
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự Truyện
Chủ đề:
lính kq thoát hiểm
Tác giả:
Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)
Hai
Mươi Bảy Năm Sau. Mến tặng các
Thái Dương 530 lẫy lừng của vùng trời Tam Biên
(Cách riêng Thái Dương Nguyễn Tài Cơ), các phi công trực
thăng Sư Đoàn Sư Đoàn 6 Không Quân, các Bắc Đẩu 118 (cách
riêng thầy Võ Ý, đã một thời Tam Biên oai trấn), các Sao Mai
114 (cách riêng Nhơn, Hưởng, Ngọc là những người đã đi biệt
phái Pleiku mút chỉ mờ sông với chú út) để nhớ rằng, “Ta
cũng có một thời Tam Biên Oai Trấn, Lạnh tím người ba biên
giới mưa bay” (thơ Trương Minh Dũng).
Khoảng thời
gian từ năm 1972 tới năm 1999 là 27 năm... Hai mươi bảy năm.
Phải, hai mươi bảy năm. Một bên là thành phố Pleiku nghèo
nàn lại cuồn cuộn máu lửa, mạng người rẻ như cỏ tranh nhưng
lòng người cao vời chất ngất. Một bên là thành phố San Jose,
thung lũng điện tử lừng danh của thế giới, của những căn nhà
ba bốn trăm ngàn một cái, của những buổi sáng ngồi xe đi làm
ba bốn tiếng đồng hồ mới tới sở, của chốn phồn hoa đô hội,
của những tình người nhạt như nước vôi... Một bên là những
chiếc xe pick–up màu xanh, những chiếc xe cam–nhông, xe díp
[jeep] nhà binh. Một bên là những chiếc xe Mercedes, Lexus,
Accura đời mới giá có chiếc nhiều khi bằng cả... một đời
người đi làm. Một bên là những bộ đồ lính đủ thứ loại, từ
chiếc áo bay với khăn quang cổ đến chiếc áo rằn ri của lính
Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt.
Một bên
là những mái đầu xanh... pi–lốt, đẹp trai con nhà giàu nghèo
đủ thứ nhưng học giỏi con gái mê.
Một bên là những
người Mỹ gốc Việt bụng phệ, có người đeo kiếng lão kính cận
với những người đẹp xa xưa bây giờ đã trở thành những hiền
phụ (hoặc đôi khi, đáng buồn thay, ác phụ, ăn hiếp chồng
suốt ngày và đòi hỏi đủ thứ).
Một bên là những giai
nhân sắc nước hương trời, những hồ mắt giai nhân, những
đường cong tuyệt mỹ. Một bên là những bà mẹ tuổi đã quá
Xuân, khuôn mặt tư lự với những vết nhăn của những lo âu
phiền muộn về chồng con, về tháng ngày, và về cuộc đời.
Một bên là những tiếng đề–pa lạnh người của những quả
đại pháo 130ly, hoả tiễn 122ly, những tiếng đạn bay xé gió
nghe kinh khiếp hơn cả tiếng hú của tử thần, và những tiếng
chạm nổ xé màng tai khi đạn tới đích.
Một bên là
những tiếng hát điêu luyện truyền cảm không thua gì ca sĩ
chính gốc trong những cuộc thi tuyển ca sĩ ka–ra–ô–kê vui
vẻ.
Một bên là những người mẹ già cúi đầu thật sâu
trước tượng Phật hay tượng Chúa, “Lạy Trời, cho đất nước hết
chiến tranh để con trai tôi về nhà.”
Một bên là những
khuôn mặt nhăn nhúm ngồi nhìn đám trẻ vui đùa ăn nhậu và
thấy trống vắng ngậm ngùi như mình là kẻ đến từ một tinh cầu
xa lạ, đêm về thầm khấn vái trời phật một lời cầu xin chân
thành “Còn sống được ngày nào, xin đừng để tôi làm khổ con
cái ngày đó”.
Một bên là hận thù và lòng yêu nước
cuồn cuộn dâng trào.
Một bên là lòng tham vô đáy hoặc
lòng vị kỷ vô song, không bao giờ là đủ...

Không khí thật nghiêm trang,
cảm động. Và cuối cùng, một bên là những chiếc phi cơ
Skyraider A1–H, những chiếc trực thăng UH–1, những chiếc
C–130 đen thùi lùi, những chiếc L–19 nhẹ nhàng ẻo lả, những
cây minigun, những cây cà–nông 20ly trên cánh chiếc
Skyraider A1... đẹp chết người.
Một bên là... chẳng
còn gì cả ngoài những tâm hồn trống vắng, những thao thức
cùng xót xa của những kẻ đã một thời từng xả thân cho quê
hương đất nước.
Nhưng, kể từ thuở loài người biết mài
đá làm dao cho đến khi biết chế ra xe tăng đại pháo để xâm
lăng và giết chóc lẫn nhau, có chuyện thua trận nào là
chuyện không đau buồn tủi nhục đâu thưa bạn?
Trong
hoàn cảnh đó, tôi gặp lại Thái Dương Nguyễn Đức Cơ sau 27
năm... Một bên (lại một bên) là một phi công lẫy lừng của
một Phi Đoàn Khu Trục biên trấn, một bên là một realestate
agent thành công với nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn và
một... cặp kính trên sống mũi...
Và tôi phải có lý do
khi nói như thế...
Tôi vừa tạm cư ở thành phố San
Jose được chừng vài tháng. Mỗi ngày, buổi sáng tôi đi ra
khỏi giường rồi ngồi vào bàn máy điện toán. Buổi chiều, tôi
đi từ cái giàn máy điện toán trở lại vào... giường ngủ và
leo lên. Không đi đâu cả. Nói tóm lại thì tôi sống một cuộc
đời ẩn cư. Không muốn biết ai và cũng chẳng muốn ai biết
mình. Không phải vì tôi muốn chơi cao hay làm khó hay ngon
lành gì hơn ai, tôi chỉ muốn sống thầm lặng một thời gian để
“Tìm lại linh hồn mình giữa một nước non hiu quạnh” (St.
Exupery). Thật vậy, xin hiểu giùm tôi. Cuộc đời người ta,
khi mình trải qua một cuộc thay đổi lớn (như... trúng số
chẳng hạn) mình cần một thời gian im vắng để nhìn lại mình,
hay tìm lại linh hồn mình... Thỉnh thoảng, một hai lần gì
đó, đàn anh Nguyễn Quí Chấn còn ưu ái đến nhà chở tôi đi ăn
phở. Phải, Phở. (Có nhiều khi tôi nghĩ, văn hoá dân tộc mình
sẽ là một nền văn hoá rất khô khan nếu không có... phở. Phở
ngon như phở Bình luôn luôn làm cho lòng người lữ khách như
tôi thấy ấm lại). Chúng tôi... ăn phở tận tình, húp đến
miếng nước súp cuối cùng và nói chuyện tâm tình. Rồi ai về
nhà nấy.
Một ngày đẹp trời, đàn anh Nguyễn Quí Chấn
gọi mời tôi đến nhà Cơ chơi. Tôi ừ ừ cho xong chuyện. Có lẽ
đàn anh biết thế nên buổi tối cùng đi với đàn anh Nguyễn Văn
Kim đến tận nhà tôi để chở tôi đi. Việc này làm tôi cảm động
và tôi quyết định đi, dù không quen không biết Cơ là ai.
Bước vào nhà thì bao nhiêu “ẩn sĩ” trong người tôi biến
mất hết. Trong nhà toàn là tài tử cùng giai nhân cũng những
“phi công ngày cũ”, mà lại là phi công Khu Trục mới ngon...
Mới đầu, tôi để ý đến dáng dấp một phi công mặt mày khắc
khổ, hình tượng gầy gò na ná như hình tượng của một kẻ sĩ
trong truyện Tàu. Hỏi ra mới biết đó là anh Hai, biệt hiệu
Hai Còi, cựu thiếu tá, cựu Thái Dương 530. Anh Hai Còi,
giống như bao nhiêu phi công Khu Trục khác sinh ra trong
trái đất này, là một người... đẹp trai và vui tánh (phi công
L–19 cũng thế nhưng hơi... dâm hơn một chút). Anh mang tên
Hai Còi là bởi ngày xưa anh vào quân trường thân thể ốm quá
nên bạn bè gọi là còi. 30 năm sau anh vẫn còn còi như... 30
năm trước. Còi nhưng nụ cười và tâm hồn chẳng còi chút nào.
Trái lại, tâm hồn anh còn hừng hực lửa. Lửa của những ngày
“Ta cũng đã một thời Tam Biên oai trấn, Lạnh tím người ba
biên giới mưa bay... (thơ Trương Minh Dũng)” nhưng cũng có
lửa của tủi nhục và hận thù. Tôi nhớ anh lặp lại mấy lần câu
“Thua trận mất nước như tụi mình chẳng có gì để hãnh diện.”
Ngồi nhìn anh Hai Còi nói chuyện, tôi nhớ đến những ngày
dài biệt phái Pleiku hồi xưa...
Hồi đó, chúng tôi
được biệt phái cho Sư Đoàn 23 Bộ Binh và vì Sư Đoàn dời từ
Ban Mê Thuột lên Pleiku nên chúng tôi phải khăn gói đi theo.
Đất Pleiku là đất của mưa rừng và gió núi. Phố xá đìu hiu và
buồn kinh khủng. Tôi nhớ những ngày khăn gói lên Pleiku, tôi
bước xuống phi cơ mà có cảm tưởng như mình bước xuống chốn
lưu đày. Tôi tự hỏi, sao người ta có thể sống được ở một chỗ
buồn như thế này. Ấy thế mà vào câu lạc bộ nhìn thấy thiên
hạ cười nói ồn ào, đùa giỡn hồn nhiên thì mới thấy được rằng
ở đâu rồi cũng quen đó. Biệt phái ở Pleiku không có chuyện
gì làm, tôi khám phá ra một thú vui khác là thú vui ngồi
ngắm những chiếc A1 cất cánh. Hồi đó tôi thường nói đùa với
bạn bè rằng: “Nếu là mây anh sẽ là loại mây trắng, nếu là
hoa anh sẽ là một đóa hướng dương, nếu là phi công, anh chỉ
nên lái Skyraider A1”. Skyraider A1 là một loại phi cơ lớn
và rất khó lái. Và khi phi cơ cất cánh, động cơ nổ 2200 mã
lực của chiếc tàu bay gầm thét lên như rung chuyển sơn hà.
Lên trời, không phải như mấy anh A–37 “chưa đánh đã đòi về”,
Skyraider A1 nhẩn nha quý phái thả từng trái bom một một
cách chính xác. Ở trên trời mà xin được một Phi Tuần
Skyraider A1 thì quý hơn gấp 3 lần một Phi Tuần A–37.
Câu chuyện với anh Hai còi đưa đẩy một lúc thì chúng tôi
trở lại những ngày xưa hồi chiến cuộc còn nóng bỏng dữ dội
của năm 1972...
Tháng 4 năm 1972,
trong trận đánh mà bây giờ báo chí Mỹ gọi là “The Easter
Offensive of 1972”, muốn thử giò thử cẳng quân đội ta sau
ngày Mỹ rút, cộng quân đem hơn chục Sư Đoàn bộ binh tràn vào
miền Nam trắng trợn xâm lăng. Riêng vùng II Chiến Thuật,
cộng quân tập họp 4 Sư Đoàn bộ, 3 Trung Đoàn xe tăng và 3
Trung Đoàn phòng không quyết chiếm Cao Nguyên Việt Nam để
cắt đứt miền Nam làm hai phần.
3:00g chiều
ngày 28 tháng 4 năm 1972,
2 Sư Đoàn bộ binh và một Trung Đoàn thiết giáp Việt cộng bao
vây và tấn công Tân Cảnh, thị trấn cực bắc của Cao Nguyên
Việt Nam. Quân trú phòng gồm có Nhảy Dù và Sư Đoàn 22 Bộ
Binh cầm cự anh dũng, đẩy lui nhiều đợt tiến của giặc. Trận
đánh diễn ra suốt buổi chiều và kéo dài qua đêm...
1:00g sáng ngày 29 tháng 4 năm 1972, Thiếu tá phi công
Khu Trục Hai Còi của Phi Đoàn 530 đang ngủ thì điện thoại
gọi anh lên cất cánh. Phòng hành quân cho biết Bộ Tư Lệnh Sư
Đoàn 22BB ở Tân Cảnh bị tấn công, xe tăng Việt cộng đã tới
phía ngoài phòng tuyến, cần mấy Khu Trục lên yểm trợ gấp.
1:00g sáng là cái giờ... tối hù và buồn ngủ. Và điều quan
trọng ở đây là phi cơ Skyraider A1 không phải là loại phi cơ
có khả năng để đánh đêm. Nhưng viễn ảnh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn
22 Bộ Binh bị tràn ngập là một viễn ảnh không thể chấp nhận
được. Hai Còi biết những giờ phút sắp tới là những giờ phút
căng thẳng và nguy hiểm vô cùng nhưng mình là lính. Mình
lãnh lương để đánh giặc và giặc về rồi, mình phải đánh. Hai
còi cười khì một cái rồi chụp lấy nón bay, cùng mấy người
bạn ra tàu. Mấy chiếc Skyraider A1 ra so hàng ở phi đạo rồi
từng chiến một cất cánh lên, biến mất trong màn đêm. Anh Hai
Còi tâm sự:
– Trời tối và thời tiết xấu quá nên không
bay hợp đoàn được. Mỗi người xách một chiếc tàu bay cất cánh
lên, đâm thủng bức tường mây tới mục tiêu nhưng phải trở về
(một tiếng chửi thề nhỏ ở đây). Mục tiêu bị mây phủ kín. Có
thấy gì đâu mà đánh. Trở về nhưng một lúc sau lại cất cánh
lên trở lại. Cũng chẳng thấy gì để đánh. Lại phải trở về và
rồi cất cánh lên lần nữa. Rồi lại trở về.
Nhưng rồi trời
cũng sáng trở lại. Trần mây bây giờ lên được... một ngàn bộ.
Quân trú phòng đã cầm cự anh dũng dù tăng Việt cộng vẫn còn
tiếp tục tới gần hơn nữa. Bây giờ thì phi công Khu Trục Việt
Nam cất cánh ào ào.
Một trong những người đó là thiếu
uý Nguyễn Đức Cơ.
Và những gì xảy ra sau đó đã trở
thành những mẩu chuyện của lịch sử, có sổ sách ghi lại hẳn
hòi. Người viết kể lại không phải để “tôn vinh” Không Quân,
cũng không phải để “cứ chuyện cũ nói hoài”, nhưng như là một
món quà nhỏ của một người đã từng góp máu dành cho một người
khác đã từng góp máu của Không Quân Việt Nam. Những người
như Cơ cần được biết tới trong cộng đồng chúng ta...
Hồi ấy Cơ là phi công trẻ tuổi mới ra trường và giống như
bao nhiêu phi công trẻ tuổi mới ra trường thời đó, Cơ bay
rất hăng và thả bom rất chính xác. Trần mây thấp 1 ngàn bộ
có nghĩa là không thả bom được vì bom cần phải thả ở một độ
cao tối thiểu là 1500 bộ thì mới đủ sức ép để làm nổ ngòi nổ
và do đó bom mới nổ. Còn bay trên một ngàn bộ tức là bay
trong mây, thấy gì mà thả. Nhưng tăng Việt cộng về như thế
thì làm sao đây? Không lý bay vòng vòng nhát cho chúng nó
sợ? Đây là những câu hỏi làm nát lòng người phi công, những
câu hỏi không ai trả lời được...
Anh Hai Còi tâm sự,
giọng đau đớn pha lẫn chút hãnh diện của một thời đã góp
máu:
– Ông biết tụi tôi thả thế nào không? Cứ bay
dưới một ngàn bộ rồi tới gần đó, kéo tàu bay lên 1500 bộ rồi
bấm rớt bom...
Thêm một ngụm bia, một tiếng khà rồi
anh Hai Còi nhăn mặt lại:
– Nếu hôm đó có Rocket
chống xe tăng thì tụi tôi đã quét sạch chúng nó trong vòng
15 phút... Khổ cái là hôm đó mình không có rocket, chỉ có
bom nổ và bom Na–pan...
Vì không có rocket chống xe
tăng nên đến 11:00g sáng, xe tăng Việt cộng vẫn còn đầy dẫy
khắp nơi. Và Thiếu uý Nguyễn Đức Cơ lâm trận...
Hôm
ấy Cơ mang bom Na–pan tức bom xăng đặc. Ai cũng biết rằng
bom xăng dùng để chống chiến thuật biển người nhưng Cơ lại
dùng bom xăng để chống xe tăng. Hiệu quả của một trái bom
xăng trúng vào xe tăng như thế nào không ai biết, nhưng
Thiếu uý Nguyễn Đức Cơ chỉ biết một điều quan trọng: thả
trái bom chính xác vào xe tăng để ngăn chận đường tiến quân
của giặc.
Cơ xuống lần đầu tính thả, nhưng hụt. Cơ
kéo tàu lên, lồng lộn quay trở lại để làm cú thứ hai. Cơ
xuống thấp, thấp và thấp hơn nữa (Đi Na–Pan thì phải đi thấp
mới trải bom ra như một tấm thảm được). Cơ bấm rớt bom và
kéo tàu lên thì nhận ra chuyện khác lạ trong tàu...
Đây là cái cảm giác mà người phi công sợ nhất trong cuộc đời
bay bổng của mình. Nó giống như cái cảm giác khi quý vị lái
xe, vặn tay lái quẹo phải nhưng nó không chịu quẹo hoặc nguy
hiểm hơn, lại quẹo trái.
Phi công Nguyễn Đức Cơ biết
ngay chuyện gì xảy ra cho mình. Tàu bay anh bị trúng đạn.
Anh nhìn ra ngoài và thấy cánh trái bị đạn phòng không bắn
rách eleron (bộ phận bánh lái để ra lệnh cho phi cơ nghiêng
cánh.) Phi cơ không còn tuân lệnh anh nữa. Anh kéo tàu lên
khỏi những loạt đạn quái ác, hy vọng rằng kéo tàu bay ra
khỏi mây thì những gì mình vừa nhìn thấy chỉ là... một giấc
mơ...
Nhưng tàu không lên được nữa. Và tệ hơn, tàu
bay mất thăng bằng bắt đầu chúi mũi xuống đất. Không kiểm
soát được phi cơ nữa, Nguyễn Đức Cơ thò tay kéo ghế cho hỏa
tiễn bắn mình ra ngoài.
Đây là một hành động tận cùng
của người phi công... tận cùng bởi vì giữa cái chết trước
mặt và việc nhảy ra khỏi tàu bay để rồi cũng chết, thì hành
động kéo dù nó nhẹ nhàng hơn...
Chiếc ghế bay của
Nguyễn Đức Cơ được hỏa tiễn bắn ra khỏi phòng lái, Nguyễn
Đức Cơ biến thành người lính nhảy dù bất đắc dĩ, bay lơ lửng
trong không khí... từ phía dưới, những tràng đạn cuồng nộ và
hèn nhát của cộng quân chĩa vào người Cơ và nổ tới tấp.
Chúng nó muốn bắn gục một người chiến sĩ không còn vũ khí
trong tay, một kỵ sĩ đã ngã ngựa.
Từ trên trời cao,
Thiếu tá Hai Còi nhìn chiếc dù của thằng em mình bay lửng lơ
trong gió mà ruột đứt ra từng khúc. Anh Hai Còi lăn lộn
trong phòng lái, nhào lên lộn xuống tìm cách làm câm họng
những họng súng quái ác đang bắn thằng em mình... Anh mở vô
tuyến liên lạc với các đơn vị bộ binh, với tất cả những ai
anh có thể liên lạc được để cứu thằng em.
Trời Pleiku
vốn đã lạnh lùng và cô quạnh, một cánh dù lẻ loi càng làm
cho người ta thấy cô quạnh hơn...
Vì nhảy dù ở cao độ
thấp nên chẳng bao lâu dù của Cơ rớt xuống đất. Cơ bung dù
chạy thật xa ra khỏi chỗ đáp và ngồi im trong một hố bom...
Chẳng bao lâu sau đó một hợp đoàn trực thăng trực thăng
Việt Nam dưới sự hướng dẫn của anh Hai Còi tiến vào vùng tìm
Cơ. Phòng không Việt cộng nổ tới tấp nhưng hợp đoàn trực
thăng vẫn lầm lì tiến vào tìm cơ...
Cơ ngồi dưới hố
bom, nghe tiếng trực thăng đến gần và chuẩn bị mở máy lên
thì ầm một tiếng, con chim sắt đầu đoàn trực thăng đã bị đạn
phòng không cày rách tung trên bầu trời. Chiếc trực thăng
bốc lửa và cắm đầu xuống đất đem theo mạng sống của toàn thể
anh em phi hành đoàn trực thăng...
Tất cả những sự hy
sinh đều đáng quý, nhưng quý giá nhất vẫn là xả thân mình để
cứu người. Xin dành một phút mặc niệm cho phi hành đoàn trực
thăng đã anh dũng hy sinh.
Những chiếc trực thăng còn
lại liền tản mác ra để khỏi bị đạn. Thế là cuộc tiếp cứu coi
như chấm dứt. Nằm dưới hố bom, Cơ biết rằng kể từ giờ trở
đi, nếu muốn trốn thoát, mình phải tự lo liệu lấy. Bạn bè đã
làm hết mình, Không Quân Việt Nam đã làm tất cả những gì có
thể làm được. Phần quân bạn dưới đất, họ đang bị vây hãm,
thân họ còn lo chưa xong, nói gì đến chuyện phái người ra đi
tiếp cứu mình.
Thấy cái máy RT–10 (máy vô tuyến dùng
để liên lạc với phi cơ khi bị lâm nạn) đang cầm trên tay
phát ra những tiếng píp píp to quá, Cơ tắt luôn máy. Thế là
sợi dây liên lạc duy nhất giữa Cơ và anh em liền bị cắt đứt.
Và Cơ bắt đầu đi. Đi về hướng Nam. Vừa đi vừa chạy, vừa
để ý quan sát để tránh né bọn Việt cộng đang cho người tới
tìm Cơ.
Kể từ khi cánh dù của Cơ chạm đất, chắc chắn
là con cháu bác Hồ phải cử một “phái đoàn” tiến về hướng dù
rơi để “đón tiếp” Cơ. Nhưng chúng chỉ nhìn thấy cánh dù. Và
chắc chắn tên chỉ huy phải... thất vọng lắm và phải thét lên
như thế này:
– “Mẹ bố tiên sư, thằng giặc nái
nguỵ trốn mất rồi, nhưng nó không chạy xa nổi đâu. Các đồng
chí phải khẩn trương truy kích nó, rán bắt nấy thằng giặc
nái ác ôn đem về đây. Chúng mình nột da đầu nó.”
Nhưng bản năng sinh tồn của con người mạnh vô song. Mặc
cho các chú bộ bội muốn kiếm thế nào thì kiếm, Cơ lần lần
thoát ra khỏi vùng dù rớt. Cơ đi rất khéo. Đi một lúc rồi
nằm im nghe ngóng. Đến khi nào chắc ăn rằng không có ai gần
đó nữa Cơ mới tiếp tục đứng dậy chạy đi...
Một lần, Cơ đang
ngồi nghỉ trong một bụi rậm thì một anh bộ bội bác Hồ nhìn
thấy Cơ. Nhưng có lẽ trời còn thương Cơ nên nó nghĩ Cơ là
một anh bộ đội khác. Nó hỏi gì đó, Cơ chưa kịp trả lời thì
nó đã bỏ đi...
Nếu ai bảo con người không có số mạng
thì phải nghe Cơ kể lại chuyện này.
Rồi Cơ lại đi
nữa. Đi xa khỏi khu vực nguy hiểm càng nhiều càng tốt. Bao
nhiêu sức lực dồn hết xuống đôi chân. Đi cho đến chiều, tới
một nơi thấy vắng tiếng súng, Cơ biết mình đến chỗ tạm gọi
là an toàn, mở RT–10 ra gọi cầu cứu...
Ở nhà, kể từ
khi mất liên lạc với Cơ, ai cũng tưởng Cơ đã bị Việt cộng
bắt hay bị giết. Bây giờ bỗng dưng nghe được tiếng gọi của
Cơ, ai nấy mừng húm. Thế là thông điệp “thằng Cơ còn sống”
được truyền đi khắp nơi. Các phi cơ trực thăng bay gần vùng
đó liền để ý tìm kiếm.
Một trực thăng lạc loài của
trùm CIA hồi đó, cựu Trung tá John Paul Vann bay gần đó nghe
được liền liên lạc với Cơ. Cơ cho biết vị trí và sau vài cú
lượn, con chim sắt của John Paul Vann sà xuống bốc Cơ lên
chở về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn.
Cơ vừa sống qua một ngày
dài nhất và nguy hiểm nhất trong đời mình. Một ngày có thể
thay đổi cả cuộc đời mình...
Thường thường, phi công
bị bắn rớt rồi leo lên tàu bay trở lại thì dễ bị một cái
bịnh gọi là bịnh “lạnh cẳng”. Cũng giống như một con chim bị
tên bắn hụt một lần hễ nhìn thấy cung thì sợ. Nhưng Cơ thì
không. Cơ nghỉ ngơi vài ngày, bắt cái phép về Sài Gòn vi vút
với đào rồi trở ra và bay bổng trở lại ngon lành như chẳng
có chuyện gì xảy ra. Gặp tăng Việt cộng Cơ cũng nhào xuống
thấp và trái bom nào chính xác trái đó. Và Cơ cũng không bao
giờ coi chuyện rớt tàu của mình là một thành tích để lên mặt
phách lối với ai. Cơ chỉ coi đó như là một tai nạn và mình
may mắn thoát qua được...
Tôi nhớ một lần đi biệt
phái Pleiku, Cơ có ghé qua Biệt Đội 114 ở dãy BOQ để thăm ai
đó trong Phi Đoàn tôi. Chúng tôi có dịp ngồi nói chuyện với
Cơ và hỏi Cơ về việc rớt tàu bay. Chúng tôi hỏi một phần vì
tò mò và một phần vì cũng muốn học chút kinh nghiệm của một
người đã bị bắn rớt và thoát được lưỡi hái tử thần để sau
này nếu có rớt, chúng tôi biết cách thoát. Hồi đó, ai cũng
sợ ngày mai có thể tới lượt mình. Chiến tranh mà. Cơ thành
thật kể lại những gì xảy ra một cách khiêm nhường từ tốn.
Dưới mắt chúng tôi hồi đó, (những phi công L–19) thì Cơ đã
là một anh hùng dù hồi đó Cơ mới mang lon trung uý. Nhưng Cơ
coi đó cũng là chuyện bình thường như chuyện ăn cơm. Vì
chuyện của Cơ đặc biệt nên tôi nhớ câu chuyện và nhớ luôn cả
người...
Rồi thời gian qua, rồi nước mất, rồi ngoảnh
mặt lại, những mái đầu xanh ngày đó giờ đã lấm tấm hoa
râm... 27 năm sau, tôi gặp lại Cơ. Cả hai chúng tôi không
nhớ nhau, chỉ bắt tay và trao đổi những câu hỏi xã giao.
Nhưng ngồi nói chuyện một lúc nghe anh Hai Còi kể chuyện Cơ
thì tôi nhớ ra Cơ ngay...
Tôi viết lại bài này, như
đã nói ở phần trước, không phải để tôn vinh Không Quân, cũng
không phải để thương tiếc dĩ vãng. Tôi chỉ muốn làm một việc
khiêm nhường là kể lại một chuyện thoát hiểm tài tình của
một phi công Việt Nam. Và sự chiến đấu dũng cảm của anh ta.
Một sự chiến đấu anh dũng mà ai cũng phải ghi nhận...
Nếu có loại phi công nào cô đơn nhất trên bầu trời thì
phải nói đó là phi công Khu Trục. Tất cả những thứ phi cơ
khác đều có ít nhất là hai người trong tàu bay ngoại trừ phi
công Khu Trục. Họ một mình một tàu và người bạn gần gũi nhất
là chiếc phi cơ đang bay ở bên cạnh mình. Càng cô đơn hơn
nữa khi cất cánh đi hai chiếc, trở về chỉ còn lẻ loi một
chiếc như Phi Tuần của Cơ ngày bị bắn rớt.
Tôi hy
vọng rằng con cháu Cơ sau này nếu đọc được tiếng Việt, các
cháu sẽ đọc và hãnh diện về bố mình, một phi công Khu Trục
của QLVNCH.
Đâu đó, văng vẳng trong tai tôi bài hát
oai hùng của cục Chính Huấn ngày nào:
“Ai
đã từng qua Dakto, Daksean, Benhet...
Ngã ba biên giới
vùng Tây Nguyên
thấy xác quân thù vùi chôn bao phen nơi
đây...
Chiến thắng Tam Biên oai hùng...
Anh hùng trấn
Tam Biên....
Anh hùng Trấn Tam Biên”.
Hai mươi bảy năm sau, ngồi giữa đám phi công khu trực đã
một thời “Tam Biên oai trấn,” nhìn những mái đầu bạc, những
nếp nhăn, tôi chợt nhớ lại một câu chuyện nhỏ. Một buổi
sáng, đang ngồi trong phi đạo chờ xe tới đón thì tôi nhìn
thấy hai ông “Thái Dương” (Danh hiệu truyền tin của Phi Đoàn
530 Khu Trục) mặc áo bay ra check tàu. Nhìn hai người phi
công làm những động tác check tàu, tôi có cảm tường như mình
đang nhìn hai kỵ sĩ lừng danh thời trung cổ chuẩn bị lên
đường dẹp giặc. Người họ toát ra một vẻ gì vừa anh hùng lại
vừa nghệ sĩ. Hai người phi công thư thả check tàu, leo lên
cánh kiểm soát xăng, ngồi xuống kiểm soát bom đạn. Nếu có
hình ảnh trên đời này mà người ta gọi là đẹp, thì đây là một
hình ảnh đẹp...
Và tôi chợt cảm thấy một niềm vui nhẹ
nhàng dâng lên trong người. Vui nhẹ nhàng vì dù lái một loại
tàu bay nhỏ hơn nhưng tôi cũng như họ, đã có một thời “Tam
Biên oai trấn.” Tuy không Tam Biên Oai Trấn mút chỉ thiên
thần kiểu thầy Võ Ý nhưng cũng Tam Biên Oai Trấn 2 tuần một
tháng. Một tháng có 4 tuần mà tôi lên Pleiku 2 tuần thì cũng
xứng đáng được gọi là Tam Biên oai trấn lắm rồi.
Hai mươi bảy năm...
Hai mươi bảy
năm, tôi học được một bài học. Đó là đừng hối tiếc những gì
đã mất, nhưng cũng không bao giờ được bỏ cuộc. Chúng ta đã
mất nước nhưng cuộc chiến chưa chấm dứt ở đây. Chúng ta cần
phải nuôi dưỡng mối thù. Muốn làm chuyện lớn mà không có hận
thù thì không làm được.
Tôi còn học được một điều nữa
là chúng ta phải luôn luôn thay đổi để sống phù hợp với
những thay đổi chung quanh mình, nhưng chúng ta cũng phải
làm thế nào để những chân lý căn bản của chúng ta đừng bao
giờ bị thay đổi. Chân lý đó là:
Cộng sản Việt Nam là kẻ thù
của dân tộc Việt Nam. Ngày nào còn Cộng sản thì đừng nói gì
đến chuyện tự do hay hạnh phúc hay hòa bình.
Hai mươi bảy năm... một bên là nước Việt Nam nghèo khổ
khốn nạn, một bên là nước Mỹ phú cường sung túc. Một bên là
những người Việt Nam lầm than khổn khổ, một bên là những
người Mỹ gốc Việt rượu thịt ê hề nhưng tâm hồn khô héo tàn
tạ...
Hai mươi bảy năm....
Viết xong tại San Jose ngày 27
tháng 9 năm 1999
Trường Sơn Lê Xuân Nhị



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by tqh chuyển
Đăng ngày
Chúa Nhật, October 19, 2025
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH