ông một chỗ êm ấm trong văn phòng Tư lệnh Sư
Đoàn, để về đơn vị chiến đấu, mọi quân hàm trên cổ áo đều nở
sớm trước niên hạn qua biết bao nhiêu chiến tích.
2:00g chiều, mặt trời đã ngả về Tây, cơn nắng chói khô khốc
chợt rộ lên luồng gió nóng, ngay sau khi căn hầm cuối cùng
tại bờ suối bị Thông và Muôn tiêu diệt; Trung Đội cấp tốc
tiến lên phía trước, di chuyển thật nhanh trên một địa hình
trống trải dưới hỏa lực vỗ mặt của địch, tuyến tấn công phải
mở rộng hai cánh. Chúng tôi cũng chẳng phải Tề Thiên Đại
Thánh hay mình đồng da sắt gì để khơi khơi xông thẳng vào
lửa đạn, từng khoảng cách rút ngắn giữa địch và ta cũng đồng
nghĩa với từng phút giây bọt bèo sống sót. Là từng giây
phóng mình thật nhanh từ điểm ẩn nấp này lao qua điểm ẩn nấp
khác, gò mối, gốc cây, bụi cỏ, tảng đá, hay thậm chí chỉ là
một nhánh lá mong manh. Đạn địch xủi dưới gót chân, đạn vỡ
tung vỏ cây trước mặt... Là bắn, là bắn, bắn hết khả năng
của vũ khí, để tiếng đạn mình át tiếng súng thù, để chỉ còn
bên tai tiếng nổ giòn của M16, tiếng gà nòi ấm cũng của
M60... Cọc cùm... cọc cùm M79 gõ nhịp. Lưng chừng đồi cỏ cây
ngã rạp, vỏn vẹn chừng một trăm mét nữa là xong, là phận ai
nấy biết, nhưng không tài nào, tiến lên được nữa. Chúng tôi
bị chận đứng ngay trên vị trí một Trung Đội của họ bị tiêu
diệt trước đó, xác người rải rác chung quanh những vết nổ
của đạn pháo.
Bây giờ đến lượt pháo địch nổ giữa
chúng tôi, cộng với hỏa lực dày đặc từ đỉnh đồi bắn xuống
không ngóc đầu lên được chứ đừng nói nhổm người dậy. Tôi rủa
thầm, ở đâu ra mà nhiểu 12.8ly bắn rát mặt, đụng sơ sơ từ
sáng tới giờ, cả 3 tuyến đều có phòng không. Gió lại trổi
mạnh, cũng may, nhờ thế mà những trái 82ly bị đẩy dạt khỏi
mục tiêu, dù không xa, nhưng cũng hạn chế được ít nhiều
thiệt hại, cũng có thể họ chưa tính hết sức gió trong yếu tố
tác xạ. Giờ này mà có vài phi tuần gõ xuống đỉnh đồi chừng
chục trái năm trăm pound, bới tung hầm hố nó lên thì đỡ vất
vả biết bao?
– Một, Hai, Ba đây Phú Bổn!
– Một
nghe Đích thân!
– Hai nghe Đích thân!
– Ba
nghe Đích thân!
– Cho cóc nhái sẵn sàng! Các Đích
thân gặp Phú Bổn ngay.

Tôi ngạc nhiên, đang
đánh chác thế này co về thủ sao được trên một vị trí quá
nguy hiểm mà ổng lại ra lệnh sẵn sàng mìn và chiếu sáng?
Phân vân thì phân vân, cũng phải tìm gặp ổng rồi mới tính.
Giao máy cho Thượng sĩ Sâm chỉ huy Trung Đội, tôi lần mò trở
lại chừng hai mươi mét. Cả Bộ chỉ huy Đại Đội mặt mày đen
thui vì khói, than, chẳng hơn gì chúng tôi.
– Vắn tắt
cho các anh rõ! Lệnh Sư Đoàn phải nuốt xong cục xương này
mới được nghỉ. Tập trung mìn chiếu sáng lên phía trước, theo
lệnh trên máy, đồng loạt ném và xung phong ngay, các anh
thấy gió chuyển hướng mạnh về phía tụi nó chứ?
– Đốt
tụi nó?
– Phải làm nhanh, gió đổi hướng lại chạy
không kịp đó! Rõ chưa? Về làm nhanh!
Trước khi quay
về Trung Đội, tôi liếc nhìn cuộn poncho gói xác, đưa mắt hỏi
Thượng sĩ nhất Xá:
– Ai đó?
– Trung sĩ Tâm,
Pháo binh Đề lô.
Lẩm nhẩm một lời cầu nguyện vô bổ,
chết chi trẻ quá Tâm ơi! Tôi băng mình trở lại tuyến chiến
đấu, chuyển đạt nhanh chóng mệnh lệnh tác chiến.
–
Một, Hai, Ba, đây Phú Bổn! Xong chưa?
– Một xong!
– Hai xong!
– Ba xong!
– Đánh!
Tôi
phất tay cho Trung Đội đồng loạt ném hết cơ số mìn chiếu
sáng về phía trước. Tách tách tách... xòe xòe... tách tách
xòe xòe lốp bốp lốp bốp, ngọn lửa lùng bùng lên dữ dội rồi
lan nhanh về phía trước, râu tóc mặt mày khét lẹt. Thế
thượng phong ngàn năm một thuở, lửa lửa, lửa cuộn lên theo
tiếng quân reo, lửa tràn lên theo cỏ tranh giòn giã, khói
cuồn cuộn mịt mù, khói làm màn che cho quân ta tiến tới, bốc
trong bão lửa xông lên. Lưỡi lửa liếm một vòng cung hình bán
nguyệt, thắt gọn vị trí địch trong trận hỏa công dữ dội,
những căn hầm được ngụy trang kỹ lưỡng bằng cỏ tranh tiệp
màu bỗng chốc trở thành mồi ngon cho ngọn lửa, hầm đạn nổ
tung tóe, cả ngọn đồi nhanh chóng ngập tràn biển lửa, địch
quýnh quáng tung hầm tháo chạy, có tên lưng còn bốc khói.
Các chiến sĩ Khinh binh tràn lên đỉnh đồi chiếm lĩnh trận
địa, thanh toán nhanh chóng những ổ kháng cự yếu ớt, địch
làm sao chống lại nổi khi trước mặt là lửa táp, là khói
thuốc theo luồng gió ngược, lùa vào mồm vào mũi, tối tăm mặt
mày chưa kịp dụi mắt ngáp gió lấy hơi đã gục ngã trước lưới
đạn càn quét quyết liệt của quân ta đang tràn lên theo lửa
cuốn. Đại Đội khai thác tức khắc hiệu quả chiến thắng, thúc
cả ba Trung Đội đánh bung sườn đồi, đuổi địch chạy có cờ
xuống thung lũng.
Trận đánh thật đẹp và hùng tráng,
trong bối cảnh ráng chiều chưa tắt, ánh nắng xuyên qua khói
lửa rải xuống chiến trường những giải vàng lóng lánh, thấp
thoáng bóng quân ta dọc ngang đỉnh đồi, như thấp thoáng hồn
sông núi cựa mình muốn vượt qua định mệnh. Tiếc quá, không
có một phóng viên chiến trường nào ghi lại được trên băng
nhựa phút giây ngất trời ngạo nghễ đó, để mai này, trên
những ký sự truyền hình được chiếu ra rả từ hai phía suốt
hai mươi năm, cuộc chiến trên quê hương đau đớn chúng ta
không phải chỉ là cuộc chiến của người Mỹ và phía bên kia.
Bộ chỉ huy Đại Đội cũng lên tới đỉnh đồi trong lúc địch
vẫn tăng cường độ pháo kích, chúng tôi được lệnh thu dọn
chiến trường thật nhanh để rút khỏi trận địa. Có lẽ thăm dò
như thế là đủ và chúng tôi cũng đã kiệt sức sau một ngày dài
quần thảo không ăn không uống, ngoài những bụm gạo sấy bốc
vội vàng thảy vào miệng, chiêu một chút nước dè xèn, hầu có
đủ sức đuổi theo chiến trận.
Dưới hỏa lực pháo kích
ngày càng dữ dội, Đại Đội nhanh chóng chuyển tất cả thương
binh tử sĩ về phía sau cùng với súng ống của địch; không đủ
thời gian thu nhặt, nên ngoài những vũ khí cộng đồng bắt
buộc phải chuyển về như cối 12.8ly và 82ly không giật mà
địch còn để lại nguyên vẹn, các vũ khí cá nhân AK, B40, phải
tháo gỡ tùng bộ phận, nòng súng liệng một nơi, cơ bẩm quẳng
một ngã, lửa cháy để lộ nguyên một đỉnh đồi với hầm hào chi
chít của cấp Đại Đội cộng. Thế mà trước đó, khi hai chiếc
HU1A bay lòng vòng trên đầu, họ vẫn ém kỹ hỏa lực mạnh mẽ
này không khai hỏa, mãi cho đến khi chống đỡ dưới áp lực
công kích của chúng tôi, mới lên tiếng.
Trong số địch
tử thương, có hai người là cấp chỉ huy, trong căn hầm bị
Trung sĩ Yến, Tiểu đội trưởng Tiểu Đội hỏa lực số hai bắn
sập bằng M72, có cả máy truyền tin Trung cộng, hai xác chết
đeo hai cây K59 còn mới.
Và thật đau đớn, ngay khi
nhận được lệnh di chuyển khỏi vị trí, chúng tôi vĩnh viễn
mất người chỉ huy thân thiết, tài giỏi. Thượng sĩ nhất Xá
băng ngược đội hình, chạy lên tìm tôi:
– Trung uý!
Đại uý chết rồi!
– Sao? Sao?
Tai tôi lùng
bùng, không tin điều mình đang nghe.
– Thượng sĩ
Đàng! Thay tôi chỉ huy Trung Đội.
– Vâng! Trung uý.

Tôi theo ông Xá chạy quành về Bộ chỉ huy Đại
Đội. Trên vết nổ còn bốc khói của một trái 82ly, Đại uý Lê
Thành Bôn, Đại đội trưởng Đại Đội 33 Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đã
anh dũng hy sinh; hai tay ông còn nắm chặt ống liên hợp trên
hai chiếc máy truyền tin vỡ nát, bên cạnh hai người lính
truyền tin hy sinh cùng lúc. Tôi biết, trong những mệnh lệnh
mà ông truyền đạt trên máy, yếu tố hạn chế thiệt hại cho
thuộc cấp là ưu tư hàng đầu của người sĩ quan nhân hậu, đằm
thắm, và tài ba nhất Tiểu Đoàn. Nếu không có ông, mấy ai đã
nghĩ ra trận hỏa công thần sầu đem chiến thắng về cho đơn vị
với thiệt hại tối thiểu.
Tôi nằm hụp xuống khi tiếng
đạn xé gió lao tới, hai máy truyền tin không còn sử dụng
được, phải kéo máy của Trung Đội hai và Trung Đội bốn về để
duy trì chỉ huy liên lạc. Tôi lên máy báo về Bộ chỉ huy Tiểu
Đoàn:
– Không chín đây Phú Bổn!
– Không chín
nghe!
– Đích thân Phú Bổn đã về nhà.
– Tôi
hiểu! Giữ nguyên vị trí! Hồng Vân sẽ cho lệnh tiếp.
–
Phú Bổn nhận.
– Không ba đây không sáu.
–
Không ba nghe (Không sáu – Sĩ quan hành quân Tiểu Đoàn. Đại
uý Lê Hồng)
Không ba bây giờ là Phù Đổng. Phù Đổng bẻ
cổ gà gặp Hồng Vân. (Bẻ cổ gà: thay tần số liên lạc)
– Phù Đổng nhận.
Tôi nhận được lệnh tạm thời chỉ huy
Đại Đội trong khi chờ đợi một vị Đại uý khác ra thay thế, và
cấp tốc đưa đơn vị trở lại Thanh Lan, dành khoảng trống mục
tiêu cho một vệt B52 sẽ cắt ngang trước nửa đêm.
Tạm
thời, nhưng tôi biết là sẽ vô cùng nặng nề đối với chàng
thanh niên hai mươi lăm tuổi, chưa tròn bốn năm lính kể cả
chín tháng ở quân trường, dù đã vững chãi trong nhiệm vụ
Trung đội trưởng, quen thuộc chiến trường với hai mươi chín,
ba mươi người lính, quanh quẩn tới lui cũng chỉ có hai Tiểu
Đội hỏa lực, một Tiểu Đội Khinh binh, khả năng điều động
chiến thuật cũng đơn giản, chỉ đâu đánh đó, mà ông Đại đội
trưởng đã thân mật, gần gũi như một người anh cả trong gia
đình, về tuổi quân cũng như tuổi đời. Địch trải rộng tầm
pháo kích suốt trận tuyến khi mặt trời vừa tắt bóng.
Gồng mình với trách nhiệm mới và thật vô cùng lúng túng
trước tiếng đạn réo bom rơi, hai tai léo nhéo hai ống liên
hợp, không biết phải nghe thằng nào trước thằng nào sau. Bộ
chỉ huy Tiểu Đoàn nóng lòng thấy chúng tôi bị pháo kích liên
tục lại đòi hỏi phải tái xác định chính xác vị trí súng cối
địch, chính xác? Ở đây tôi nào có nghe được tiếng nổ đầu
nòng của họ, tôi nói phải nhờ thằng 32 “Hồng Thiếp” và 31
“Minh Châu” đang quanh quẩn đâu đó, không xa vị trí chúng
tôi xác định giúp, quay qua máy nội bộ giải quyết nhiệm vụ
của On và Bé, để hoạch định kế hoạch rút đơn vị trở lại
Thanh Lan, tôi vẫn giữ danh hiệu cũ:
– Một, Hai, Ba
đây Phú Bổn! Trao máy Đích thân.
Chờ các Trung Đội
lên máy đầy đủ, tôi vắn tắt kế hoạch triệt thoái. Biết địch
vẫn dai dẳng bám trận địa, như con thú đang bị đánh đau; nếu
chúng tôi sơ ý quay lưng lại tức thì họ sẽ chồm lên dữ dội,
trong lúc đó, chưa biết tình hình “Thanh Lan” như thế nào?
Và câu hỏi đã thực sự làm chúng tôi lo lắng; liệu có cái bẫy
nào dương sẵn ở đó? Cũng chẳng còn thời gian lưỡng lự, tôi
quyết định gởi Thượng sĩ Đàng, Trung Đội hai thận trọng thâm
nhập Thanh Lan, không bằng con đường tiến quân buổi sáng, mà
bằng một lối đi tắt khác, ngắn hơn, kín đáo hơn bên sườn
trái.
Trong lúc đó, On và Bé vẫn phải cố thủ ở vị trí
cũ ở tuyến trước, sau khi kín đáo rải vài trái claymore, và
các vị trí M60 sẵn sàng chiến đấu, thành phần còn lại bắt
đầu... đào hố chiến đấu, hoặc sửa sang lại các hầm hố của
địch. Chỉ giả vờ thôi, chúng tôi muốn địch hiểu rằng, chúng
tôi sẽ cố thủ ở đây và sẵn sàng chờ đợi cuộc phản kích của
họ, tất cả nón sắt của thương binh, tử sĩ đều được chuyển
lên phía trước cho Trung Đội một và Trung Đội ba, đặt rải
rác chung quanh vị trí sau khi lấy thuốc muỗi bôi đều lên
làm tăng độ bắt sáng. Dưới ánh sáng mờ mờ của hỏa châu,
những chiếc nón sắt tròn láng, chắc chắn sẽ được địch nhận
ra dễ dàng, dù đã được “khéo léo” ngụy trang với dăm ba chòm
lá trước khi rời vị trí.
Bầu trời trong và cao vời
vợi, pháo đội B3 vẫn duy trì bắn cận phòng và chúng tôi an
tâm với sự yểm trợ hữu hiệu đó. Thành, sĩ quan đề lô trấn
an:
– Tao đã xin ông Đương bắn hết mình cho mày!
Tôi cảm ơn anh, toán tiền sát Pháo binh đi theo Đại Đội
có ba người nay chỉ còn hai, và nỗi mất mát không còn là của
riêng ai để chia sẻ.
– Phú Bổn đây Hai!
Tôi
chụp vội ống liên hợp:
– Nghe Hai.
– Đã gặp
lại Thanh Lan, vô sự.
Tôi thở phào nhẹ nhõm:
–
Làm ăn kỹ chưa?
Đàng cho biết, đã lục soát kỹ và
không có dấu vết gì khả nghi.
Tôi gọi Trung Đội một
yểm trợ Trung Đội bốn chuyển thương binh, tử sĩ rút theo
đường cũ, liên lạc trực tiếp với Trung Đội hai tránh ngộ
nhận, Bộ chỉ huy Đại Đội rút sau cùng với Trung Đội ba.
Cho đến khi chúng tôi đã rút trọn vẹn về vị trí an toàn,
địch vẫn liên tục pháo kích vào vị trí “không người” mãi tới
sáng hôm sau.
Hai mươi lăm năm sau, khi có điều kiện
hồi tưởng lại toàn bộ sự việc và diễn tiến cuộc hành quân
của đơn vị trong phạm vi hiểu biết cũng như tất cả biến cố
mà mình đã trực tiếp tham dự hoặc chứng kiến để viết lại
thiên ký sự này tôi vẫn không tin những quyết định mâu thuẫn
và thiếu tính đồng nhất chiến thuật là quan điểm độc lập của
Lữ Đoàn.
Dĩ nhiên, được rút ra khỏi trận địa là một
điều nhẹ gánh cho đơn vị tôi, và dù ai chỉ huy Lữ Đoàn hay
Tiểu Đoàn lúc đó, cũng phải ra một mệnh lệnh tương tự khi mà
phía Đồng minh đã thông báo vị trí chúng tôi nằm trên tọa độ
oanh tạc của B52. Thế nhưng, độ chấn động của những trái bom
năm trăm pounds được rải xuống hôm đó chỉ đủ làm rung cánh
võng... Nghĩa là cách xa chúng tôi ít nhất cũng trên mười
cây số. Để rồi mấy ngày sau (khi chúng tôi đã được rút về
căn cứ), khi nhận thấy có những nguy cơ xuất phát từ đó để
uy hiếp Đồi 31. Bộ Tư Lệnh cuộc hành quân đã cho đổ bộ hai
Đại Đội của Tiểu Đoàn 6 Nhảy dù xuống những ngọn đồi chúng
tôi đã chiếm được và đã triệt thoái, với tình thế khác hẳn.
Ở đó, địch đã trở lại với quân số nhiều hơn và đã dọn sẵn
một tọa độ pháo kích tập trung, chính xác. Chúng tôi ở trên
Đồi 31, quan sát cuộc đổ bộ của đơn vị bạn bằng mắt thường,
lòng xót xa theo những cụm khói bốc lên của đạn pháo địch...
Những thách thức cam go đã bắt đầu lộ diện kể từ sau
cuộc đổ quân đẫm máu đỏ.
Một mẩu chuyện về Đồi 31...
Phần 1,
2,
3,
4,
Mục lục


Phần 3
Một mẩu chuyện về Đồi 31...
Chưa tới một tháng, Trung Đội chỉ còn lại mười tám ngoe, kể cả tôi. Đã thêm hai cái chết đau đớn của Binh nhất Mão và tân binh Xuất cứ dai dẳng ám ảnh tôi.
Trên Đồi 31
Trở về với Trung Đội, dưới quyền chỉ huy của một vị Đại uý Đại
đội trưởng khác, chúng tôi vẫn còn thấy như quanh quẩn đâu đây,
bóng dáng người chỉ huy cũ, quanh quẩn đâu đây hương hồn đồng
đội quấn quýt bên những bữa cơm đạm bạc của chiến trường. Ngay
cả việc phải thay đổi danh hiệu trên tần số liên lạc cũng xốn
xang bứt rứt, làm sao quên được trong chốc lát cả một thời gian
dài gắn bó, chia sẻ nhau những buồn vui chinh chiến, làm sao
tưởng tượng được nỗi đớn đau của người thân bên áo quan phủ Quốc
kỳ “Vị Quốc Vong Thân”. Chiến tranh rồi sẽ qua đi, những ngọn
đồi loang lổ sẽ xanh tươi màu lá, người sống sẽ lần hồi quên
lãng dù nỗi đau hiện tại có ngất trời tuyệt vọng, chỉ có những
người đã chết, mà chết trẻ, là mãi mãi mất mát, là mãi mãi thua
thiệt mọi bề.
Tôi chợt nhớ đến chị, người họa sĩ duyên
dáng bên Đại uý của chúng tôi, trong những lần triển lãm tranh,
và anh vẫn thỉnh thoảng rủ chúng tôi về nhà ngồi nhâm nhi nhìn
chị vẽ; những bức tranh của chị sao quá nhiều bóng tối, bóng tôi
ngay cả giữa mặt trời và ngay cả giữa một rừng hướng dương hàm
tiếu... Căn nhà nhỏ vùng Bạch Đằng, Gia Định chưa cạn rượu tân
hôn đã vỡ òa nước mắt cô phụ. Không biết bao nhiêu vành khăn
tang đã cuốn lên tóc xanh vội vã trong cơn lốc oan nghiệt của
chiến binh. Tôi tự hỏi, không biết mình có lỗi gì trên những
giọt máu đồng đội đã khô tím trên chiến địa, những giấc ngủ hằn
vết đớn đau trên khuôn mặt phận người, của bao nhiêu ước vọng
thanh xuân đã tan hoang theo binh lửa, theo những điều không thể
lý giải được giữa can qua, của Kiều, của Chí, của Sỹ... của đại
uý. Và còn bao nhiêu người nữa hay sẽ tới phiên mình, tôi chợt
cười khan, cũng khỏe thôi, Ba tôi đã có lần dẫn Thu, em gái tôi
lặn lội từ Quy Nhơn vào tận vùng hành quân của đơn vị khi một
nguồn tin tai ác nào đó báo rằng, tôi đã chết.
***
Em tôi khóc trên những bông lúa dẫn vào điểm đóng quân, vết
chân non nớt của em bên vết bước già nua của Ba tôi trên sình
lầy mùa mưa ven đô như lưỡi dao cắt vào hồn tôi xé thịt...
“Anh là chiếc đũa so le, anh không thể mãi khập khễnh bước
bên sự ấm êm của gia đình, đôi lúc anh nghĩ, sự vắng mặt của anh
là cần thiết, để cho Ba, em, và các em chẳng còn phân vân trên
bến bờ hạnh phúc...”
Trước khi lên đường, tôi đã cay đắng
với em và Ba như thế, dù người tôi muốn nói không hề là Ba và
em, nhưng tôi biết, chỉ có em chia sẻ được với tôi những căm
phẫn thơ dại, như ngày nào em rón rén đến bên tôi, trên chiếc mộ
chí cỏn con tôi đã đắp bằng những đầu ngón tay rướm máu, tôi
chôn... những đồng bạc đã xé rách theo nước mắt u uất; em ngây
thơ trao hết phần tiền Ba cho em đầu kỳ lương hàng tháng, mà
không biết tại sao khi nào cũng nhiều hơn phần tôi có. Tôi là
cái ly, hằng ngày hứng những giọt bất công nhỏ xuống đời quạnh
quẽ, mỗi tháng cái ly đầy lên một lần theo món quà nhỏ mà nhiều
thiên vị của Ba. Tôi lại phải đổ đi bằng cách xé vụn những đồng
tiền buồn tủi đó; khu vườn nhỏ sau nhà chôn chặt những nấm mộ...
tiền, chôn chặt với tôi có nỗi muộn phiền của Mẹ. Không phải Ba
ghét bỏ gì tôi, nhưng hình như Ba muốn chứng tỏ với người đó,
người đã thay thế Mẹ tôi trong mái ấm của Ba... rằng Ba hạnh
phúc... rằng Ba yêu thương những đứa con của hai người... Còn
tôi, chín mười tuổi có biết chi lòng dung thứ, có biết chi sự độ
lượng, trong tôi chỉ có một tôi bị bỏ rơi, bị hắt hủi, chỉ có
một tôi bị quên lãng khôn nguôi. Thằng nhóc con âm thầm và cô
đơn kháng cự, tàn nhẫn khước từ sự chia sẻ của cô em khác Mẹ.
Tôi hất tay Thu ra:
– Tao không cần.
– Anh cứ
lấy đi, em không biết xài tiền.
– Rồi mày lại mét Thím
(Tôi vẫn gọi người ấy bằng Thím)
– Em hứa.
– Thôi,
tao chẳng dại.
Thu nhét mấy đồng bạc vào túi tôi rồi vụt
chạy vào nhà, mặc kệ tôi ngồi thút thít; tôi ngồi một hồi nước
mắt ráo hoảnh để nghĩ đến mấy tấm hình Tạc–zăng treo ngoài chợ,
đến mấy viên bi lóng lánh thủy tinh, tính tính toán toán với số
tiền Thu để lại...
Chiều hôm đó, em quanh quẩn trong vị
trí đóng quân chúng tôi, những giọt nước mắt em và Ba đã khóc
cho tôi; tôi chẳng còn cơ hội để khóc tiễn Ba và em về nơi yên
nghỉ. Trong cơn lốc vận nước, nắm xương Ba đã vùi nơi đèo heo
hút gió (Vợ tôi chẳng dám báo tin khi lên thăm nuôi ở Long
Giao). Chỉ còn nỗi ân hận muộn màng khi trở về cải táng Ba xuôi
miền quê Nội, trong phút giây đầu tiên gặp lại, tôi tưởng như Ba
đang nằm ngủ, buổi trưa nào oi bức nắng vườn cau, tôi nghịch
ngợm cắm những sợi tóc bạc vừa nhổ trên vành tai Ba, rồi cười
rung lên thích thú nhìn những cọng tóc chui vào tai Ba nhột
nhạt, để Ba trở mình... nạp vành tai còn lại cho tôi... Chỉ một
giây thôi, tôi lặng người theo vầng trán Ba cao vời vợi khi nắp
áo quan vừa mở, có lẽ Ba đã chờ tôi về để tôi được nhìn Ba lần
cuối, rồi thôi, bóng dáng Ba mãi mãi tan vào hư ảo.
Còn
em tôi, chẳng biết trôi dạt nơi nào trong một chiều giông bão.
Khi tôi đã và biết có thể chia sớt dùm em những oan nghiệt của
định mệnh thì em đã không còn nữa. Con tàu nào đưa em đi tìm hay
đưa em chạy trốn? Đáy biển nào tan rữa xác thân em?

Luồn theo giao thông hào, tôi đến hầm của Trung sĩ Yến. Khẩu
M60 được bố trí một xạ trường thật rộng, nhìn xuống bãi đáp trực
thăng ẩn khuất kín đáo giữa hai ngọn đồi, bên kia, còn có toán
tiền đồn của Hạ sĩ nhất Chính án ngữ, trở lại Đồi 31 chúng tôi
vẫn trú đóng trên vị trí cũ, bảo vệ Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn, Lữ
Đoàn, và Pháo Đội B3.
Đến đây, tôi xin được vượt thời
gian và không gian để trình bày thật chi tiết về lực lượng phòng
thủ Căn cứ Hỏa lực 31, mà suốt thời gian chiến trận, cũng như
mãi cho đến ngày hôm nay, phía địch đã đành mà ngay cả phía
chúng ta, những người không thật sự có mặt trong trận chiến,
thông qua tin tức của các “Phóng viên chiến trường” trong nước
cũng như ngoại quốc, ngồi nhâm nhi cà phê ở Givral, La Pagode,
hay có gan dạ lắm cũng chỉ quanh quẩn ở Bộ Tư Lệnh tiền phương
Quân Đoàn I, Đông Hà, Khe Sanh, thêu dệt lên những bản tin thật
giật gân, bi thảm hóa một trận thua vốn là lẽ thường của chiến
tranh để cho rằng, chúng ta thất thủ Đồi 31 tức là Lữ Đoàn III
Nhảy Dù đã bị tiêu diệt. Thông tin kiểu đó, đã vô tình ám ảnh
những đơn vị chưa được tung vào mặt trận, mà hiệu quả tâm lý đã
chi phối phần lớn khả năng chiến đấu.
Họ không hề biết
rằng, ngay sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, từ Huế, khi màn diễn
binh tại Phú Vân Lâu kết thúc, thay vì được không vận về Sài Gòn
để dưỡng quân như thường lệ, thì sân bay mà chúng tôi đáp xuống
là phi trường Pleiku đất đỏ, với quân số chưa được bổ sung. Lữ
Đoàn đã lao ngay vào một mặt trận căng thẳng khác: Giải tỏa Căn
cứ Dakto Tân Cảnh do một đơn vị thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh trú
đóng, đang bị Sư Đoàn 320 Cộng quân vây hãm. Nếu thực sự Lữ Đoàn
III Nhảy Dù đã bị xóa sổ ở Đồi 31, tại sao chúng tôi còn đủ khả
năng và tinh thần chiến đấu, đánh bật vòng vây của quân địch,
một đơn vị tổng trừ bị của Bộ tổng tư lệnh Bắc quân, giải tỏa
Căn cứ Dakto trong thời gian ngắn nhất? Xin có dịp đến mặt trận
này trong một mục khác, để trở lại Căn cứ Hỏa lực 31.
Như
đã trình bày trong phần trước, bản thân Căn cứ 31 chỉ là một
“Căn cứ Hỏa lực dã chiến”, có giá trị chiến thuật trong một giai
đoạn ngắn. Thường thường trong mỗi một cuộc hành quân, đôi khi
chúng tôi lập hai hoặc ba căn cứ như thế, cứ bỏ căn cứ này lập
căn cứ khác tùy theo nhu cầu chiến thuật của đơn vị. Do đó về
phần công sự, là những vật liệu tại chỗ, không có lấy một cuộn
kẽm gai, không có bãi mìn ngoài những trái claymore, như những
vị trí đóng quân đêm bình thường, lực lượng phòng thủ không bao
giờ vượt quá một Đại Đội (không kể Đại Đội chỉ huy công vụ của
Tiểu Đoàn có một phần quân số trong căn cứ, nhưng không có trách
nhiệm phòng thủ).

Đại Đội 33, Tiểu Đoàn 3 Nhảy dù
lui về đảm trách phòng thủ căn cứ sau khi đã bị tiêu hao trong
trận đánh chiếm Thái Thanh. Với chừng sáu mươi tay súng, phòng
thủ một tuyến rộng lớn của Đại Đội nguyên vẹn, bao bọc vị trí
của Pháo Đội B Tiểu Đoàn 3 Pháo binh Nhảy Dù, (Pháo đội trưởng
là Đại uý Nguyễn Văn Đương), gồm 6 vị trí Pháo. Dĩ nhiên chúng
tôi đồng thời phải bảo vệ Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn và Bộ chỉ huy Lữ
Đoàn đang trú đóng trong căn cứ. Đó là tất cả lực lượng cố thủ
Đồi 31. Các Đại Đội 31, 32, và 34 đang hành quân lục soát bên
ngoài, cách xa chừng hai đến ba cây số. Tôi không có cơ hội để
tiếp xúc với Đại Đội 3 trinh sát tại vị trí, nên không thể xác
quyết đơn vị này đang hiện diện.
Riêng Trung Đội chúng
tôi, ngoài tuyến phòng thủ, được giao ở mặt Bắc nhìn xuống một
triền đồi thoai thoải, còn có nhiệm vụ bảo vệ thường xuyên bãi
trực thăng bên ngoài cứ điểm.
Chúng tôi tự tin ở khả năng
chiến đấu của đơn vị, và sẽ đủ sức cố thủ cứ điểm trong thời
gian cần thiết (cần thiết chứ không phải lâu dài) trước các cuộc
tấn công cổ điển tiền pháo kết hợp với đặc công đột kích, nếu
được yểm trợ đầy đủ, hữu hiệu, và kịp thời. Không bao giờ chúng
tôi có ảo tưởng, mình là một đơn vị bách chiến bách thắng, không
bao giờ chúng tôi quên rằng, mọi chiến quả thu được trên chiến
trường, là nhờ phần lớn sự đóng góp tích cực, vô điều kiện của
các hỏa lực yểm trợ. Và chúng tôi từng được yểm trợ như thế.
Ở Căn cứ Hỏa lực 31, chúng tôi có gì?
Ngoài khả năng
cơ hữu của Sư Đoàn là các Pháo Đội 105ly ở các Căn cứ Hỏa lực
lân cận, mà hình như cũng phải chật vật đối phó với Pháo binh
tầm xa của địch, gồm những đơn bị 122ly, 130ly cơ động, thay đổi
vị trí nhanh chóng và hầu hết, đều nằm ngoài tầm tác xạ tối đa
của 105ly cũng như 155ly, nghĩa là Pháo binh ta với không tới
tầm pháo kích của đại bác địch. Chưa kể mức độ tập trung chưa
từng có của một số lượng lớn Bích kích pháo 82ly chung quanh căn
cứ. Ưu thế số 1 đã bị đảo ngược.
Để vô hiệu hóa pháo binh
địch, chỉ còn trông cậy vào hoạt động của không quân, thế nhưng,
lực lượng này lại không thuộc quyền điều động của Bộ Tư Lệnh
cuộc hành quân. Chúng tôi phải “xin” khi cần, còn “cho” hay
không lại là chuyện khác.
Với người lính chiến, chẳng có
ai quan tâm đến độ dày mỏng của công sự, chẳng mảy may lo nghĩ
đến sự vững chắc của căn hầm chiến đấu, họ đã từng chứng kiến
sức công phá của pháo binh ta trên những hầm hố vững chắc của
địch với những trái delay rơi chính xác nên họ hiểu rằng... lãnh
nguyên một trái 122ly hoặc 130ly trên nóc hầm thì chẳng còn gì
để phân vân.
Và mức độ pháo kích của địch càng ngày càng
dồn dập. Không kể những Khẩu Đội 82ly thay phiên nhau suốt ngày
thì thụt, pháo binh địch bắn như trống múa lân, sáng trưa, chiều
tối, không kể giờ giấc, bắn không e dè sự phát hiện vị trí như
trước. Pháo Đội B3 đã phải quần thảo với địch gần như hai mươi
bốn giờ trên hai mươi bốn giờ không nghỉ, suốt trong thời gian
địch bắt đầu tạo áp lực lên căn cứ, cho đến khi kết thúc trận
chiến.

Hình ảnh những chiến sĩ Pháo binh tả xung
hữu đột giữa trận đối pháo mang khí phách của một chàng dũng sĩ
giữa trùng vây quân địch, nòng súng vừa thoắt bên Đông đã hiệu
chỉnh về Tây, vươn cao mạn Bắc rồi nhanh chóng ghìm xuống phương
Nam, quành quả tới lui tất bật giữa mưa pháo quân thù, như một
mãnh sư giữa cơ man chồn cáo, lực bất tòng tâm, trần thân trong
nắng lửa vẫn kiên cường trong trận xa luân chiến không cân sức,
dù trên mình đã mang nhiều thương tích. Không một ngôn từ nào
diễn đạt được hết nét kiêu hùng bất khuất đó của các pháo thủ
Pháo Đội B3. Nón sắt trên đầu, áo giáp che thân, những khuôn mặt
căm đanh uất hận vươn theo nòng pháo, mà tiếng đạn rời nòng nào
có khác tiếng gầm nộ hãi.
Thế nhưng, những vị trí pháo
binh cố định của ta vẫn lần lượt bị pháo binh địch tập kích
trúng đích; với khả năng hạn chế tại mặt trận, các pháo thủ vẫn
cố gắng sửa chữa, thay thế các cơ phận bị hư hỏng để duy trì sức
chiến đấu của đơn vị.
Nhờ thế, những vị trí 82ly quanh
quẩn lần lượt bị vô hiệu hóa, có khi vắng tiếng cả hai ngày
không bắn được một trái. Thay vào đó, mức độ bắn phá của 122ly
và 130ly lại tăng lên.
Trận chiến đấu trên Đồi 31, trước
hết, là trận chiến của các chiến sĩ Pháo binh Nhảy Dù thuộc Pháo
Đội B Tiểu Đoàn 3 Pháo. Phòng tuyến của chúng tôi rất gần những
vị trí pháo, và cũng rất gần với Bộ chỉ huy Pháo Đội, chỉ cách
nhau một con đường nhỏ bao quanh vị trí, con đường gập gềnh cát
bụi nối với bãi tiếp tế bằng những chuyến xe GMC tới lui chở đạn
và thực phẩm. Chiếc xe đó giờ đã nằm im bên sườn đồi, mình lỗ
chỗ vết đạn.
Thỉnh thoảng tôi vẫn chào anh khi tình cờ
ngang qua hầm chỉ huy Pháo Đội, Đại uý Nguyễn Văn Đương, Pháo
đội trưởng, dáng người đường bệ, rám nắng phảng phất phong trần
kiêu bạc.
– Cà phê mậy!
– Cảm ơn đại uý!
Tôi ngồi xuống bên chiếc thùng gỗ.
– Mất ông Bôn, tao
cũng rầu thúi ruột, tụi bây đánh trận đó đẹp quá!
– Cũng
nhờ đại uý bắn quá “ác liệt”
Anh tự tay pha cho tôi ly cà
phê bốc khói.
– Cà phê cứt chồn Khe Sanh đó!
– Sao
đại uý có?
– Hốt, không biết cứt chồn hay cứt cọp, hồi
còn ở ngoài khe Sanh thiếu gì thứ này!
Chúng tôi nghe
hương cà phê thấm dần từng giọt, từng giọt mênh mông trải dài
theo mù sương đồi núi. Anh không nói, nhưng trên những điều
thuốc đốt rồi để đó, đã cháy dần những lo toan chiến sự, khi mà
trên đồ bản, những vị trí quân ta mà Pháo Đội phải trực tiếp yểm
trợ liên tục lùi dần về căn cứ, và khả năng tác xạ của đơn vị
ngày một tiêu hao không thay thế kịp, mới hôm qua đây, một Khẩu
Đội lại trúng đạn, nâng khả năng bất khiển dụng lên ba, vậy là
chỉ còn ba khẩu còn khả năng chiến đấu, trong khi nhu cầu yểm
trợ cũng như trực xạ cận phòng ngày một cấp thiết.
Không
kịp nhấp chút cà phê thơm ngọt đã phải băng vọt về vị trí khi
tiếng pháo địch ầm ỳ bên vách núi, tôi lao vội xuống hầm chiến
đấu nghe tiếng đạn xé gió rít lên dồn dập. Ở đây, hầm càng lớn,
khả năng trúng đạn càng cao nên chúng tôi phân tán tối đa những
vị trí chiến đấu, mỗi hầm chỉ vừa đủ cho một người, cách xa nhau
chừng năm bảy mét, trong khả năng quan sát và yểm trợ hỗ tương;
riêng hầm của tôi còn có Quá, binh nhất vừa thay thế Phi mang
máy truyền tin, các vị trí đại liên có thêm một phụ xạ thủ. Suốt
ngày gần như quanh quẩn bên hố chiến đấu, chia nhau thức, ngủ,
và chờ đợi, thấp thỏm đứng ngồi.
Sau hai ngày đột ngột
ngưng pháo kích, địch đã di chuyển vị trí pháo của họ chếch về
phương Nam, với khoảng đường trên dưới hai mươi cây số nếu ước
lượng từ tâm điểm vị trí chúng tôi. Bạn hãy tưởng tượng một vòng
cung có bán kính ít nhất cũng mười sáu cây số, là khoảng cách an
toàn tối thiểu, để cho các vị trí pháo 130ly và 122ly nằm ngoài
tầm tác xạ của 105ly và 155ly của chúng ta, là đã ước tính được
khoảng cách mà họ phải di chuyển từ Tây–Bắc luồn về Tây–Nam Căn
cứ 31. Và điều này, có lẽ các bạn Pháo binh hiểu hơn chúng tôi
về các nỗi khó khăn khi kéo các khẩu trọng pháo qua địa hình đồi
núi, dù chỉ trên các trục đường đã được chuẩn bị sẵn. Thế nhưng
địch đã làm được điều đó một cách nhanh chóng, chắc chắn không
phải chỉ bằng nhân lực đơn giản của thời kỳ Điện Biên Phủ; và
cũng không hiểu tại sao hệ thống không thám tối tân của đồng
minh đã từng cao rao là không có một sinh vật nào có thể lọt qua
tầm quan sát nếu họ muốn, lại không thể phát hiện và cung cấp
cho Bộ Tư Lệnh cuộc hành quân những tin tức về sự xuất hiện xe
bánh xích kéo pháo của địch quân? Cả ngọn đồi ngập trong âm
thanh hỗn độn, chát chúa, đất đá oằn mình vỡ tung lên cuồn cuộn,
họ thật hào phóng với chúng tôi khi bắn không cần hiệu chỉnh, từ
vị trí mới, những khẩu trọng pháo đã tỏ ra khá hữu hiệu với tầm
tác xạ không vượt qua những đỉnh núi chắn ngang mục tiêu.
Tiếng đạn rít dồn dập, biết rồi khổ lắm ông đại đội ơi, cho
con cái ngóc đầu lên quan sát kỹ phía trước, ngóc lên hay ngóc
xuống cũng chỉ trong phần không gian nhỏ nhoi của sự sống; nó
bắn dài trải như thế này thì không biết cái khoảng sống mong
manh đó của căn hầm dài một mét tám, ngang một mét rưỡi, sâu một
mét rưỡi sẽ vỡ tung ra lúc nào; mà vỡ thật rồi, tôi lao ra khỏi
hầm khi tiếng “bụp” khô khan của một trái delay hất tung căn hầm
của Nam bên trái; moi lên, moi lên, nó bắn kệ cha nó, hai tay
bươi móc như thằng điên, tôi mò được cái nón sắt của thằng Nam
bầy nhầy, ươn ướt, chết mẹ! Hết cứu rồi, ông Sâm ơi, lôi nhẹ lên
thôi, có khi nó chưa chết. Quả đạn công phá rơi ngay sau căn
hầm, cách chừng ba mét, sức nổ xô dạt mọi thứ dồn cục vào nhau,
vỡ vụn.
Thấy tổ Khinh binh nhốn nháo, muốn bu lại cứu
đồng đội, tôi la lớn:
– Dạt ra, về vị trí hết, chừng này
đủ rồi!
Mặc kệ tôi nói gì thì nói, Muôn vẫn nhào lại.
– Để tôi phụ một tay. Ừ, thì phụ đi, nó đang bắn đó, coi
chừng hết chùm.
Chúng tôi vừa nằm xuống tránh đạn, vừa
nhỏm dậy tháo dỡ đất đá. Muôn lôi mấy bao cát để lộ một lưng áo
lấm lem bụi đất, cẩn thận gỡ từng mảng công sự, và thấy Nam đang
ngồi im bất động, mặt hướng ra phía trước, đầu gục xuống gối lên
báng súng.
– Còn sống không?
– Hình như nó còn
thở!
– Kêu y tá mau lên!
Chúng tôi đưa được Nam ra
khỏi căn hầm đổ nát, và quả thật Nam vẫn còn thở thoi thóp,
không một vết trầy trụa nào trên người ngoài vệt máu nhẹ ứa ra
trên mép. Nam bị bất tỉnh do sức ép trái đạn nổ quá gần. Muôn xổ
nho “Hắn thiệt phước như Đông Hải”, tôi giật mình nhìn lại bàn
tay, không biết đã mò được cái gì bầy nhầy, ươn ướt trong nón
sắt của Nam, không dám đưa lên ngửi, tôi lầm bầm, “đm cái
thằng!” Hèn chi không thấy nón nhựa đâu hết, tôi thật chậm tiêu.
Đợt pháo kích chỉ chấm dứt khi hai Phi Tuần F4C xuất hiện
trên bầu trời, và nhanh chóng tấn công vào vị trí đã được OV10
chỉ điểm bằng đạn khói. Lửa Napal bốc lên cuồn cuộn, và trên
vòng loop của chiến đấu cơ, những vết đạn phòng không cũng đuổi
theo bén gót, không biết tọa độ bị oanh kích có chính xác là vị
trí pháo hay không, nhưng hình như địch cũng biết e dè khi có
không quân lâm trận, nhờ thế chúng tôi được rảnh rang đôi chút
để lo tải thương, tiếp tế.

Việc tải thương, tiếp
tế cũng là một vấn đề nan giải, thực sự thì tuyến phòng thủ đã
quá mỏng, và càng mỏng hơn nữa, khi phải tung quân bảo vệ bãi
tiếp tế bên ngoài căn cứ. Không lần nào không có thương vong vì
súng cối địch, và ít nhất cũng đã có hai chiếc trực thăng vĩnh
viễn nằm lại bãi đáp vì trúng đạn phòng không khi gần đến vị
trí, và một phi hành đoàn đang còn kẹt lại. Rất tiếc tôi không
nhớ rõ phiên hiệu của đơn vị Không Quân (VNAF) trực tiếp yểm trợ
chúng tôi bằng các phi vụ trực thăng gan dạ, khi mà lưới lửa
phòng không đã phục sẵn trên các đường tiếp cận nhằm mục đích
khoá chặt nẻo vào từ mọi hướng, thì đường bay của các bạn quả
thật là “một đi không trở lại”, đã bao nhiêu lần chúng tôi nhìn
thấy những chiếc trực thăng đột ngột cất lên từ một lũng núi mù
mù sương sớm, hoặc lướt nhanh trên ngọn cây qua một đỉnh rừng,
hay bay nghi binh thật xa để rồi luồn theo khe núi, mang đến cho
chúng tôi tất cả nhu cầu không thể thiếu của mặt trận... Đạn
dược, thuốc men, quân trang quân dụng, thực phẩm, nước uống, thư
từ, báo chí, và chút hơi hướm yên bình nơi hậu phương đất mẹ.
Chiều nay lại ra bãi, cũng kể như một lần đi ủi, chúng tôi
đã nhìn thấy địch quân điều quân lui tới, qua lại thấp thoáng
dưới bóng cây bên những triền núi xa xa, và biết đâu chừng đã
mon men gần căn cứ, tuy các Đại Đội bạn ở bên ngoài vẫn chưa có
phát hiện nào về sự xuất hiện của địch. Mọi việc vẫn phải làm
thật nhanh và thận trọng, xuất phát, lục soát, rải quân... Công
việc quá bình thường của một Trung Đội tác chiến mà sao giờ này
lại quá nặng nề. Mà không nặng nề làm sao được khi quân số tiêu
hao ngày một trông thấy. Rời Sài Gòn tôi dẫn theo hai mươi sáu
thanh niên, mặt mày tươi như trên đường đi học, rồi lại còn được
bổ sung thêm hai chàng lục tỉnh mới cáu cạnh, và Nghĩa, một
Chuẩn uý mới ra trường, vị chi là hai mươi chín mống. Tôi nói
với Nghĩa khi anh chàng đến Trung Đội trình diện theo đúng quân
cách:
– Thôi bỏ đi ông! Ra trường dịp này kể như trúng
lớn, lại còn đi theo tôi!
Nghĩa láu lỉnh:
– Trung
uý truyền cho ít ngón, để sau cuộc hành quân này tôi đỡ lọng
cọng.
Nghĩa, người Sài Gòn, nhà ở đâu miệt Khánh Hội, Hàm
Tử, cũng có mẹ già và em gái, cũng mang cái hồn nhiên của tuổi
trẻ vào mặt trận như ngày tôi mới ra trường. Hồi đó, tôi còn
được may mắn học nghề với Trung uý Dũng tại ven đô, hành quân an
nhàn quanh hãng bột ngọt An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Nhị Bình;
sáng lai rai cà phê và pháo, chiều về còn cóc với ổi đưa cay. Có
đâu như Nghĩa, giày trận còn bóng nếp quân trường đã được ném
ngay vào cõi chiến trường dữ dội. Tôi đã không còn dịp bàn giao
Trung Đội cho Nghĩa như ngày nào Trung uý Dũng đã giao trách
nhiệm cho tôi. Nghĩa đã hy sinh không lâu sau đó.
Chưa
tới một tháng, Trung Đội chỉ còn lại mười tám ngoe, kể cả tôi.
Đã thêm hai cái chết đau đớn của Binh nhất Mão và tân binh Xuất
cứ dai dẳng ám ảnh tôi.
Gom góp, nhặt nhạnh lại không đầy
cái nón sắt, đó là xác Mão sau khi căn hầm của anh hứng gọn một
trái công phá. Còn Xuất thì cứ trào ra những bụm cơm sấy trộn
lẫn máu trong cơn hấp hối, máu và cơm, cơm và máu lẫn với những
bọt khí ào theo vết thương vỡ banh lồng ngực, mảnh đạn như một
lưỡi rìu phạt ngang người, khi anh ngồi bên miệng hầm nhìn bâng
quơ những đỉnh núi, tay bốc từng bụm gạo sấy thảy vào miệng.
Tôi cũng ngồi cách Xuất năm vị trí trong cùng một phiên gác
chiều, và chỉ kịp la lên “Xuống hầm! Pháo kích!” nhưng không còn
kịp nữa, có lẽ tiếng gạo sấy khô khan vỡ rào rào trong miệng đã
làm Xuất không nghe được tiếng pháo địch rời nòng, viên đạn quá
tầm rơi ngoài sườn đồi lại tai quái gởi ngược về một mảnh lớn
nhất. Khi chúng tôi đến thì Xuất đã như thế, môi anh còn mấp máy
điều gì, tôi đã cố cúi sát người để chỉ nghe thều thào hình như
tiếng “Mẹ ơi”... và Xuất đi hẳn.
Số bị thương mỗi ngày
gia tăng, Trung sĩ Biên đã nhe răng vàng vẫy tay chào chúng tôi,
chống gậy cà thọt lên trực thăng tuần trước, có gì đâu. Đi vệ
sinh, chạy về hầm không kịp, may mắn lắm mới bể mông, anh ta còn
cười hề hề khi tôi lên thăm ở bệnh xá Tiểu Đoàn... “Tui còn đem
được đồ nghề về cho bà xã”... Giàn hạ sĩ quan chỉ còn lại Thượng
sĩ Đàng và Trung sĩ Yến, tôi kể như giảm cấp số làm Tiểu đội
trưởng, chỉ huy một Tiểu Đội Khinh binh và một Tiểu Đội hỏa lực.
Mà nào phải chỉ Trung Đội chúng tôi? Hai Trung Đội kia cũng lâm
vào tình trạng tương tự, giật gấu vai cũng không đủ quân để trải
kín tuyến phòng thủ vốn dĩ được thiết lập cho một Đại Đội mạnh,
đầy đủ quân số. Một tuyến dài như thế, lại phải duy trì ba vọng
gác đêm, hai vọng gác ngày, chia đều cho mỗi người cũng ôm hơn
năm tiếng mỗi ngày trực gác. Kể cả tôi cũng chia sẻ ba giờ đốc
canh ca thứ nhứt, trong tình trạng căng thẳng kéo dài, mặt mày
ai nấy hốc hác thấy rõ.
Mở nắp bi–đông nhắp dè xẻn một
ngụm nước, nước, bây giờ cũng là thứ phải tiết kiệm tối đa khi
phải tiếp tế bằng máy bay, mỗi Trung Đội được bốn ống đạn 155ly
dùng cho bốn ngày giữa hai kỳ tiếp tế bình thường, nhưng chu kỳ
đó hiện đã giãn dài không tính được khi các chuyến bay ngày một
trở nên mạo hiểm. Không đủ lực lượng để bảo vệ nguồn nước sâu
dưới chân ngọn đồi bên kia, chúng tôi đành phải rút bỏ, tuần
trước, nhân khi một Đại Đội bạn di hành qua bờ suối, chúng tôi
đã trở lại lấy nước dự trữ cho gần một tháng (chứa trong các ống
đạn 155 và thùng đạn đại liên). Số nước đó tuyệt đối không dùng
đến.

Nhảy qua tần số Đại Đội để làm việc thẳng
với Tiểu Đoàn theo lệnh, báo cáo mọi vị trí bên hai sườn đồi đã
được rải xong quân bảo vệ, tôi dẫn Muôn và 4 chiến sĩ khác leo
lên vị trí của Hạ sĩ nhất Chính, tổ tiền đồn này ở đây mười ngày
chờ thay thế, mà hình như họ cũng không muốn thay thế khi cảm
thấy ở chốn hẻo lánh này có vẻ an toàn hơn cứ điểm chính, ít
nhất là cho đến bây giờ vẫn chưa có trái pháo nào lạc địa chỉ
qua đây. Nay thì dù sao cũng phải hoán đổi, chưa biết hơn thiệt
thế nào, nhưng trước hết phải bình đẳng trong cuộc chơi, tôi
ngồi bên gốc cây chờ Chính dẫn Muôn bàn giao các vị trí phục
kích tự động, cũng từ các vị trí này tuần trước, cả Căn cứ đã
phải một phen lên ruột tưởng như cuộc tấn công của địch đã thực
sự bắt đầu... Khi đồng loạt 4 trái claymore nổ bùng dữ dội, kèm
theo mìn chiếu sáng tại tuyến trước tổ tiền đồn. Chính thở hổn
hển trên máy:
– Tụi nó chạy nghe rần rần, không biết bao
nhiêu, xin tác xạ khẩn cấp tuyến tám.
– Có ngay cho anh!
Phải giữ vững vị trí! Nghe rõ thổi ba bùa!
– Phù! Phù!
Phù!
Bắn chát ì xèo một hồi không thấy động tĩnh gì,
Chính im tiếng súng, tôi gọi:
– Sao ông?
– Để tôi
ra lục soát coi.
– Chuyện đó để mai tính! Ba thức hai
ngủ, cẩn thận tại chỗ.
Báo hại cả đơn vị chống mắt thức
báo động, sáng ra Chính báo cáo:
– Đích thân cho người
khiêng heo về.
– Heo gì cha?
– Heo rừng, mười bốn
con lớn nhỏ.
Thì ra, nguyên một bầy heo rừng lang thang
kiếm ăn, run rủi thế nào thì lọt ngay vào giữa hai ổ phục kích
tự động và tầm sát hại rộng của bốn trái claymore, đã không để
sót một chú nào.
Thượng sĩ Đàng không ăn thịt heo, anh ta
rầu rầu:
– Điệu này xui lắm trung uý ơi!
– Sao
vậy?
– Tôi đi trăm trận, khi nào có thịt rừng là có thịt
người!
– Trước sau gì tụi nó cũng đánh, mấy bữa này không
có thịt rừng vẫn có thịt người mỗi ngày đó sao?
– Mười
bốn con lận, lành ít dữ nhiều.
Kể từ hôm đó, ông càng trở
nên lầm lì ít nói và cáu gắt với đám trẻ bỡn cợt chung quanh.
Dặn dò Muôn đôi điều bình thường, tôi và toán tiền đồn cũ
quay xuống bãi tiếp tế khi tiếng trực thăng văng vẳng xa xa; mọi
bữa khi chúng tôi bắt đầu xuất phát là địch đã phát hiện và khởi
sự pháo kích vào bãi, nay trái gió trở trời thế nào mà có đến
hai Phi Tuần Cobra bao vùng, lại thêm mấy chiếc F4 đang quần
thảo phía Tây–Nam Căn cứ với pháo binh và phòng không địch, nên
hai chiếc trực thăng tiếp tế đáp yên lành xuống bãi nhanh chóng
chuyển giao hàng tiếp tế, đón nhận thương binh, tử sĩ, và phi
hành đoàn của chiếc lâm nạn mươi ngày trước. Tôi vẫy tay làm
người đưa tiễn, tiễn cả người sống và tiễn người chết, đến mai
này biết có ai tiễn biệt chúng tôi.
Giữ nguyên đội hình
bảo vệ bãi cho đến khi bộ phận trách nhiệm của Tiểu Đoàn chuyển
xong mọi thứ vào căn cứ thì được lịnh lui quân, và tôi lại nhận
thư Phượng.
Buổi tối lan dần lên cứ điểm thoáng hơi sương
lành lạnh, tôi dựa lưng vào thành hầm xòe hai tay nhìn mông lung
bóng tối; những ngón tay thô nhám khi cầm súng chợt biết nhẹ
nhàng với phong thư thoang thoảng nắng sân trường; tôi thật vô
duyên theo những điều huyễn hoặc, hạnh phúc, yên vui, và cả một
ngày mai thật dài, tràn đầy sức sống, trong khi tất cả dự định
có thể bọt bèo trong chốc lát; có thể ngay bây giờ đây vỡ vụn ra
trăm mảnh theo một trái pháo vô tình. Không biết trong muôn một,
sẽ có không? Hạt bụi nào khẽ bay về rơi nhẹ xót mắt em.
Tôi soi ngọn đèn pin lò dò từng chữ và chợt buồn rầu nhận ra, em
vẫn không hiểu gì về tôi trong khi mỏi mòn một nhịp cầu Ô Thước.
Lá thư thật dài nhưng chẳng có gì để đọc; kể cho tôi làm gì
những ồn ào phố thị; kể cho tôi làm gì những khúc luân vũ đã làm
mắt em say. Sài Gòn của em vẫn thế và giảng đường của em vẫn
thế. Em không nói bên chiếc ghế tôi ngồi đã có ai quấn quýt?
Nhưng tôi biết đó không phải là thế giới của tôi, và chiến tranh
dường như chưa bao giờ lai vãng dưới những tàn cây bốn mùa dim
mát. Không biết những tin tức từ mặt trận có làm sân trường đại
học bớt tươi màu áo, mà sao những vô tình của em và bạn bè đối
với cuộc chiến càng làm tôi xa cách vô cùng. Tôi không định viết
thư cho Phượng, biết có còn trở về để thêm chi nhiều vương vấn.
Những giọt nước mắt chính danh đã lan tràn trên đất nước, còn
khơi thêm làm gì chút sầu muộn người dưng?
Vòng hai tay
ra sau ót, gối đầu lên ba–lô mỏi mệt muốn vùi tất cả vào quên
lãng, ngày tháng cứ qua theo tầm bay lửa đạn, cả trăm trái pháo
mỗi ngày băm nát ngọn đồi vô danh bỗng chốc trở thành cõi chết;
cái chết cứ lần hồi gặm nhấm từ Đông qua Tây, từ Nam lên Bắc, từ
những hầm hố kiên cố ở trung tâm cứ điểm đến dãy chiến hào chỗ
sâu chỗ cạn bao bọc ngoại vi, tất cả bỗng trở nên bình đẳng
trước sức công phá dữ dội của đạn pháo, mặt trận bỗng nhiên
nghiêng hẳn về một phía, chúng tôi ngồi đây, ngày và đêm thúc
thủ trước tiếng súng địch. Hàng ngũ cứ thưa dần, thà rằng cứ lao
thẳng vào mũi súng, thà rằng đối mặt với quân thù, thà rằng chết
trong tiếng hò reo xung trận, có đâu cứ len lỏi mãi dưới hầm hào
mà cũng chỉ đợi chờ cái chết.
Tôi không dám nói thay
những người lính, nhưng tôi hiểu họ, tôi hiểu nỗi lo âu căng
thẳng mà chúng tôi cùng chia sẻ, như anh chàng Ngọt đó, giữa lúc
đạn pháo ầm ỳ trải lên trận tuyến, bỗng nhiên hắn ta nhảy vọt
lên nóc hầm tuột phăng quần chỉa cu ra phía trước, miệng la lớn
một hơi dài như tiếng hú của một con thú bị thương... “con
c...”. Yến phải liều mạng nhảy lên cặp cổ lôi xuống. Chúng tôi
gần như ai cũng đang “chạm giây” như thế và có lẽ sự nổ bùng của
chiến trận là liều thuốc cuối cùng để giải thoát, sự giải thoát
tận cùng trên hai nghĩa trắng đen trần trụi.
Chúng tôi
đều biết được lực lượng của địch không còn xa Căn cứ, và có lẽ
họ đang ở lại tuyến xuất phát để chờ đợi giờ “G”, khi mà mọi tần
số trên máy truyền tin của chúng tôi đều tràn ngập ngôn ngữ xa
lạ của quân thù, và thế là lại phải chửi nhau trên máy để giành
sóng liên lạc (việc bảo mật đã trở nên thừa thãi).
– Đi
chỗ khác chơi. Tụi tao ra Hà Nội nhốt cổ mày bây giờ!
–
Chúng mày chờ đó, ông vào Sài Gòn đấy các con ạ.
– Ê tụi
mày hát hò điệu gì nghe giống tàu phù quá.
– Mời các bạn
nghe văn công nhé.
Thằng hiệu thính viên bên kia lấy
harmonica ra thổi ò e ó e; Quá không có đồ nghề tương xứng nổi
quạu:
– Thổi như cục cứt, mày dám chửi Hồ Chí Minh không?
Mày nghe tao dám đả đảo Nguyễn Văn Thiệu nè.
– Mày dám
đéo mẹ Liên Xô Trung Quốc vĩ đại của mày không? Mày nghe tao đm
thằng Mỹ nè, Quá làm “Full auto” một hơi, hiệu thính viên Bắc
Việt (chắc chắn là cấp chỉ huy) nghe chừng phạm huý im thin
thít.
Mỗi lần chúng tôi liên lạc với nhau là tụi hắn lại
chen vô phá đám... “mời các bạn Quân Đội Sài Gòn tham gia chống
Mỹ cứu nước”... cái giọng tuyên truyền rẻ tiền cứ dẻo quẹo;
không có thì giờ đôi co, chúng tôi đồng loạt bẻ cổ gà qua chỗ
khác nói được năm ba câu lại nghe thằng khác xía vào mời nghe
văn công.
Cứ thế, ngày nào cũng nói qua nói lại, nó còn
hỏi chúng tôi ăn pháo có ngon không, nó hỏi cái này thì Quá đắng
họng, tắt máy.
Trước mặt chúng tôi có một hẻm núi, từ
trên đồi nhìn xuống chỉ nhận biết con người nhờ sự di động, nếu
anh ta đứng yên thì không thể nhìn thấy; hẻm núi có một khoảng
trống giữa hai lùm cây rậm rạp, thế là địch chơi trò cân não.
Ban đêm là lúc chúng tôi không thể quan sát. Ban ngày có mặt
trời lên là có người băng qua khoảng trống đó; mặc kệ không biết
bao nhiêu bom đạn được điều chỉnh chính xác xuống mục tiêu, dứt
tiếng súng là có người băng qua.
Dòng ngưới cứ tưởng như
bất tận; rồi đêm đêm, từng vệt đèn và tiếng động ầm ỳ của chiến
xa dội lên căn cứ, dội lên mỗi người lính nỗi lo âu thật sự về
khả năng chống chiến xa của đơn vị, khi mà những trái M72 chưa
một lần chứng minh hiệu quả trước vỏ thép xe tăng, và khi mà cả
Căn cứ đã trần trụi, ngon lành như một đùi thịt nướng sau các
trận pháo kích liên tục của đối phương.

Trong cuộc
hành quân Lam Sơn 719, loại M72 trang bị cho chúng tôi là loại
cũ, nhiệt độ phát ra từ đầu nổ của hỏa tiễn chỉ đủ sức để công
phá hầm hố, công sự, không đủ sức xuyên phá vỏ thép xe tăng.
Loại này khi kéo ra ở vị thế kích hỏa, sẽ thấy sợi dây lên cò
nằm suốt theo nòng súng, khác với loại mới được trang bị từ sau
cuộc hành quân này, mà nhiệt độ công phá hình như đã được nâng
lên hai lần hơn.
Chúng tôi không có lấy một chướng ngại
vật, không có lấy một hàng rào kẽm gai, hay một trái mìn chống
chiến xa để an lòng phần nào lực lượng phòng thủ.
Và
chúng tôi cũng chẳng phải chờ đợi lâu hơn nữa. Cuộc tấn công
thật sự đã bùng lên trước khi ngày chưa đứng bóng.
xem phần 4...
Một mẩu
chuyện về Đồi 31...
Phần 1,
2,
3,
4,
Mục lục


Phần 4
Một mẩu chuyện về Đồi 31...
Máu lính tế thần đã dâng cao hơn hoạn lộ, để cho bước chân của Tổng thống Nixon trên Vạn lý Trường thành bớt gập ghềnh khúc khuỷu.
Ngọn đồi vĩnh biệt
Tôi vẫn có thói quen, vài ba lần một ngày, nhảy qua tần số
Đại Đội để nghe ngóng, và tối nay, cũng trong dịp tình cờ
như thế, tôi đã nghe Đích thân Hồng Thiếp của 32 báo về Tiểu
Đoàn những tin tức không mấy lạc quan. Cuộc chuyển quân của
địch đã đột ngột dừng lại trước vị trí của đơn vị anh không
đầy năm trăm mét, bầy sói đang ở tuyến tấn công. Đại Đội 32
đang căng thẳng trong một mệnh lệnh cứng ngắt của Tiểu Đoàn,
“chận chúng lại.” Tôi bỗng cảm thấy thương Thiếp vô cùng.
Khi còn chung một Đại Đội, anh là nỗ lực chính thường
trực của đơn vị, qua hai đời Đại đội trưởng, trong khi bọn
tôi “nhái lặn chà quơ” thì Trung Đội 3 của anh gánh gần như
hết gánh nặng của Đại Đội. Lính lác rên rỉ... Sao cái gì
cũng thằng Ba... mở đường, Ba, đột kích! Ba, tuần thám!
Ba... Cũng chịu thôi, đã gần như một quy luật bất thành văn
của đơn vị; Thiếp xuất thân Khoá 22A Võ Bị, khi tôi về Đại
Đội thì anh đã là Thiếu uý trải qua Mậu Thân khói lửa...
Đồng Ông Cộ, Ngã năm Bình Hòa, An Nhơn... Bà Điểm. Đã từng
đổ quân đánh úp tái chiếm Đồi 1416, rồi dẫn đầu đoàn quân
cùng đơn vị đánh một trận phản phục kích xe tuyệt đẹp trên
Quốc lộ từ Dakto Tân Cảnh về Kontum, bề dày trận mạc của anh
làm cho thượng cấp yên tâm phần nào trước những lựa chọn gay
gắt.
Khi chúng tôi, ba đứa, On, Hàm, và tôi, cùng
Khoá 26 Thủ Đức bò lên Thiếu uý thì anh đã là Trung uý, vẫn
chia nhau 4 Trung Đội của Đại Đội 33, cùng mày tao chi tớ,
cùng bàn bạc rượu chè, cùng mượn qua mượn lại năm ba ngàn
mỗi khi cháy túi.
Trong cuộc hành quân Toàn Thắng 70,
Khinh Kha của Đại Đội 32 bị thương, ngay lập tức, anh được
đưa lên nắm Đại Đội. Chúng tôi vui mừng chia sẻ với anh niềm
hân hoan trong trọng trách mới, và tự nhiên, không còn bông
đùa bỡn cợt, dù anh vẫn thế, thân mật lắm cũng chỉ gọi nhau
bằng ông ông, tôi tôi. Anh đi, gánh của anh ở Đại Đội về
phần tôi vác, khoá của anh về Tiểu Đoàn 6 người nay chỉ còn
lại mình anh. Khoá của tôi trình diện Tiểu Đoàn 8 đứa, ba
năm sau nhìn lại, chỉ còn một mình tôi may mắn...
Nay
anh đứng trước một thử thách nghiêm trọng, mà tài trí, dũng
cảm không có khả năng thay đổi được tình thế. Đây là nội
dung đoạn âm thoại tôi đã nghe đêm qua giữa Hồng Thiếp, Đại
đội trưởng Đại Đội 32 và 00 (Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn). Xin được
viết lại bằng bạch văn:
– 09 đây 02!
– 09
nghe.
– Cua bò gần tôi quá, xin không kích.
–
Có thấy nó không? Bao nhiêu con?
– Chỉ nghe tiếng
máy, khoảng chừng 15 con có đèn.
– Loại gì?
–
Không rõ!
– OK, không quân đang đến, bằng mọi giá,
giữ vững vị trí, chận nó lại cho đến sáng mai, sẽ có tăng
viện cho anh.
– Nhận rõ!
Tôi vội vã trở về tần
số nội bộ khi phía Tây–Nam, hướng Đại Đội 34 chợt rộ lên
tiếng súng.
Lệnh báo động đã được phát ra từ chiều,
nay được dồn dập nhắc lại, chúng tôi đã sẵn sàng trên chiến
hào cho một trận sống mái.
Tôi biết, Thiếp cũng như
tôi và tất cả sĩ quan trong đơn vị đều hiểu rõ, khả năng
tăng viện cho chúng tôi không còn hiện thực, khi đơn vị trừ
bị chính của Lữ Đoàn đã được vội vã ném vào Thái Thanh và
thiệt hại khá nặng. Như thế chỉ còn trông chờ viện binh từ
một đơn vị ngoài binh chủng, mà hy vọng này lại còn mong
manh hơn khi từ hậu cứ những tin đồn về sự mâu thuẫn gay gắt
giữa các vị Tướng Tư lệnh Sư Đoàn với nhau, và với Tướng Tư
Lệnh Quân Đoàn về sự khác biệt của quan điểm chiến thuật,
chiến lược, hệ thống chỉ huy, v.v. Những tin đồn đó, đã theo
các chuyến bay tiếp tế vào tận tâm can những người lính đang
trải thân ngoài mặt trận. Hơn nữa, lực lượng địch đã tập
trung với quân số đông đảo, hỏa lực vượt trội – gồm hai
Trung Đoàn Bộ Binh, phối hợp với chiến xa và đại pháo, mở
một trận thế hoàn toàn mới mẻ về chiến thuật, quyết đánh
chiếm Căn cứ 31, thì việc ném thêm một hay hai Tiểu Đoàn
(khả năng có thể có) của ta vào trận địa, không có vũ khí
cũng như kinh nghiệm chống chiến xa, chỉ là hạt muối bỏ
biển. Từ trước đến nay, chúng tôi đã phải tăng viện hết nơi
này đến nơi khác khắp 4 vùng chiến thuật, đem ít nhiều hy
vọng đến cho đơn vị bạn trong cảnh ngặt nghèo cô thế, nay
canh bạc như đã đến hồi tháu cáy, biết có còn ai chia được
lửa với chúng tôi?
Pháo Đội B3 bắn dữ dội lên tọa độ
địch tập trung quân, dù chỉ còn 3 Khẩu Đội không nguyên vẹn.
Tôi tìm gặp Già Sâm, Hạ sĩ nhất Chính, và anh em trên tuyến
chiến đấu, M72 còn 8 trái cho cả Trung Đội. Trên đường tiếp
cận từ bãi trực thăng lên Căn cứ, chúng tôi hy vọng có thể
chận xe tăng địch khi chúng bắt đầu ngóc lên triền đồi,
không loại trừ yếu tố bộ binh tùng thiết, đề nghị Đại Đội
cho rút toán tiền đồn của Hạ sĩ nhất Muôn về, để tăng cương
tuyến phòng thủ, vì ở đó Muôn không đủ khả năng cầm cự, khi
địch đã vượt qua được Đại Đội 32 hiện đang ở xa Muôn hơn một
cây số về phía trước. Đề nghị không được chấp thuận, tôi
thông báo cho Muôn đầy đủ tình hình, và điều tôi chỉ có thể
truyền đạt cho anh là điệp khúc “cẩn thận, cẩn thận” quá ư
thừa thãi như tôi đã nhận từ Đại Đội. Tôi hỏi:
– Muôn
có ý kiến gì không? Có cần gì thêm không?
Hỏi cho có
hỏi vậy thôi, chứ khả năng Trung Đội không còn gì để giúp
Muôn bớt cô quạnh. Anh chàng còn xổ nho chùm làm tôi nổi
quạu... “cái tật không bỏ... nan ư thượng thanh niên cái con
khỉ gì giờ này nữa cha nội.” Tôi nói xa nói gần cho Muôn
hiểu, tùy theo tình hình, anh có quyền quyết định.
Thượng sĩ Đàng nhắc chúng tôi giữ lấy bên mình mỗi người một
khẩu phần gạo sấy phòng khi thất thế; điều này tôi đã nghĩ
tới nhưng không dám nói ra, nhất là không dám truyền đạt cho
Trung Đội ý nghĩ bi thảm đó; cảm ơn thượng sĩ đã nhắc nhở.
Tôi ngồi với Yến bên cạnh cây M60 chong xuống sườn đồi,
mù tênh sương khuya trên những ngọn núi im lìm bóng tối, cái
lạnh thấm vào gan ruột đang bồn chồn chờ sáng; từng đám lửa
bập bùng bên những triền núi đã cháy lên từ bom đạn, bập
bùng bập bùng, mang tôi về hồi ức xa xăm của những ngày thơm
ngát mùi phượng vỹ, hai bờ sông rực rỡ nắng hanh vàng.
***
Tôi chân ướt chân ráo đeo bảng hiệu đoàn với
chữ QH nằm giữa ba gạch ngang, mặt câng câng tưởng mình là
cái rốn của vũ trụ khi có dịp cùng đám con gái trường bên tụ
tập trong chương trình văn nghệ của hai trường sẽ được tổ
chức ở rạp Hưng Đạo. Khả năng văn nghệ đầy mình của tôi dĩ
nhiên được trọng dụng. Tôi được phân hai vai trong chương
trình, vai thứ nhất là hát trong giàn đại hợp xướng, bài hát
“Lửa Rừng Khuya” do tác giả là thầy Văn Giảng soạn hòa âm và
tập dợt. Ôi! Chuyện dễ ẹt, tôi tự nhủ. Chỉ cần đứng đó nhóp
nhép miệng cũng hoàn thành nhiệm vụ, khoái nhất là được nhìn
đám con gái đang đổ mồ hôi hột vì tập hát. Con Cẩm Tú, con
Thục Đoan, con Khánh Vỹ, con Phùng Nga, con Vân Nghê... mấy
đứa này mới học đệ ngũ đệ tứ mà bày đặt điệu bộ, ngày thường
dễ gì nói được với tụi nó vài câu? Ngay cả lúc cùng đợi,
cùng chung một chuyến đò ngang đi học, tụi hắn cũng chúi vào
nhau rúc rúc rích rích; đám con trai chúng tôi dáo dác ngó
lui ngó tới, không biết có thằng nào mặc quần thủng đít, nay
tụi nó đứng đó, miệng méo qua méo lại, đầu lắc lư như bà
bóng, gân cổ nổi xanh lè theo cao độ của điệp khúc...
“Ta ngồi trong ánh mắt sương đêm,
ta cùng cất cao lời
nguyền,
thề đồng tâm ta quyết thờ sông núi,
đem vinh
quang xây đắp ngày tươi mới,
ơ ờ ơ... u ù u.”
Cái
chỗ ờ ơ ù u này mới ăn tiền, nhất là khi thầy ra ngoài giao
lại cho thằng Thắng trưởng ban, đến ngay lúc cần mở miệng để
ù u ờ ơ thì thằng Tuế lôi trong túi ra một... trái chanh,
hắn tỉnh bơ vân vân vê vê trên tay, làm như vô tình vô ý,
thế là cả đám con gái háu ăn chú mục nhìn vào tay hắn, nuốt
nước bọt ừng ực, ù u ờ ơ trở thành ậm ậm ừ ừ...
Xong
tập hát, tôi lại chạy xuống phòng khác nhập một vai quan
trọng trong vở kịch “Thành Cát Tư Hãn” của kich tác gia Vy
Huyền Đắc; vai này nếu không có tôi, thì vở kịch trở nên
thiếu trước hụt sau, chứ sao? Thử hỏi mỗi lần Đại Đế nổi
trận lôi đình, ra oai “Quân bây!” mà không có tôi dõng dạc
“Dạ” một tiếng rõ to thì còn gì là Đại Đế, đó là chưa kể
nhiều lúc tập lui tập tới quá mệt, Đại Đế vẫn cứ lụp chụp
trong động tác đỡ cái ngã tuyệt vời của Công chúa thành Tây
Hạ, đang đau đớn trước cảnh nước mất nhà tan. Ngài thấy tôi
đứng xớ rớ bèn bán cái... “Quân bây! Đỡ công chúa cho ta!”
tôi nhào vô đỡ liền sau khi “dạ” thật to theo quân lệnh, mặc
cho Công chúa Tây Hạ, bà chằng lửa cùng xóm, học chung lớp
với tôi mấy năm Tiểu học, tròn mắt nạt... “Quân! không được
hỗn!”
Vậy đó, mà buổi trình diễn văn nghệ của hai
trường thành công ngoài sức tưởng tượng. Vé bán hết trước đó
cả tháng, tôi chẳng bao giờ quên được tiếng hát ngọt ngào
của chị Tuý Vịnh “Nhìn những mùa thu đi” khơi dòng cho nhạc
Trịnh Công Sơn ra biển nhớ. Và tươi trẻ của tam ca “Đêm đô
thị” được biến tấu theo điệu twist đang thịnh hành của những
năm 62, 63 (hình như có công chúa Tây Hạ trong ban tam ca
này); không kể cái đinh của chường trình là vở kịch kinh
điển, chúng tôi đã ứa nước mắt khi cả rạp hát cùng đứng dậy
vỗ tay sau màn đại hợp xướng của gần năm, sáu mươi nam nữ
học sinh của hai trường, dưới quyền điều khiển của Nhạc sĩ
Văn Giảng, giáo sư dạy nhạc của chúng tôi. Bài hát trầm hùng
sau này vẫn theo mãi tôi trên bước đường hành quân xuôi
ngược...
“Mờ sương rơi mênh mông,
âm u ngàn gió
lá.
Khuất bóng ánh trăng sao,
ngồi quanh hơi núi giá.
Ta khơi lửa hồng bập bùng
bập bùng trong đêm thâu...”
***
Bập bùng bập bùng trong đêm thâu. Lửa rừng
đêm bây giờ không còn là lời mời gọi của một thời lãng mạn,
hiền hòa mơ ước, rừng núi đã cháy lên dữ dội, thiêu đốt hàng
hàng lớp lớp thanh niên trai tráng buồn bã xếp bút nghiên
theo tiếng gọi non sông. Những Tú, những Đoan, những Khánh
Vỹ... ngày nào giờ có người đã trở thành goá bụa vừa qua
tuổi hai mươi son trẻ.
Tiếng súng lại rộ lên, cùng
lúc địch bắt đầu pháo kích mạnh mẽ vào Căn cứ, tôi nhảy
xuống hầm áp ống nghe vào tai. Đại Đội cho biết 3 toán tiền
đồn của Đại Đội 34 đang bị tràn ngập bởi bộ binh địch. Ngay
lúc đó hướng Bắc của 32 cũng đang bị xe tăng địch công kích,
cuộc tấn công đã bắt đầu, hình như hôm đó, rạng sáng ngày 25
tháng Giêng năm 1971.
Các Đại Đội ngoại vi thúc thủ
trước quân số quá đông đảo của đối phương trong khi còn phải
chật vật đối phó với chiến xa đang tràn lên như chỗ không
người, nên Đại Đội 32 được lệnh rút nhanh về Căn cứ 31 để
bảo toàn lực lượng, riêng Đại Đội 34 rút về chân đồi phía
Đông.
Thế nhưng, trước khi 32 về đến Căn cứ thì chiến
xa địch đã lổm ngổm bò lên vị trí của Muôn, và phần việc của
chúng tôi đã tới. Tôi nhìn thấy tổ tiền đồn bắng trúng đích
một chiếc, cụm lửa vàng khè lóe lên, phủ trùm khói đen trên
mục tiêu. Khói tan, chúng tôi tưởng như nằm mơ, chiếc xe
tăng vẫn chậm rãi tiến tới, nòng đại bác trên chiến xa vẫn
khạc lửa dữ dội vào tuyến phòng thủ Căn cứ. Muôn cố gắng bắn
thêm hai trái nữa vẫn vô hiệu, anh xách súng dẫn đồng đội
lăn xuống triền đồi khi thêm 6 chiếc nữa cùng với bộ binh
địch hò hét áp đảo tràn lên vị trí, chúng tôi hướng tất cả
hỏa lực bắn che cho Muôn và một vài toán của Đại Đội 32 rút
về Căn cứ, cùng lúc đó hai chiến đấu cơ A–4 Skyhawk của Thủy
Quân lục chiến Mỹ và một Phi Tuần trực thăng võ trang Cobra
xuất hiện, oanh tạc mạnh mẽ vào đội hình tấn công của địch.
Tất cả hỏa lực của chúng tôi, cùng với một Khẩu Đội B3
trực xạ cận phòng và các tuyến tiên liệu được các Pháo Đội
khác ở Căn cứ A–lưới, 30 bắn yểm trợ đã tạo nên một hàng rào
lửa vững chắc, chặn hết lực lượng xung kích của bộ binh địch
ngay tại vị trí cũ của Muôn. Xác địch ngã trên triền đồi,
lăn xuống vực thẳm, ngổn ngang như những khúc gỗ từ một khu
rừng vừa đốn vội, chưa bao giờ chúng tôi phải bắn nhiều như
thế. Hai khẩu M60 đã thay nòng liên tục, quạt từng giây đạn
quét phủ lên mặt trận. Phải nói Yến bắn đại liên thật tài,
chân hai càng được xếp gọn, nòng súng tựa hờ lên công sự tạo
một tầm chuyển dịch rộng lớn và dễ dàng cho xạ trường, để từ
đó phủ gọn tuyến tiếp cận của địch dưới tầm khống chế của
con gà nòi dũng mãnh.
Mất sự hướng dẫn của bộ binh,
chiến xa địch khựng lại; hình như họ muốn chỉnh lại đội hình
cho một đợt xung phong khác với hơn mười chiếc đã ở trong
tầm quan sát mà chúng tôi nhìn thấy. Ngay lúc đó hai chiếc
Skyhawk nối đuôi sà xuống sau trái khói chỉ điểm, từng trái
napal hừng hực xé gió quăng xuống mục tiêu chính xác, dũng
cảm, mặc cho hỏa lực phòng không đạn chi chít phủ kín đường
bay. Trận địa địch bùng lên trong cánh rừng xăng đặc, hai
chiếc xe tăng tiền kích ngập trong khói lửa bốc cháy dữ dội,
lính xe tăng nhảy ra khỏi xe, người cháy phừng như ngọn
đuốc, lăn lộn, quơ quào rồi ngã gục theo tiếng nổ bung của
chiến xa trúng đạn. Lên tinh thần, Khinh binh Thông cùng với
3 chiến sĩ khác băng vọt ra khỏi chiến hào, chạy nhanh xuống
lưng chừng đồi, cõng về được hai thương binh của 32 và một
của chúng tôi từ tổ tiền đồn rút về, nửa đường bị trúng đạn.
Hạ sĩ nhất Muôn đã tử trận tại vị trí đó.

Trận chiến vô cùng ác liệt, tất cả các sự kiện đã, đang, và
tiếp tục được mô tả, gần như diễn ra cùng một lúc, dồn dập,
chồng chéo lên nhau, đan chặt vào nhau rồi như bị một sức
mạnh vô hình xé bung ra trăm ngàn mảnh. Người viết, dù đã
tận mắt chứng kiến, đã là một chiến binh trực tiếp chiến đấu
trong những giờ phút gian nguy đó, vẫn không tài nào lột tả
hết được tất cả mọi diễn biến hung bạo, tàn khốc của chiến
trận...
Trung Đội của chúng tôi đã chiến đấu, trước
hết, và duy nhất chỉ là vì sự sống còn của bản thân, phải
lấy hết sức mình đương cự lại những bước chân của tử thần
đang lần lượt gọi tên từng mạng sống. Không còn con đường
nào khác, không ai là anh hùng, không ai là dũng sĩ, không
ai muốn “Anh dũng hy sinh” mà vẫn phải chết như rơm như rạ.
Lợi dụng lúc thưa tiếng súng, tôi nhổm dậy luồn theo
giao thông chạy dọc tuyến Trung Đội, kiểm điểm lại lực
lượng. Toán tiền đồn sáu người chỉ về đến được ba, hai người
chết tại vị trí, Muôn lại đã để nỗi ước mơ bình thường của
mình vỡ vụn từ sau lưng ra trước ngực trên đường về, và ngay
tại tuyến, một vị trí trúng đạn từ chiến xa địch, một chết.
Cái chết của người lính tử trận giống nhau từ thiên cổ,
không phân biệt bên này hay bên kia chiến tuyến, cũng đen
đủi đau đớn, cũng co quắp quằn quại, tay bấu chặt lấy mặt
đất như không đành lìa nỗi bọt bèo của cuộc sống...
Trong khi phía chúng tôi, áp lực địch tạm thời giảm nhẹ tuy
họ vẫn còn ở đó, thì phía bên kia, tuyến phòng thủ của Trung
Đội 3 lại vô cùng nguy khốn. Toán tiền đồn năm người của
Trung Đội, do một binh nhất Khinh binh chỉ huy, tại một chỏm
đồi thấp hướng Tây–Nam Căn cứ vừa bị tràn ngập, sau khi đã
chiến đấu đến người lính cuối cùng, ngoan cường, đẩy lui bốn
đợt xung phong của địch, tôi đã nghe trong máy tiếng gào
khàn khàn tuyệt vọng lồng trong tiếng súng vang trời của
những người quyết tử của truyền thống một đổi năm, mười nếu
chẳng may thất thế. Không cường điệu chút nào khi tuyên
dương họ như những anh hùng đã chết trong vinh quang, danh
dự khi địch tràn lên vị trí bằng không biết bao nhiêu xương
máu đánh đổi.
Ngay tại vị trí này, địch nhanh chóng
bố trí một cụm hỏa lực mạnh mẽ gồm 2 cây 82ly không giật và
một 12.8ly vừa phòng không, vừa bắn trực diện, khống chế
trọn vẹn vị trí của Trung Đội 3. On la chói lói trên máy để
xin lệnh Đại Đội... nó bắn quá chịu hông nổi, sập bốn hầm
chết hết rồi. Đại Đội lại gọi tôi, hỏi có tăng cường cho 3
được không? Tôi báo cáo tình hình trên tuyến của mình và
đoán chắc hướng tấn công chính là ngay tại nơi đây, tại
tuyến của chúng tôi, khi phía trước không phải là năm hay
sáu chiến xa, con số đã trên mười chiếc đếm được và vô số bộ
binh địch đang lúc nhúc dưới những cành lá ngụy trang.
Pháo địch vẫn rót tràn đều lên vị trí, san bằng, vạt
thẳng tất cả mọi thứ. Có điều bây giờ chúng tôi không còn lo
lắng, vì không còn phân biệt được đâu là pháo phe ta, đâu là
“cà nông” phe địch trừ khi nó nổ. Đã nổ rồi thì phận ai nấy
biết. Đỉnh đồi trở nên bằng phẳng, và hình như đã thấp hơn
phần nào so với khi chúng tôi vừa mới đến, nhờ thế chỉ cần
quay lưng nhìn về phía thằng 3, chúng tôi cũng nhận rõ vị
trí lợi hại của cụm hỏa lực đó; một vài trái bắn hụt lao vèo
qua phía chúng tôi rồi mất hút nổ xa xa; họ bắn liên tục nên
họ quên một điều là cùng chiến đấu với chúng tôi còn có Pháo
Đội B3.
Tôi khom người chạy lên vị trí khẩu trọng
pháo, chỉ cho Trung sĩ nhất Khẩu đội trưởng vị trí 82ly
không giật của địch. Và nòng pháo từ từ hiệu chỉnh, tôi nín
thở theo cái gục đầu chầm chậm của khẩu pháo 105ly hướng về
mục tiêu... và “Bắn”. Người hạ sĩ pháo thủ giật cò, viên đạn
rơi nòng trực chỉ khẩu đội địch Ầm... chúng tôi nhảy lên reo
hò sung sướng khi nhìn thấy rõ ràng khẩu 82ly không giật của
địch tung bắn lên trời sau tiếng nổ chính xác. Chỉ một viên
đạn thôi, các chiến sĩ pháo binh đã triệt tiêu hiểm họa đó.
Tần số trên máy truyền tin bị nhiễu loạn vì quá nhiều
trùng lấp, lẫn lộn những mẩu đối thoại tối nghĩa, chỉ nhận
biết nhau nhờ quá quen thuộc tiếng nói giữa các hiệu thính
viên, cũng như vài phân biệt nhỏ của ngôn ngữ truyền tin.
Tuyến của chúng tôi nằm cách xa Bộ chỉ huy Đại Đội, nên gần
như tác chiến độc lập, tôi chỉ kịp thông báo cho Đại Đội là
địch bắt đầu tấn công trở lại, rồi nằm hụp xuống nghe lằn
đạn veo véo trên đầu; đội hình địch từ triền núi bên kia
xuất hiện đông đảo trên đỉnh đồi rồi chia nhau tràn xuống,
lấp ló trồi sụt dưới mưa bom bão pháo. Pháo địch bắn ta, nếu
quá tầm cũng nổ trên đầu địch; bom đồng minh yểm trợ, lạng
lách thế nào không biết, cũng roi ngọt xớt xuống đầu ta, bêu
đầu sứt trán; la hét om sòm tiếng Đức, tiếng Mỹ, thây kệ mẹ
nó, đằng nào cũng phiêu diêu miền cực lạc.
Bắn phá
một hồi, hai chiếc Skyhawk rời vùng và nhanh chóng mất hút
cuối chân trời, còn lại hai Cobra đảo lui đảo tới ạch đùng
ạch đùng mấy giây hỏa tiễn trúng ngay vào đám xe tank cũng
chẳng thấy hề hấn gì. Trực thăng bắn cứ bắn, chiến xa địch
vẫn tiến trong đội hình tấn công dưới sự che chở của hỏa lực
phòng không. Lần này họ thay đổi chiến thuật sau khi đã
nướng khá nhiều bộ binh trong đợt xung phong trước, thiết
giáp xung kích mở đường, bộ binh lom khom lấp ló theo sau,
không còn hò hét ngậu xị.
Hai chiếc phản lực khác vào
vùng lần này là Phantom F4C, trong khi hỏa lực phòng không
cũng đã áp sát chân đồi, OV10 lảng vảng trên cao bắn trái
khói chỉ điểm cho Phantom lao xuống mục tiêu. Điều không may
cho chúng tôi là trong đợt tấn công đầu tiên của Phi Tuần
này, trái bom lửa vừa phủ lên chiến xa, thì đồng thời chiếc
F4C cũng bị bắn tung đuôi trong khi ngóc đầu lên sau đợt
oanh kích. Múi dù sặc sỡ mở bung trước khi con tàu bốc cháy,
lảo đảo đâm vào vách núi nổ vụn. Thế là tất cả máy bay có
mặt trong khu vực, kể cả hai chiếc Skyhawk mới vào vùng,
chưa bắn một phát đạn, bảo vệ cho phi công lâm nạn chờ trực
thăng cấp cứu. Chúng tôi không rõ họ có cứu được đồng đội
hay không, nhưng từ giây phút đó, chiến trường gần như bỏ
ngõ cho chiến xa lồng lên áp đảo.
Xe tăng địch lập
tức ào ạt xung phong, hai... ba... năm, bảy, mười một chiếc
tất cả cùng lao xuống, bỏ lại bộ binh phía sau, một chiếc bò
ngang chông chênh bên sườn đồi, lãnh nguyên trái pháo 105ly
trực xạ hất nhào xuống vực thẳm, chúng vừa bắn vừa tiến và
đã chiếm được bãi trực thăng. Chúng tôi đã thấy khả năng
hiệu quả của M72 không nhiều và không thể bắn ở khoảng cách
quá xa nên phải chờ đợi. Tất cả hỏa lực của chúng tôi chỉ có
thể tạm thời trì hoãn tốc độ tiến quân của bộ binh địch
trong trời gian ngắn, khi chiến xa chưa tiếp cận vị trí,
tách chúng ra khỏi sự che chở của chiến xa để dễ đối phó.
Hạ sĩ nhất Chính và Tiểu Đội Khinh binh lãnh nhiệm vụ
đón đánh đợt đầu tiên khi xe tăng vượt qua bãi đáp, tiến vào
yên ngựa hẹp trước khi bám vào căn cứ, đây là địa thế duy
nhất có thể khống chế đội hình địch, bắt buộc chúng phải lần
lượt từng chiếc một theo hàng dọc tiến lên. Chính dẫn theo
Bình, Tám, và Ngôn, mỗi người một cây M72 đã ở vị trí chờ
kích hỏa, luồn theo giao thông hào, chận ngang con đường
xuống bãi tiếp tế. Chuẩn uý Nghĩa muốn theo Chính, tôi nhìn
anh ái ngại, thôi Nghĩa à! Cần gì phải vội, anh ở đây chờ
thay tôi là tốt nhất, ai cũng sẽ có phần... Tôi nghĩ thầm
nhưng không nói với Nghĩa đã thấm cái đau xót trước những
thân xác đồng đội ngay từ mặt trận đầu tiên của đời quân
ngũ. Mặt Nghĩa hừng hực, mắt long lên như con thú bị thương.
Tâm lý chung của những kẻ đang không còn đường trở lại, và
thế là phải vượt lên phía trước, vượt qua cái hèn bản chất
của chính mình, không còn một khái niệm gì giữa cuộc sống và
cái chết, mà có khi chết còn thanh thản hơn sống.
Chúng tôi hồi hộp nhìn theo hai chiếc xe tăng dẫn đầu đang
bò theo con dốc hẹp, đám bộ binh đã bị hai cây đại liên gài
chéo cánh sẻ, cùng với tốc đội bắn nhanh của M16 đè đầu, nằm
dán xuống đất lãnh pháo, bò lui bò tới không theo kịp chiến
xa, kể như thiết giáp đã bị mù nên nó cũng thận trọng sử
dụng tối đa cây đại bác dọn đường.
Chính chờ chiếc đi
trước bắt đầu ghếch mũi súng lên đầu dốc, phơi toàn bộ cái
ức xám xịt trước mũi súng, khoảng cách chừng hai mươi mét,
anh bình tĩnh bóp cò. Trái đạn đen thui vẽ một đường thẳng
chớp nhoáng lao vào mục tiêu, nổ bùng vào cái mặt ù lỳ dị
hợm. Tưởng như mọi thứ phải tan tành hay bốc cháy trước sức
công phá trực diện của trái hỏa tiễn, thế nhưng chiếc chiến
xa chỉ khẽ khựng lại, như có vẻ giật mình chút đỉnh, rồi lại
tiếp tục tiến lên, không cháy, không nổ, không hề suy suyển.
Thấy nguy, Tám bồi thêm một trái trúng ngay hông pháo tháp
khi nó vừa vượt ngang tầm; vẫn không hề hấn gì. Thế là cả
toán đành dạt ra, ném tới tấp lựu đạn vào gầm xe, trong khi
chiếc xe đi sau cũng vừa bám theo được và tác xạ đại liên
tới tấp vào vị trí của Chính, tên xạ thủ 12.8ly chưa bắn
được bao nhiêu đã lãnh nguyên một tràng M16 gục xuống, xác
hắn vắt vẻo trên thành xe.
Chúng tôi bất lực để cho
chiếc số 1 tiến thẳng vào Căn cứ, chiếc số 2 vừa nối theo
thì Chuẩn uý Nghĩa nhảy phắt lên, thảy gọn một trái M26 vào
trong lòng pháo tháp. Anh chưa kịp nhảy xuống thì trúng đạn,
gục chồng lên xác địch thủ cùng lúc với tiếng nổ “bụp” tức
tối. Khói từ trong chiếc chiến xa bốc lên. Sao nó vẫn chạy,
vẫn tiến lên phía trước? Nó chạy quờ quạng thêm một đoạn
ngắn rồi nổ tan ra thành hai mảnh, pháo tháp bật ngược ra
sau cùng với xác của Nghĩa.
Được chiếc số một mở
đường, cả đám xe tăng cùng ào ạt tiến lên kéo bộ binh đông
như kiến cỏ, lúp xa lúp xúp. Một chiếc trờ tới ủi chiếc bị
cháy xuống sườn núi, lấy đường tiến lên, trong lúc chiếc số
1 đã vào hẳn vị trí trung tâm, bắn phá Bộ chỉ huy Pháo Đội
và mon men tìm tới Lữ Đoàn. Chúng tôi cố gắng dùng hết hỏa
lực trì hoãn bước tiến của xe tăng địch, nhưng vô ích. Không
có một trái M72 nào có khả năng công phá vỏ thép chiến xa dù
các chiến binh đã thừa gan góc tiếp cận từ mọi hướng, trước,
sau, hông, bụng, pháo tháp, bánh xích. Chúng đóng kín pháo
tháp, chỉ sử dụng đại bác và đại liên song hành càn lên hầm
hố, công sự, giao thông hào. Mũi xung kích của địch càn lên
chiếc hào, xé Trung Đội chúng tôi ra làm hai mảnh, với tình
thế đó, bắt buộc phải ra khỏi vị trí cố thủ, đánh cận chiến
với... xe tăng.
Đã có bốn chiếc lọt vào căn cứ, trong
lúc bộ binh vẫn còn vất vả phía ngoài, chúng tôi vẫn để hai
cây đại liên, và hai cây khác của Trung Đội 1 vừa mới chuyển
qua, bắn ghìm bộ binh, phần còn lại lao vào tăng địch. Chiến
trường không chỉ là của Trung Đội, mà cả Đại Đội đã lồng
lên, bu kín các chiến xa, mặc cho nòng súng quay tròn gạt
xuống. Nhưng làm gì được? Đã bắn hết số M72 để gãi ngứa
chúng. Đã ném không biết bao nhiêu lựu đạn để làm nhột
chúng. Đã chiã nòng M16 thật gần chỉ bắn vỡ được kính mắt
mèo... không lẽ lấy răng mà cắn? Sức cùng lực tận, hai cây
đại liên vừa hết đạn là bộ binh nương theo khói lửa tràn
lên, không biết cơ man nào mà đếm. Chúng tôi vừa đánh vừa
lùi, lùi trên xác đồng đội, lùi trên những đôi mắt đớn đau
tuyệt vọng của những chiến sĩ bị thương không còn người cứu
chữa đang nằm chờ chết.

Cả ngọn đồi đã trở
thành biển lửa và máu khi tất cả hỏa lực của hai bên đều tập
trung tác xạ vào một tọa độ duy nhất, dù mục đích vẫn khác
nhau rất xa...
“Bắn lên đầu tôi đi! Vĩnh biệt!
Bắn
lên đầu tôi đi! Vĩnh biệt!”
Trên tần số Đại Đội đã
vọng lên lời từ biệt gởi khắp bốn phương. Hai chiếc phản lực
chúi xuống đỉnh đồi, chùm bom đen đủi lao xuống mục tiêu là
một bầy xe tăng bốn năm chiếc, và cả chúng tôi mình trần
thân trụi. Tôi sững sờ đứng như trời trồng nhìn chùm bom lao
xuống đầu mình, thật nhanh, thật nhanh, thật gần, và gần hơn
nữa, rồi chỉ kịp ôm nón sắt nằm chúi vào vách đá trong một
loạt tiếng nổ vang rền, long trời, đất đá, sắt thép, mảnh
bom, mảnh thịt người, rơi lào rào, lịch bịch.
Đồng
minh oanh tạc thật chính xác! Đỉnh đồi nát bấy những mảnh vỡ
của công sự, những chiến sĩ cuối cùng của Pháo Đội B3 cùng
với Đại uý Nguyễn Văn Đương, Pháo đội trưởng đang kiên cường
trong những cố gắng gan góc, tác xạ trực diện vào xe tăng
địch đang loay hoay, lúng túng trước địa hình lồi lõm, hầm
hố mà khoảng cách chỉ là năm, mười mét. Kể từ lúc đó, chiến
địa mất hẳn liên lạc với Pháo Đội B3. Không quân đồng minh
đã đưa những con người có khả năng thay đổi tình thế đó vào
quân sử. Riêng xe tăng đối phương lại nằm ngoài tầm ảnh
hưởng của đợt bom công phá, dù khoảng cách cũng chỉ có 5, 10
mét. Họ đã có đồng minh mới.
Thế nhưng, trận chiến
vẫn chưa phải đã kết thúc, dù phần thắng bại đã thể hiện rõ
rệt. Máy bay vào vùng trở lại đem chúng tôi về cõi hồi sinh,
dù sao đợt oanh kích lầm lẫn tai hại đó đã giúp lực lượng
địch nống thêm một bước nữa, đẩy quân ta xuống sườn đồi,
chúng tôi vẫn nghĩ việc oanh tạc sai mục tiêu, bắn lầm vào
quân bạn là việc rất bình thường giữa chiến trường, nên vẫn
còn hy vọng vào phương tiện yểm trợ hữu hiệu này.
Ba
phần tư ngọn đồi đã nằm trong tay địch, chúng tôi chỉ còn
giữ được một phần Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn, Lữ Đoàn, nhưng không
còn ai trong những vị trí đó. Tất cả đã ra ngoài cùng sát
vai chiến đấu, và hệ thống chỉ huy liên lạc vẫn duy trì đầy
đủ cho đến cấp Trung Đội, dù trên thực tế, một Trung Đội còn
không quá 10 người còn khả năng chiến đấu. Sau khi tái phối
trí lực lượng, chúng tôi được lệnh trực tiếp của Tiểu Đoàn,
tổ chức một cuộc phản kích toàn bộ trên trận tuyến, cố gắng
chiếm lại các vị trí đã mất với hy vọng không quân sẽ yểm
trợ hữu hiệu để giữ vững Căn cứ.
Khi đã qua phần mở
màn đầy kịch tính của lo âu, sợ hãi nơi con người thèm sống,
khi mà khói súng đã quyện vằn vện với mồ hôi trên mặt, khi
những vết máu đồng đội đã đông cứng trên hai tay người lính
chiến, thì khái niệm sống, chết bỗng trở thành vô nghĩa,
nhất là trong hoàn cảnh không còn có thể chọn lựa như ở đây,
tất cả chỉ còn là định mệnh. Vì thế, tất cả đã hăm hở lao
lên trong một cố gắng tuyệt vọng, lại bắn, lại thụt M72, lại
ném lựu đạn, lại leo tràn lên xe tăng địch, mà bây giờ đã có
bộ binh phối chiến, mặt đối mặt với lưỡi lê báng súng, lăn
xả vào nhau bắn giết, đâm chém, lại loay hoay không biết
phải làm gì với khối sắt di động đó, lại bị thương, lại ngã
gục giữa bom bầy pháo lũ, pháo nổ chụp, pháo công phá, pháo
nổ chậm, trên đầu chụp xuống, dưới đất nổ hất tung lên, phạt
ngang lưng, chém ngang cổ. Bom, pháo cả hai bên cùng bắn vào
một chỗ, lính cả hai phía cùng chia nhau lãnh đạn, đạn bắn
thủng xuyên màng tang trổ ra sau ót, óc vỡ tung ra với máu,
vài cái nón sắt lăn lông lốc trên những đôi dép râu tuột
quai, nhầy nhụa trong một dòng nước đỏ ối đang khởi thủy vết
chảy ngoằn ngèo của một dòng sông máu.
Xác chết từ
hai phía thân ái ôm chầm lấy nhau rồi đổ ụp xuống nằm cạnh
nhau hiền hòa như chưa hề quen biết làm ngọn núi chợt cao
lên muôn ngàn lời ai oán.
Đợt phản kích không đủ sức
mạnh để đạt hiệu quả mong muốn, và từ dưới chân đồi tràn lên
một đợt sóng biển người và chiến xa khác. Địch tung toàn bộ
lực lượng vào đợt tấn công quyết định, trong khi phía chúng
tôi đã sức cùng lực tận, đành chấp nhận rút lui để hạn chế
thương vong.
Ngôi sao của cuộc tử thủ đến giờ phút
cuối cùng là Trưởng ban 3 Tiểu Đoàn, Thiếu tá Lê Hồng (danh
hiệu truyền tin là Hồng Vân) với sự bình tĩnh hiếm có và khả
năng Anh ngữ lưu loát đã lần lượt củng cố lại đội hình đơn
vị, ngăn không để sự hỗn loạn xảy ra; ông thực sự là cấp chỉ
huy cao nhất trận địa, dù vẫn còn Tiểu đoàn trưởng, Tiểu
đoàn phó, và các cấp cao hơn của Lữ Đoàn. Với bốn, năm chiếc
máy cần liên lạc, ông trực tiếp chỉ huy chúng tôi bố trí lại
trận chiến, trực tiếp hướng dẫn các Phi Tuần phản lực Mỹ
oanh tạc vào trận địa, và điều chỉnh pháo binh bắn cản. Tất
cả đó đã giúp cho đơn vị rút khỏi căn cứ trong vòng trật tự,
bảo tồn được phần lực lượng còn lại.

Trong
hoàn cảnh bi thảm như thế, mà triệt thoái được như một cuộc
lui quân bình thường, quả không phải là điều dễ kiến tạo,
nếu tự thân đơn vị không có truyền thống kỷ luật, và nhất là
người chỉ huy thiếu quyết đoán. Viết vài dòng để tỏ lòng
khâm phục ông, tôi vẫn không cảm thấy có điều gì hổ thẹn, dù
không biết ông còn sống hay đã chết, và dù sau này giữa ông
và tôi có nhiều khúc mắc, nhất là sau những lầm lỗi đời
thường của tôi trong những ngày đóng quân ở Thuận An, tôi đã
bị chính ông đì sát ván.
Giá trị đích thực của mỗi
một con người đều được thể hiện rõ rệt trong những gian nguy
thử thách. Khả năng chỉ huy tại trận tuyến của ông, đã đánh
bạt hết bao nhiêu ý nghĩ bất phục của giàn sĩ quan Đại đội
trưởng, đa số xuất thân từ hai quân trường lớn của Quốc gia,
nay lại phải dưới quyền chỉ huy của một sĩ quan đồng cấp,
lại khởi đầu binh nghiệp bằng quân hàm thấp nhất của Quân
Đội: Binh nhì. Dù tất cả cấp bậc của ông đều đã được tái đào
tạo cùng với cấp bằng văn hóa tương đương mà ông đã tự học
bằng những khoảng thời gian ngắn ngủi giữa hai cuộc hành
quân.
Đơn vị rút xuống khe núi, Trung Đội tôi chỉ còn
lại tám người, có Thượng sĩ Đàng và Trung sĩ Yến. Hạ sĩ Nhất
Chính đã tử trận lúc một chiếc chiến xa nghiến qua người sau
khi anh đã bị thương trong đợt phản kích. Tiểu Đội Khinh
binh chỉ còn lại Thông, Ngôn, và Tám, tôi lại được xuống cấp
làm tổ trưởng Khinh binh, dẫn hai ông tổ phó mở đường rút
cho đơn vị, mang theo được rất ít thương binh nhẹ, trong đó
có Bé, Trung đội trưởng Trung Đội 1.
Cái đau bại trận
thấm lên từng khuôn mặt mệt mỏi, chán chường, không đủ can
đảm nhìn thẳng vào mắt nhau, dù chỉ để đôi điều chia sẻ. Tôi
bỗng hổ thẹn vô cùng trước giọt nước mắt âm thầm lau vội của
Thượng sĩ Đàng; ông đã yêu những người lính trong Trung Đội
bằng tình yêu thương ruột thịt, nên cũng đau gấp vạn lần từ
thiếu vắng, tan hoang, buồn tủi trước cái nhìn trân trân vô
hồn của Thông và Tám. Họ đang nghĩ đến số đồng đội bị thương
đang chờ chết trong tay địch, điều mà từ trước tới nay, chưa
ai một lần nghĩ tới.
Rừng chiều bỗng đổ mưa. Tiếng
sấm gào cùng với tiếng pháo tàn trận, dội vào vách núi, vỡ
vụn ra những âm thanh buồn bã của hồi chuông tử biệt. Mưa
tuôn rì rào trên lá, rì rào lời kinh chiêu hồn vang vọng.
Trung Đội lầm lũi tiến về phía trước, theo sự hướng dẫn của
Đại Đội 31 còn nguyên vẹn, đang tiến về Căn cứ, và chờ chúng
tôi ở hai cây số Đông–Đông–Bắc. Trong khi ở một hướng khác,
Đại Đội 34 cũng đang đón phần còn lại của Đại Đội 32, trước
khi tập hợp tại một vị trí định sẵn. Chờ lệnh mới.
Buổi chiều tắt dần theo những đôi mắt ngoái nhìn cứ điểm
đang ngập chìm trong khói lửa. Đêm, đêm rủ xuống vách núi
chông chênh, cao thấp những bước chân đau buồn sống sót và
giữa rừng núi âm u chợt nghe tiếng ai thở dài đâm vào vết
đá, tiếng thở dài trôi xuôi hàng quân đang chênh vênh bên bờ
vực thẳm, cắn răng nuốt nỗi uất hận, Trung Đội vẫn ghìm chắc
tay súng, đoạn hậu cho toàn đơn vị rút qua.
Chúng tôi
nhận lệnh trực tiếp từ Tiểu Đoàn, tổ chức chốt chặn, để tất
cả thương binh nặng, nhẹ mang theo được, sẽ cùng Đại Đội 31
và Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn rút trước qua triền núi bên kia, sau
đó, sẽ tìm gặp Đại Đội 34 đang cùng với một bộ phận khác của
Tiểu Đoàn di chuyển cách đó chừng bốn cây số Đông–Đông–Bắc,
móc nối, dẫn đường cho hai cánh quân gặp nhau.
Nhiệm
vụ nghe có vẻ nhẹ nhàng, nhưng quả thực, khi đồng đội cuối
cùng khuất sau hẻm núi, chúng tôi cảm thấy vô cùng cô đơn
với sáu người còn lại. Và trên Đồi 31 vẫn ầm ì tiếng pháo
truy kích của xe tăng địch bắn vu vơ vào vách núi.
Chắc chắn khi leo lên được đỉnh Đồi 31, địch đã gánh chịu
một sự tổn thất không thể bù đắp nổi về quân số, nên họ đã
không còn khả năng tổ chức truy kích, vì thế, “Trung Đội sáu
người” bớt được gánh nặng nghênh cản để lần mò theo tiếng
súng hướng dẫn, tìm về Đại Đội bạn. Cho đến quá nửa đêm thì
gặp nhau, và chỉ kịp siết chặt nắm tay chào hỏi, gấp rút
quay theo đường cũ, dẫn theo Đại Đội 34, về gặp lại Tiểu
Đoàn trước khi trời sáng. Thời gian không còn thuộc về chúng
tôi.
Đoàn quân lần dò trong bóng tối của trùng điệp
núi rừng, bám vai nhau tuôn dần xuống dốc núi dựng đứng, cố
gắng tiến thật nhanh về điểm hẹn, nơi đó, một đơn vị bạn
đang trên đường tiếp ứng. Đến gần sáng, chúng tôi gặp được
quân bạn đang hướng tới Đồi 31 cùng với chiến xa, để rồi sau
đó, được trực thăng bốc về Khe sanh, tái bổ sung và trang bị
lại đơn vị.
Người lính Khinh binh, khi thắng trận,
vinh quang trải xuống theo hệ thống quân giai, thưởng này
thưởng kia huy chương thăng thưởng, tuyên dương tài điều
binh khiển tướng, hạ sĩ như Thông giỏi lắm lãnh sao bạc
đồng, với dăm ba ngày phép. Khi thất thế, nếu may mắn sống
sót trở về, lại gánh hết trách nhiệm một kẻ bất tài, làm như
việc thất thủ cứ điểm chỉ là do sự yếu kém của người lính
chiến đấu. Các quan to súng ngắn, các nhà tham mưu, kế
hoạch, hoàn toàn vô can, phủi bỏ trách nhiệm một cách thản
nhiên khi những đồng đội của Thông đã nằm lại trên chiến
địa. Thế nhưng họ chẳng bao giờ phân vân trên những ti tiện
đời thường, để vẫn hăm hở cắp súng lao về phía trước, quên
cả an nguy bản thân để thi hành mệnh lệnh.
Giai đoạn
một của cuộc hành quân Lam Sơn 719 kết thúc cùng với sự thất
thủ liên tiếp các Căn cứ Hỏa lực 31, 30, A–lưới. Đáng lẽ vị
“Tổng Tư Lệnh Quân Đội” và vị “Tư lệnh tài ba” của Quân Đoàn
I, cũng là Tư lệnh cuộc hành quân sớm nhận chân được thất
bại, để dừng lại các quyết định ngoài khả năng. Trái lại,
xương máu các đơn vị còn lại, là trụ cột chống đỡ Miền Nam
sau này, lại được họ ném vung vãi, vô tội vạ, vào cối xay
thịt mà đối phương và đồng minh đã dàn sẵn, từ Lao Bảo, lên
tận Tchepone!



Máu lính tế thần đã dâng cao hơn hoạn lộ, để cho bước
chân của Tổng thống Nixon trên Vạn lý Trường thành bớt gập
ghềnh khúc khuỷu.
Một mẩu chuyện về Đồi
31... Phần 1,
2,
3,
4,
Mục lục

Hết
MĐ Phan Hội Yên
nguồn:
dcv online đót nét




thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày Thứ
Ba, October 7, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH