

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự truyện
Chủ đề:
lính kể
Tác giả: Long Lý

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Lời giới thiệu: để tưởng niệm trận Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974 xin mời quí vị đọc bài viết của một phi công F5 rất trẻ cấp bậc Trung uý tuổi đời vừa trên 20. Một nhân chứng thật chứ không như phản tặc Nguyễn Thành Trung bốc phét. Xip phép bạn Long Ly cho tôi post bài viết của anh lên facebook mà khi đọc nước mắt tôi đã rơi. Xin anh Long tha thứ vì đã không xin phép anh trước.. –kd

Tôi
nhớ lại lời dặn đã được lặp đi lặp lại của huấn luyện
viên... một phi công lái F105, đã bay hơn 100 phi vụ oanh
tạc Bắc Việt... là “Khi không chiến, phải xem kẻ thù cùa
mình là phi công giỏi nhất thế giới”. Không chần chờ, quan
sát chung quanh, nhanh chóng phán đoán tình hình, có phản
ứng nhanh, đúng, kịp thời, chính xác, không để mất bóng phi
cơ địch, khai hoả thật nhanh, và hỗ trợ cho người bạn của
mình. Tôi vẫn biết lý thuyết là thế, nhưng trên thực tế,
ngoài khả năng của phi công còn có những yếu tố khác như:
khả năng nhào lộn, tốc độ thăng tốc cúa máy bay, vũ khí
trang bị trên phi cơ, vị thế đầu tiên của phi cơ địch và
thời tiết nữa.
Hôm nay thực sự những bài học kinh
nghiệm huấn luyện về không chiến sắp được ứng dụng, có lẽ
chỉ khoảng nửa giờ sau khi cất cánh từ Đà Nẵng. Tôi đã nóng
lòng chờ những giây phút ấy, chưa bao giờ xảy ra trong đời,
tôi thầm nhủ phải coi chừng những chiếc Mig 21, khó nuốt,
nhưng không thắng thì huề, nhất định không chịu thua.
Đến 1:00g, vẫn chưa thấy dấu hiệu gì chuẩn bị cất cánh,
ông Thiếu tá Giàu –người chỉ huy trận đánh– đi họp vẫn chưa
về. 1:30g, 2:00g, 2:30g, rồi 3:00g, vẫn chưa được lệnh. Lúc
đó tôi nghĩ đi trễ như vậy, lúc về tối mất, không mấy thuận
lợi nếu phải về trong trường hợp ít xăng và đáp xuống phi
trường Phù Cát còn khá xa lạ với những phi cơ F5. Khoảng
5:00g chiều mới biết cuộc hành quân oanh tạc Hoàng Sa bị huỷ
bỏ vì: “Mỹ không cho đánh”???
Ngày hôm sau, tôi không
có tên trong lịch trình trực bay, nhưng không đi đâu được,
vì đang cấm trại 100% nên vẫn quanh quẩn ở phòng trực phòng
không. Tại Đà Nẵng, lúc nào cùng có 3 Phi Tuần F5 trực phòng
không. Phi Tuần Xray trực 5 phút, Zulu trực 15 phút, Whisky
trực 30 phút (có nghĩa khi báo động, Phi Tuần Xray bằng mọi
cách phải cất cánh trong vòng 5 phút, sau đó Phi Tuần Zulu
được đôn lên thành 5 phút, sẵn sàng cất cánh nếu cần, Phi
Tuần Whisky đôn lên thành 15 phút và sẽ thành trực 5 phút
nếu Phi Tuần Zulu phải cất cánh.)
Khoảng 3:00g chiều,
tình hình vẫn bình thường. Trung uý Chinh người trực Phi
Tuần 5 phút đến gặp tôi, xin tôi trực thế cho một lát, để về
đưa con đi bác sĩ. Tôi nhận lời vì chúng tôi vẫn thường giúp
nhau, xem như anh em. Tôi lấy mũ bay ra phi cơ, gỡ mũ bay
của Trung uý Chinh ra, nối ống dưỡng khí và dây vô tuyến vào
(vì mỗi người có mũ bay riêng, đã được điều chỉnh cho phù
hợp với đầu của mình). Khoảng 3:30g, lúc đó Trung uý Chinh
vừa chạy xe vào khu vực phòng không, đang mặc bộ G suit thì
báo động.
Tôi vội chạy ra phi cơ, Trung uý Chinh cũng
chạy theo gọi tôi; Long để tôi bay cho.
Tôi vừa chạy
vừa trả lời: Không kịp đâu, tôi đã đổi mũ bay rồi. Nói xong,
tôi liền leo vào phòng lái, mở nút battery, khoác hai quai
dù vào, khoá seat belt lại, đội mũ bay, đeo mặt nạ dưỡng khí
vào.
Trong khi tôi làm những việc đó một chuyên viên
phi đạo vừa nổ máy, vừa giúp tôi nối giây G suit. Khi anh ta
bước xuống, rút cầu thang là tôi đóng ngay nắp phòng lái,
tống ga vọt khỏi ụ đậu.
Đài kiểm soảt không lưu Đà
Nẵng thông báo ngay trên tần số vô tuyến cao độ 20,000 ngàn
feet và hướng bay 045 mà đài kiểm báo Panama –ở trên đỉnh
núi Sơn Chà– yêu cầu để dễ dàng nhận thấy mục tiêu. Lúc ấy
mọi chuyện xảy ra rất nhanh, tôi không còn nhớ gì ngoài
những phương thức cất cánh khẩn cấp, chạy ra phi đạo, không
chần chừ, tống ga tối đa, mở afterburner, chiếc số 1 chạy
trước, tôi bám sát theo, phi cơ lao nhanh trên phi đạo.
Hôm ấy vì chuẩn bị đánh Hoàng Sa nên phi cơ mang ba bình
xăng phụ, phải chạy hơn một nửa phi đạo mới cất cánh được.
Có lẽ từ khi báo động đến khi chúng tôi gấp bánh lại khoảng
3 phút rưỡi, không lâu hơn khoảng thời gian ấy. Khi đang bay
lên cao, chúng tôi liên lạc với đài kiểm báo Panama xin diễn
tả mục tiêu.
Được cho biết hai phi cơ Mig 21 cất cánh
từ Hải Nam bay về hướng Đà Nẵng còn cách Phi Tuần chúng tôi
vào khoảng 100 dặm. Tôi bay dạt ra xa, hơi lùi về phía sau
đối với chiếc số 1 trong đội hình không chiến. Trung uý Tảo
bay số 1 liên tục hỏi Panama về mục tiêu vì 100 dặm tuy mắt
thường không nhìn thấy nhưng hai phi cơ siêu thanh bay đối
đầu nhau (head on) thì chỉ chốc lát là ở bên cạnh nhau ngay.
Chúng tôi tập trung quan sát kỹ lưỡng chung quanh, chưa
thấy Mig đâu, lúc đó, ở Phi Đoàn gọi hotline lên Panama dặn
chúng tôi nhớ vứt ba bình xăng phụ trước khi không chiến.
Tôi vừa bay vừa nghĩ, chắc đụng thật rồi, nút nhả ba bình
xăng phụ ở vi trí Standby chỉ cần bấm nút là ba bình xăng
phụ sẽ tách rời khỏi máy bay.
Tôi liếc nhanh hoả tiễn
Sidewinders đã sẵn sàng khai hoả, tôi vặn nút volume tầm
nhiệt của hoả tiễn không không nghe cho rõ, để khi không
chiến, hoả tiễn bắt được hơi nóng của phi cơ địch sẽ báo lên
bằng âm thanh nghe được bằng head phone gắn trong mũ bay.
Trung uý Tảo vừa liên lạc với Panama vừa quan sát mục
tiêu, tôi cũng thế, theo dấu chiếc số 1, đồng thời cũng quan
sát thật kỹ, mình phải thấy Mig trước, nhưng Panama im lặng
vô tuyến một lát rồi yêu cầu chúng tôi giữ cao độ 20,000
feet và bay vòng trở lại, vì hai phi cơ Mig 21 của Trung
cộng đã quẹo về hướng Hải Nam.
Chúng tôi bay bao vùng
vòng tròn ngoài biển cách phi trường Đà Nẵng khoảng 80–100
dặm. Thực ra Trung cộng muốn thử phản ứng của Không Quân
VNCH và chúng ta đã phản ứng rất nhanh, cất cánh ngay trước
khi Mig xâm nhập không phận và nếu có xảy ra không chiến thì
chúng ta kể như có lợi thế vì gần Đà Nẵng và khá xa Hải Nam.
Sau khi đã chỉ định danh sách những người bay các Phi
Tuần còn lại, nếu tôi nhớ không lầm là khoảng 10 Phi Tuần,
mỗi Phi Tuần hai chiếc. Phi cơ cất cánh bay cuối cùng là một
chiếc RF–5, do một vị thiếu tá Phi Đoàn 522 lái có nhiệm vụ
bay qua chiến trường chụp hình kết quả cuộc oanh tạc do
những chiếc F5 bay trước ném bom xuống.
Khoảng 10:00g
sáng, tất cả những phi công tham dự cuộc hành quân đặc biệt
này lên Sư Đoàn họp, nghe thuyết trình kế hoạch đánh Hoàng
Sa. Chẳng mấy khi những cấp sĩ quan cấp nhí như tụi tôi được
vào phòng họp này, nên thấy có vẻ hơi lạ.
Đại tá Tư
lệnh phó Sư Đoàn I Không Quân thuyết trình tình hình và kế
hoạch ném bom. Từng Phi Tuần cất cánh từ phi trường Đà Nẵng,
cách bờ biển 100 dặm, nếu thấy chiếc tàu nào đều đánh chìm
vì Hải Quân của chúng ta đã rút về phòng thủ ở trong vòng
100 dặm, các tàu của các nước khác đã được thông báo và yêu
cầu tránh xa vùng Hoàng Sa.
Chỉ có 10 phút không
chiến, không được ở lâu, khi về bay chếch xuống hướng Nam,
đáp xuống phi trường Phù Cát chứ không về Đà Nẵng nữa sợ phi
cơ Mig bay chận hậu. Nếu máy bay Mig đuổi theo những chiếc
F5 bay về Phù Cát, thì nó sẽ bị những chiếc F5 cất cánh từ
phi trường Đà Nẵng lên chận đuôi nên sẽ không dám bay xa
xuống hướng Nam.
Khi nghe thuyết trình như vậy, lúc
ấy tuy còn rất trẻ nhưng tôi đã hình dung được chưa chắc
mình đã bay được đến Hoàng Sa mà chắc chắn trận không chiến
sẽ diễn ra vào khoảng không phận 120 dặm cách Đà Nẵng cũng
như đảo Hải Nam của Trung cộng, vì khi chúng ta cất cánh lên
bay về hướng Hoàng Sa, máy bay Mig sẽ lên nghênh cản ngay và
cuộc đối đầu sẽ diễn ra trong khoảng toạ độ đó.
Đến
khi thuyết trình về hệ thống cấp cứu nếu chúng tôi phải nhảy
dù trong trường hơp khẩn cấp. Đại tá Tư lệnh phó SĐIKQ cho
biết... Cách bờ biển 50 dặm sẽ có hai chiếc tàu Hải Quân.
Trên mỗi tàu có hai chiếc trực thăng, sẽ bay đi cấp cứu
trong vòng 50 dặm nữa.
Như vậy, nếu mấy anh nhảy dù
trong vòng 100 dặm thì cứu được, còn ngoài 100 dặm sẽ không
cứu được vì quá xa. Một vị trung uý hỏi... Đệ thất hạm đội
Mỹ có cấp cứu khi chúng tôi nhảy dù ngoài tầm cấp cứu của
chúng ta? Đại tá trả lời ngay: “Đệ Thất Hạm Đội từ chối
không cứu”.
Lúc đó chúng tôi hiểu ngay Mỹ đã bật đèn
xanh và làm ngơ cho Trung cộng cướp đảo Hoàng Sa của chúng
ta. Là những chiến sĩ VNCH ai không đau lòng khi bị Trung
cộng chiếm Hoàng Sa, lấy mất mảnh đất do cha ông đã đổ bao
công lao, xương máu tạo nên, giữ gìn cho đến ngày nay...
Những cuộc chiến đấu dũng cảm, đẫm máu như Tết Mậu Thân
1968, tái chiếm Cổ thành Quảng Trị năm 1972, những trận đánh
lừng danh trên khắp lãnh thổ Miền Nam Việt Nam, nhất quyết
không để một tấc đất vào tay kẻ thù, vậy mà Trung cộng lại
ngang nhiên, công khai xâm lấn Hoàng Sa, với sự im lặng ủng
hộ của CSVN, với sự phủi tay của Hoa Kỳ.
Những phi
công F5 được chỉ định oanh tạc Hoàng Sa không ai từ chối,
trái lại tinh thần rất cao, sẵn sàng tung cánh dầu không có
sự yểm trợ của Không Quân và Đệ Thất Hạm Đội Mỹ. Trước khi
vào nghe thuyết trình, chúng tôi vẫn đinh ninh sẽ có sự tham
dự ném bom của Không Quân Hoa Kỳ như họ đã từng bay những
phi vụ yểm trợ, đánh phá Việt cộng tại miền Nam cũng như tại
miền Bắc trước khi có hiệp định Paris. Hoặc ít ra không trực
tiếp oanh tạc, phi cơ Mỹ cũng bay Air Cover cho KQVNCH an
toàn oanh tạc Hoàng Sa. Nhưng thực tế, họ đã từ chối, tại
sao vậy? Lúc đó chúng tôi không hiểu có phải Mỹ đã bỏ rơi
chúng ta hay họ muốn thử xem thực lực của KQVNCH có khả năng
vươn nổi cánh sắt đến những mục tiêu xa xôi như Hoàng Sa?
Buổi thuyết trình hành quân đang khựng lại vì hệ thống
cấp cứu rất hạn chế thì bỗng cửa phòng họp mở ra, Đại tá Võ
Văn Sĩ, Không đoàn trưởng Không Đoàn 63 Chiến Thuật ở phi
trường Biên Hoà và môt sĩ quan Không Quân cao cấp khác tôi
không biết tên, cả hai bước vào phòng họp.
Đại tá Sĩ
chỉ ngay vào Thiếu tá Hồ Kim Giàu nói: “Giàu, đừng nóng”.
Hai vị sĩ quan cao cấp mới đến tiếp xúc với Đại tá Tư lệnh
phó Sư Đoàn I KQ một lát và sau đó ra lệnh cho tất cả các
phi công rời phòng họp.
Về khu trực phòng không,
chúng tôi được lệnh chuẩn bị cất cánh, có lẽ vào khoảng
1:00g chiều. Ai nấy sẵn sàng, kiểm tra lại G suit, xem lại
những dụng cụ cấp cứu trong chiếc áo lưới, cẩn thận gài chặt
khẩu súng P38, biết đâu đến lúc cần đến nó! Tôi mở sẵn bản
đồ hành quân. Hoàng Sa nhỏ bé thật, có nhiều đảo nhỏ nhưng
không có một mục tiêu được chỉ định rõ ràng.
Tôi cố
học thuộc lòng tần số liên lạc của phi trường Phù Cát để khi
trở về không lạng quạng mò mẫm. Tôi hình dung lại những bài
học không chiến đã được tập luyện kỹ lưỡng tại Hoa Kỳ cũng
như những phi vụ thực tập hàng ngày ở Phi Đoàn 538.
Tôi có niềm tự tin không đến nỗi nào, có thể sẽ thắng. Khi
thực tâp tại vùng sa mạc Arizona, đã nhiều lần tình cờ không
chiến với các phi cơ F4, F100 (cũng bay những phi vụ huấn
luyện về không chiến). Chính tôi cũng thấy ngang ngửa, không
có gì thua sút họ cả.
Tôi ôn lại những kỷ niệm năm
xưa với những dự tính oanh tạc Hoàng Sa năm 1974 của Phi
Đoàn mà tôi phục vụ để thấy những nỗi đắng cay của chúng ta,
của một nước kém phát triển, của một quốc gia còn non trẻ
nhưng gặp thảm hoạ chiến tranh đã bị các nước lớn khuynh
đảo.
Hoa Kỳ đã dùng xương máu của những người Việt
Quốc Gia chống lại sự bành trướng của CS. Đã dùng Việt Nam
làm điểm nóng, làm tiêu hao sinh lực khối Cộng sản quốc tế
trong cuộc chiến tranh lạnh toàn cầu với CS. Chúng ta là nạn
nhân của sự xung đột ý thức hệ, là tụ điểm va chạm nảy lửa
của hai khối CS và Tự Do.
Trong cuộc chiến đấu chống
Cộng tại Việt Nam. Hoa Kỳ chủ trương không muốn thắng, duy
trì chiến tranh làm Liên xô, Trung cộng phải “xuất huyết”
hao tiền tốn của để viện trợ cho CS Bắc Việt. Đó là cuộc
chiến tranh của những nước lớn, nhưng lại dùng quê hương
chúng ta làm chiến trường. Để rồi, một thời điểm nào đó, vì
quyền lợi của Hoa Kỳ, người Mỹ phũ phàng bỏ rơi, để hàng
chục triệu người vô tội rơi vào địa ngục cộng sản.
Ôi
còn xót xa nào hơn thân phận của các nước nhược tiểu chỉ
hứng lấy những sai lầm và là nạn nhân của các cuộc xung đột
quốc tế. Hoa Kỳ đã mắc phải những sai lầm rất lớn trong cuộc
chiến tranh Việt Nam trước đây, họ có trách nhiệm phải xoa
dịu những nỗi thống khổ hiện nay của những người dân và
Chiến Sĩ Quốc Gia mà quá khứ đã dũng cảm chiến đấu cho tự do
bên cạnh Hoa Kỳ bằng những nỗ lực làm tan dần đại hoạ CSVN.
Năm 1972, Hoa Kỳ nghĩ rằng bắt tay với Trung cộng có rất
nhiều điều lợi như tạo được sự chia rẽ giữa Liên xô và Trung
cộng, Xâm nhập kinh tế Trung cộng bằng dự án đầu tư thương
mại. Hoa Kỳ cứ tưởng “Nắm đầu Trung cộng” tức đã nắm được
CSVN nhưng chính Trung cộng đã bị CSVN phản bội, bỏ rơi để
chạy theo Liên xô. Vì vậy, năm 1979, Trung cộng đã đem quân
qua trừng phạt, dạy cho CSVN một bài học đó là thiếu trung
tín bất lương.
Sau này, có khi chúng tôi tập bay
không chiến khá xa bờ biển, có khi khoảng 80 dặm, tôi nhìn
biển xanh rộng mênh mông, Đà Nẵng nhìn thấy mờ mờ như trong
sương mai. Biển bao la quá, tôi thấy tội nghiệp cho những
anh hùng Hải Quân VNCH đã dũng cảm, đơn côi chiến đấu với
bọn cướp hung hãn Trung cộng. Các anh chiến đấu không ai yểm
trợ, biển lạnh sóng gió chập chùng, muốn mau về bến bờ, về
thăm nhà cũng mất cả ngày, còn chúng tôi chỉ lát nữa đây,
sau khi đáp xuống Đà Nẵng, là có dịp đi dạo phố hoặc quây
quần cùng gia đình.
Đã 34 năm trôi qua, nhớ lại những
kỷ niệm của thuở làm trai thời loạn, những ngày tung cánh
vẫy vùng trong không gian, những ngày đâm xuống ném bom vào
đầu giặc thù, những ngày trực phòng không dài lê thê, những
ngày mưa dầm kéo dài cả tuần, mây mù che phủ Đà Năng thảm
thương.
Hoàng Sa đánh dấu một trong những bước khởi
đầu của tiến trình bỏ rơi VNCH. Đó là một nỗi buồn lịch sử
báo động cho một đại hoạ sắp xảy ra cho VNCH. Tôi nhớ những
người bạn cùng khoá đã anh hùng ra đi vĩnh viễn.
Nguyễn anh Tuấn – Đinh thành Trung – Nguyễn thăng Long – Lê
mậu Trung – Đặng minh Toàn – Trần anh Tiên – Lê trường Sa...
Từ khi còn trong quân trường, các anh và chúng tôi đã cùng
hát:
“Đây đó, hồn nước ơi,
Không Quân Việt Nam
lướt trên ngàn mây gió,
ù u u u u ú,
Ôi phi công danh
tiếng muôn đời...”.
Danh tiếng muôn đời lại mở
đầu bằng tiếng “ôi” não nùng!!! Các anh đã thực hiện những
chuyến bay dũng cảm, gieo kinh hoàng khủng khiếp cho kẻ thù,
và các anh đã chết để giang sơn được sống, để đồng bào được
ấm no nhưng người Mỹ đã buông xuôi, hậu quả là nước mất nhà
tan, người Việt Nam lưu lạc bốn phương trời. Những cánh chim
sắt của Không Quân VNCH đành phải xếp cánh và có lẽ sẽ không
còn cơ hội nào tung bay như ngày xưa nữa.
Xin dành
một phút tưởng niệm đến tất cả những anh hùng Hải Quân đã
hiên ngang dũng cảm hải chiến với tàu Trung cộng để bảo vệ
Hoàng Sa và đã chọn đại dương là mồ an nghỉ cuối cùng. Xin
dành một phút tưởng niệm đến tất cả những phi công VNCH đã
trải dài thân xác mình trên khắp quê hương thân yêu vì chính
nghĩa Quốc Gia và Lý Tưởng Tổ Quốc Không Gian.
Ngày
nay, khi cộng Sản Việt Nam lại ký kết hiệp ước biên giới
dâng đất, dâng biển, dâng một phần giang sơn của tổ tiên và
tiền nhân để lại, cho Trung cộng, thật tỏ rõ CSVN thật sự là
quân bán nước. Đọc kỹ lịch sử bán nước của CSVN, tôi mới
biết ngày 14/9/1958. Phạm Văn Đồng thừa lệnh của Hồ Chí Minh
đã ký dâng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung
cộng.
Có lẽ trước năm 1974. Trung cộng không dám đụng
đến vì trên đảo có quân lính VNCH trấn giữ và Hoa Kỳ vẫn còn
sát cánh với QLVNCH chống cộng. Nhưng khi biết Mỹ có ý định
rút quân ra khỏi miền Nam, Trung cộng tấn chiếm để xem phản
ứng của chúng ta và Hoa Kỳ như thế nào rồi từ đó cố vấn cho
CS Bắc Việt đẩy mạnh cuộc xâm lược để chiếm miền Nam Việt
Nam... Và thảm hoạ đã đến, ngày đó, tôi thật ngây thơ khi
nghĩ cuộc chiến Hoàng Sa chỉ là âm mưu ăn cướp một hòn đảo
nhỏ và người Mỹ cũng không quan tâm vì mất đảo Hoàng Sa
không có nghĩa mất đi một vị trí chiến lược có ảnh hưởng đến
sự sống còn và tồn vong của của VNCH.
Với tư cách
người lính chiến đấu bảo vệ quê hương, với những hiểu biết
rất hạn chế về thời cuộc, mình đâu có nhìn thấy tiến trình
bỏ rơi của Mỹ và hiểm hoạ CS mỗi ngày một lớn, để rồi vẫn
bình thản bay bổng làm tròn trách nhiệm và bổn phận của mình
cho đến ngày mất nước.
Long Lý



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by mđ đoàn hữu định chuyển
Đăng ngày
thứ Tưa, January 21, 2026
tkd.
Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH