

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Truyện ngắn
Chủ đề:
đời lính trận
Tác giả:
Đỗ Văn Phúc

Bấm vào đây để in ra giấy (Print PDF)

1.
Căn cứ Kiến [1] nằm ngay trong lòng mật khu Tam Giác
Sắt, giữa ngã ba sông Thị Tính và sông Sài Gòn, chỉ cách
quận lỵ Bến Cát vài cây số đường chim bay. Những năm đầu
cuộc chiến, đây là căn cứ địa bí mật của cộng sản, là trục
giao thông của chúng từ các mật khu Long Nguyên, Hố Bò, Bời
Lời đổ về Bến Cát để tiếp nhận, di chuyển tiếp tế, và bổ
sung quân. Khoảng năm 1967, một trận long trời lở đất giữa
chính quy việt cộng và Sư Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ xảy ra nơi
đây. Tại một giao lộ của 5 con đường mòn mà chúng tôi đặt
hỗn danh là Ngã Năm Chuồng Chó, vẫn còn xác ba chiếc thiết
giáp vừa M–41 vừa M–113 bị cháy banh xích nằm ngổn ngang,
xung quanh còn vương vãi các mảnh quân trang, quân dụng, và
vỏ đạn các loại.
Cái rẻo đất cỏn con hình tam giác
này chỉ chừng vài cây số vuông. Nhưng mìn bẫy thì dày đặc,
hỗn loạn đến nỗi quân du kích việt cộng cũng thường vướng
phải. Sau hàng năm bỏ mặc cho chúng tung hoành, Sư Đoàn 5 Bộ
Binh quyết định phải bình định mật khu này vì sau thảm bại
Tết Mậu Thân của cộng quân, tình hình quân sự đã tạm lắng
dịu trên toàn Khu 32 Chiến Thuật.
Tháng 6 năm 1970,
Tiểu Đoàn 4/8 nhận lệnh hành quân tảo thanh và thiết lập một
căn cứ nhỏ để chế ngự con đường tiếp liệu của địch. Dù không
còn các đơn vị chủ lực lớn của địch, nhưng đám du kích lẻ tẻ
vẫn có khả năng quấy nhiễu như đặt mìn, bắn sẻ hay pháo kích
vào đội hình quân bạn. Từ địa điểm đổ quân trên con đường
đất đỏ từ chợ Bến Cát dẫn đến đồn điền cao su Michelin,
những người khinh binh đã đi theo chiếc xe ủi đất D–10 khổng
lồ của Tiểu Đoàn 5 Công Binh trên một khoảng đường chỉ dài
hơn cây số mà cũng mất hơn hai ngày trời mới đến được Ngã
Năm Chuồng Chó. Xe ủi đất cày sâu chừng hai tấc đủ để hủy
diệt các loại mìn chống người và chống chiến xa. Bộ binh thì
dò dẫm từng tấc đất để phá gỡ các loại mìn bẫy nội hoá.
Rừng Long Nguyên dày đặc, cây lớn thì cao ngút ngàn. Bên
dưới là cây chồi với dây rừng, gai nhọn đan chi chit. Người
đi sau phải đặt bàn chân đúng lên dấu giày người đi trước.
Thận trọng từng giây phút một. Mìn bẫy ở đây thì vô số. Cộng
quân gài mìn không theo quy cách lớp lang như quân ta. Vì
thế, sau một thời gian, trên những con đường mòn không ai
qua lại, cây cỏ mọc che kín, thì ngay chính họ cũng chẳng
biết đường né tránh.
Ngày hành quân đầu tiên không có
thiệt hại gì. Binh sĩ tháo gỡ hàng trăm mìn nội hoá mà du
kích việt cộng chế bằng cách trộn đinh, sỏi với chất nổ dẻo
rồi nhồi cứng vào những chiếc lon đủ cỡ. Tuy không có sức
công phá mạnh, nhưng loại mìn này cũng có khả năng sát
thương trong vòng 5 mét. Loại đáng sợ nhất là các trái đạn
pháo binh của chúng ta bị lép; việt cộng chế lại thành mìn
bẫy. Tiếng nổ của nó rất khủng khiếp. Người bị mìn khó còn
được chút da thịt nào lớn hơn bàn tay.
Đêm đến, bố
quân trên vòng đai do xe ủi tạo ra quanh ba chiếc thiết giáp
cháy, binh sĩ không đào công sự, mà chỉ nằm tựa các gốc cây
lớn để phòng thủ. Quân sĩ thức trắng một đêm canh chừng vì
không thể bung ra gài mìn giăng bẫy như thường lệ. Du kích
việt cộng thỉnh thoảng xuất hiện bắn quấy phá nhiều đợt. Hoả
châu từ căn cứ Lai Khê bắn yểm trợ suốt đêm. Cả một vùng
sáng như ban ngày. Trung uý Nguyễn Hữu Đát, Đại đội trưởng
15, trong lúc di chuyển điều quân, đã bị đạn AK bắn sẻ xuyên
qua lớp nón sắt gây thương tích ở đầu phải tải thương ngay.
Đại đội phó là Thiếu uý Phương lên thay thế.
Phương
là một trong bốn sĩ quan tốt nghiệp Khoá 1 trường Đại Học
Chiến Tranh Chính Trị cùng ở trong một Tiểu Đoàn. Dương
Quang Bồi thì đã nắm Đại Đội từ đầu năm 1970, Mai Thanh Tòng
làm đúng chức năng của mình là Trưởng Ban 5 Tiểu Đoàn, chỉ
còn Quách Kế Nhơn và Phương vẫn học nghề đánh đấm ở các Đại
Đội. Nhờ những công trận xuất sắc ở Bù Na, Đồng Xoài, Phương
đã được Đại uý Vũ Huy Thiều (Khoá 19 Võ Bị, người hùng trận
Phước Quả) ngắm nghé cho nắm Đại Đội từ những ngày cuối năm
1969. Hai tuần trước Tết Canh Tuất 1970, trong một trận phản
phục kích ở ngã ba Bù Noi, Phước Long, Phương bị thương nặng
phải chuyển về Bệnh Viện 3 Dã Chiến. Khi trở về đơn vị thì
các cấp chỉ huy đã thay đổi. Tiểu Đoàn nay dưới quyền Đại uý
Nguyễn Chí Hiền, người hùng một thời của Đại Đội Trinh Sát
5.
Tiểu Đoàn bung hai Đại Đội hành quân xa về hướng
Tây–Bắc, chỉ để lại Đại Đội 15 bảo vệ an ninh cho Đại Đội
Chỉ Huy và Công Binh lập căn cứ. Công Binh Hoa Kỳ tăng cường
thêm mấy chiếc xe ủi đất hạng nặng để phá rừng, cày thành
một khoảnh đất có đường kính khoảng 100 mét. Ở trung tâm, họ
xây ba hầm kiên cố sâu dưới lòng đất, chống đỡ bằng những
khúc gỗ lớn. Nắp hầm là một lớp PSP bên trên có 5 lớp bao
cát đủ để chịu đựng sức công phá của bích kích pháo 82ly. Ba
hầm này dùng làm hầm Chỉ Huy, Truyền Tin, và Tiếp Liệu. Một
vòng đai bên ngoài có tám hầm nhỏ hơn dùng cho binh sĩ trú
phòng. Các hầm được cách ly bằng các lớp hàng rào concertina
để chống đặc công. Từ chu vi hầm ra đến bìa rừng là khoảng
trống có các lớp hàng rào gài mìn bẫy và trái sáng dày đặc.
Đại Đội 15, trong khi hành quân lục soát dọc bờ sông Thị
Tính, đã phát hiện nhiều khu hầm kiên cố nhưng để trống.
Binh sĩ tìm thấy thực phẩm, áo quần cả đàn ông lẫn đồ lót
phụ nữ cho thấy nhiều dấu hiệu hầm đang được sử dụng bởi các
toán du kích. Thường họ sinh hoạt và di chuyển theo tổ tam
tam chế, hai nam một nữ. Các hầm này được xem như các nơi
tạm trú cho du kích hoặc cán bộ về hoạt động lén lút ngoài
quận lỵ và các xã chung quanh. Cách thiết lập hầm ngầm rất
khó phát hiện. Hầm đào sâu dưới đất, nắp hầm ngang bằng mặt
đất. Có 4 lỗ châu mai ở bốn phía được các bụi cây bên ngoài
che khuất. Trong nhìn thấy ngoài rất rõ, nhưng ngoài thì
không thể nào thấy dấu hiệu gì. Nếu phỏng đoán được sự hiện
diện của hầm, thì cũng khó xác định chính xác vị trí. Đạn
bắn thẳng không có xác suất cao trúng vào lỗ châu mai. Trong
hầm chỉ cần một hay hai tay súng cũng đủ cầm chân cả Trung
Đội quân ta. Dĩ nhiên không phải không thể diệt được hầm.
Nhưng cái giá phải trả cũng có thể rất cao.
Các chiến
sĩ Trung Đoàn 8 Bộ Binh trong những năm này đã tìm ra biện
pháp diệt chốt bằng các tổ hai, ba binh sĩ với sự yểm trợ
hoả lực cộng đồng. Tuy chậm, nhưng biện pháp này rất hiệu
quả mà ít hao sinh mạng.
Lúc xế chiều, khi Đại Đội
thu quân về, Trung Đội 3 của Thiếu uý Nguyễn Trọng Thủy [2]
báo cáo thiếu một binh sĩ. Vì không có chạm súng trong ngày,
cũng không nghe tiếng nổ của mìn bẫy; nên Phương ước đoán Hạ
sĩ Nghĩa chỉ đi lạc đâu đây thôi. Quả thế, chỉ chừng mười
phút sau, từ bìa rừng anh lính nhà bếp trẻ này hớt hải chạy
ra, mặt xanh như tàu lá. Cái soong và cái xẻng sau lưng va
chạm nhau kêu lách cách. Anh vừa thở vừa lắp bắp:
–
Em thấy hai đứa nó chơi nhau, Thiếu uý ơi!
Phương nạt
đùa:
– Mày sợ quá, thần hồn nát thần tính mà nói bậy.
Chứ ai mà chơi nhau trong này?
Nghĩa nhất quyết:
– Thiệt mà, Thẩm quyền [3], em thấy rõ ràng, hai đứa
chơi nhau trong kia.
– Sao mày không bắn chết chúng
nó?
– Chời ơi! em vừa kéo cây súng thì nó nghe động,
nó kéo quần lên và lủi mất tiêu, ông thầy ơi. Mà em cũng sợ
quá chừng.
Phương báo chuyện này cho Tiểu đoàn trưởng
biết. Đại uý Hiền cười xác nhận:
– Nó không nói láo
đâu. Tụi du kích nó đi ba đứa, hai trai một gái. Lúc nào
hứng tình thì đè ra chơi. Có gì lạ đâu chú mày.
Việc
xây căn cứ cũng nhanh. Xe công binh đã được trả về cho Sư
Đoàn. Tiểu Đoàn cũng chuẩn bị rút về Lai Khê, để lại Đại Đội
của Phương trấn ngự căn cứ. Nhiệm vụ rất đơn giản. Ngoài một
Trung Đội nằm tiền đồn chỗ ngã ba đường từ Bến Cát đi đồn
điền Michelin và con đường mới mở dẫn vào căn cứ; hai Trung
Đội khác phải bung ra hành quân trong ngày để lục soát và an
ninh xa. Chỉ còn Trung Đội vũ khí nặng và Ban Chỉ Huy nằm
lại trong căn cứ.
Ngày ở đây rất dài. Binh sĩ chẳng
biết làm gì trong phạm vi chưa tới trăm mét vuông. Chui vào
hầm, chui ra, lên mặt đất ngó trời ngó mây một đỗi rồi lại
chui xuống. Chiều chiều có vẻ rộn lên đôi chút nếu mấy đứa
du kích liều lĩnh mò về bên ngoài hàng rào, chĩa loa vào
tuyên truyền, kêu gọi đầu hàng:
– Nghe đây, nghe đây,
quân giải phóng đã bao vây đồn sẽ tiêu diệt đồn nay mai. Hãy
buông súng đầu hàng sẽ được khoan hồng tha mạng sống...
Thỉnh thoảng, chúng cũng bắn súng cối vào căn cứ. Mỗi
lần chừng chục trái. Với hầm kiên cố, thì đạn cối chẳng làm
suy suyển gì. Nhưng cũng có lúc nó pháo vào thời điểm bất
ngờ, anh em binh sĩ đang nấu ăn, tắm giặt bên giếng. Vì các
hàng rào concertina bao kín các hầm, thế nào cũng có vài chú
lính nhảy xuống giếng né đạn.
Thời này súng đạn dồi
dào. Phương cho bố trí ba cây đại liên M60 tại ba điểm quanh
đồn. Anh tập cho binh sĩ bắn đại liên từng phát một; và cứ
thế rải đạn vào bìa rừng hay nhắm vào các ngọn cây quanh đồn
để ngăn ngừa bọn tiền sát viên. Anh cũng cắt cử các toán nhỏ
phục kích cách đồn chừng vài trăm mét. Có lần đã bắn hụt hai
tên du kích. Từ đó, không nghe tiếng loa gọi hàng nữa. Nhưng
cối 61 và 82ly thì cũng cứ lai rai rót vào; nhất là những
lúc có trực thăng tiếp tế.
Đại Đội đã đóng tại căn cứ
này hơn tháng nay. Lính tác chiến mà nằm đồn thì thật tệ
hại. Cái chán nản và bực bội kéo về mỗi ngày cứ nhìn ra
khoảnh rừng xanh tù túng. Phương đã ngấu nghiến hết mấy bộ
truyện chưởng Kim Dung; đã nghe đến thuộc lòng mấy trăm bản
nhạc của bất cứ chương trình nào trên đài Sài Gòn và đài
Quân Đội. Đủ thứ, đủ loại, từ nhạc thính phòng cho đến nhạc
bình dân; từ ca sĩ lừng danh cho đến ca sĩ nửa mùa.
Mỗi ngày một chầu cà phê sáng và hai lần cơm nóng có canh
chua lá dang nấu khô sặc hay khô sặc chiên, nướng. Đang là
thời điểm các đơn vị hành quân xây dựng nông thôn. Vì thế,
thực phẩm đóng hộp của Mỹ được cấp phát rộng rãi. Đó là một
ngày hai bữa, mỗi bữa một túi cơm sấy hơn 500 gram, một hộp
thịt bò ba lát, và một hộp trái cây. Bếp Đại Đội là Hạ sĩ
Nhàn, năm nay đã hơn 60 tuổi. Chẳng rõ khai sanh lộn xộn sao
đó, mà ông bị bắt đi quân dịch. Trung uý Đát thương tình cho
ông làm bếp của Ban Chỉ Huy. Bảy ngày một lần có trực thăng
tiếp tế; là có một thùng riêng cho Phương. Có đủ báo, truyện
mướn ngoài Bến Cát. Có một chai đế Bà Quẹo thật nồng; có một
lon gô thức ăn mặn. Đặc biệt mong đợi là những lá thư từ gia
đình gửi đến gói ghém bao nhiêu tình cảm, nhớ nhung.
Những đêm trước ngày tiếp tế, Phương túc trực sẵn bên máy
C–25 chờ nghe lệnh từ Tiểu Đoàn cho rút quân. Nhưng lần lửa,
chỉ thấy tái tiếp tế. Đám lính tiền đồn chừng cũng đâm liều.
Họ lén mò ra Bến Cát chơi từ sáng sớm, đến chiều mới lội về.
Có tên buồn chán, giải trí bằng cách bắn phóng lựu vào bìa
rừng khơi khơi.
Đến lần tái tiếp tế thứ năm, thì
Phương nổi cơn điên thật sự. Trong lúc Trưởng Ban 3, Trung
uý Nguyễn Văn Quốc [4], đang gọi ban lệnh, Phương đã cùng
đám lính Ban Chỉ Huy bắt đầu chương trình phát thanh đặc
biệt:
“Đây là tiếng nói Đại Đội 15, Tiểu Đoàn 4/8. Mở
đầu là bài hát Đường Trường Xa để kính tặng Tiểu Đoàn. Hai,
ba, Đường trường xa, Đại uý hổng cho tui dề...”
Nửa
đêm, Phương bị giật dậy để nghe tiếng Quốc chuyển lệnh của
Đại Bàng:
– Tụi mày chớ có làm loạn. Anh Tư kêu về
cho 30 củ rồi tống đi Phước Long. Biết chưa? Sáng ngày mai
lo an ninh bãi đáp thật cẩn thận, có quà đặc biệt cho mày.
Thật đặc biệt.
Quốc cúp máy, không cho Phương kịp hỏi
thêm điều gì.
Thế là suốt đêm, Phương không tài nào
chợp mắt. Quà gì mà đặc biệt. Có phải Tiểu Đoàn sẽ cho cái
ống kính hồng ngoại tuyến mà nghe đâu Sư Đoàn vừa được cấp
phát để trang bị cho các pháo đài vòng đai căn cứ Lai Khê?
Hay là cái lệnh đóng đồn vĩnh viễn thì bỏ bu. Lúc này mà
được đi hành quân trong rừng thì thật thú vị. Mỗi lần hành
quân thường kéo dài cả tuần lễ hay nửa tháng trong một khu
vực trách nhiệm cả gần trăm cây số vuông. Các mục tiêu hoặc
được chỉ định, hoặc do Đại đội trưởng chọn với sự chấp thuận
của Tiểu Đoàn. Ngày đi lùng sục, đêm đóng quân phục kích.
Coi như những chuyến picnic dài ngày. Có chạm súng thì cũng
chỉ mấy tên địa phương, du kích lẻ tẻ.
Phương thích
những chiều dừng quân trong những khu rừng thưa. Nằm đu đưa
trên chiếc võng mắc dưới tàn cây cao. Nhấp ngụm cà phê nóng
và thưởng thức âm nhạc từ chiếc radio bỏ túi. Tối, giăng mìn
bẫy các điểm nghi ngờ địch di chuyển. Có lúc kiếm được con
mễn, con kỳ đà là thầy trò bày bàn chén chú chén anh rất tâm
đắc. Người sành ăn bảo rằng thịt kỳ đà là ngon nhất. Nó lại
là thứ động vật rất dễ bắt. Thông thường kỳ đà nằm đeo trên
cành cây, thấy người chúng không hể bỏ chạy trốn. Vì thế,
chỉ cần đủ mạnh để nắm đuôi nó kéo xuống. Con trúc cũng thế.
Đụng vào nó, nó cuốn tròn người lại như trái banh. Thầy
thuốc bắc nói vảy trúc nướng cháy, tán thành bột cho các sản
phụ uống sẽ tăng nguồn sữa. Thịt rừng thì chỉ có cách nướng
trên lửa là ngon tuyệt. Mà giữa hành quân thì cũng chẳng còn
cách chế biến nào khác.
2.
Đêm xuống đã lâu. Rừng im lắng, không một tiếng động nhỏ
của thú rừng hay lá cây xào xạc. Bom đạn chiến tranh hơn
chục năm đã xua đuổi hầu hết các loại thú chạy vào rừng sâu
bên kia biên giới Việt–Miên. Chim rừng cũng vắng. Cái im
lắng của rừng sao mang đầy vẻ ghê rợn đe doạ của chết chóc
hơn là sự thanh vắng đêm hè.
Phương không ngủ nhiều.
Thỉnh thoảng, anh trỗi dậy gọi các tiền đồn để theo dõi động
tĩnh. Tội nghiệp những người khinh binh. Ngày hành quân, đêm
phải thay nhau chong mắt ra canh gác ít lắm ba tiếng đồng
hồ. Người chỉ huy tuy không canh gác, nhưng cũng khó có được
giấc ngủ ngon lành, thẳng giấc. Đóng tiền đồn, được ngủ
trong hầm thế này là hạnh phúc gấp mấy lần ngủ trên võng đu
đưa giữa rừng, dưới tấm lều bằng áo đi mưa. Ngay từ ngày đầu
vào lính, mỗi quân nhân được cấp một tấm poncho bằng nhựa
dày, khá nặng. Đó là vật thiết thân gắn bó với suốt cuộc đời
của lính. Poncho khi có mưa thì dùng làm áo mưa. Khi đóng
quân thì căng ra giữa hai thân cây để làm lều. Khi vượt sông
thì gói hết vũ khí, quân trang, túm hai đầu để làm phao.
Cuối cùng, khi tử trận thì thân xác tử sĩ được bó trong
poncho như bó chả để chờ chuyển về hậu phương.
Vì nó
khá nặng, nên dù lính, dù quan, mỗi người cũng chỉ có thể
mang theo một poncho ngoài hàng chục ký quân dụng, vũ khí
đạn dược, và lương thực. Lưng người lính bộ binh lúc nào
cũng oằn xuống vì gánh nặng này. Dĩ nhiên, nó cũng ảnh hưởng
nhiều đến khả năng di động của anh em binh sĩ so với bọn
lính việt cộng. Người lính đối phương khi hành quân, đã biết
rõ mục tiêu; họ chỉ cần bôn tập nhanh đến mục tiêu, đánh thí
mạng qua đêm rồi tờ mờ sáng hôm sau là rút. Vì thế, trong
tay họ chỉ một cây súng; quanh lưng vài băng đạn, lựu đạn.
Có thêm chăng nữa là một bọc cơm vắt điểm vài hột muối.
Trong khi người lính miền Nam thường hành quân dài ngày
trong một khu vực rộng lớn để tìm địch. Nếu có điều kiện
tiếp tế, thì chí ít cũng mang theo hai cấp số đạn, bốn ngày
lương khô, vài bi đông nước, xẻng, mìn claymore; có khi còn
mang theo ống phóng M–72 để phá hầm. Áo quần, giày vớ luôn
dính trên người cho dù mưa, dù nắng, dù lội sình, băng suối.
Các sĩ quan cỡ Trung đội trưởng cũng mang nặng không thua gì
các anh em binh sĩ. Từ Đại đội trưởng trở lên thì mới có một
hai anh binh sĩ phụ mang giùm bớt đồ để ông ta còn rảnh tay
mà điều động.
Phương trở người trên chiếc võng nylon.
Đất ẩm hai bên vách hầm rơi lộp bộp. Trong căn hầm chỉ có
Phương và người lính truyền tin. Chiếc máy C–25 ở góc hầm
lâu lâu phát ra các tín hiệu báo cáo từ các vọng gác tiền
tiêu. Những giờ phút thế này giúp cho người lính có dịp nghĩ
về gia đình. Phương lấy vợ vừa hơn một năm rưỡi; đã có một
cháu trai đầu lòng. Lộc sẽ đầy năm vào tháng 9 năm nay, tức
là chỉ còn một vài tháng nữa thôi. Đã hơn một năm kể từ ngày
ra đơn vị. Cuối năm ngoái, Phương rủi ro bị thương nặng ở
Bu–Nard; nhưng đó lại là cái may mắn được về với gia đình
sau khi mổ vết thương chờ tái khám đến 3 lần. Chàng đã tận
hưởng hơn ba tháng bên vợ con và mẹ già. Mỗi ngày săn sóc
con, thay tã cho con, nhìn con một lớn lên. Cái hạnh phúc
hiếm hoi chỉ chấm dứt khi Phương được xếp loại 1 do vết
thương bụng đã lành hẳn, và không ảnh hưởng gì đến khả năng
chiến đấu. Phương được trả về đơn vị cũ tiếp tục hành quân.
Tuy thế, nhờ địa bàn hành quân của đơn vị tương đối gần
Sài Gòn, thỉnh thoảng, Trung uý Đát làm ngơ cho Phương dọt
về Vũng Tàu một hai hôm thăm nhà. Ở đơn vị chiến đấu, chỉ có
cấp trưởng là kẹt khó thể rời đơn vị. Và bây giờ thì Phương
đang ở trong tình thế đó. Do đó, chẳng biết lúc nào mới có
hy vọng gặp lại vợ con.
Lại một đêm vô sự dù rằng ở
đâu đó xa xa, tiếng đại bác thỉnh thoảng vọng về. Bên kia
sông Thị Tính, giờ này chắc dân chúng đang lũ lượt kéo nhau
ra chuẩn bị một ngày chợ mới. Cô A Múi chắc đang dọn các
khúc vải ra sạp; cô Út Trơn chắc cũng đang đẩy những chiếc
máy may Sinco vào vị trí thường lệ. Chao ôi, Phương tưởng
như ngửi được hương vị tô phở béo ngậy ở quán phở cuối thị
xã Bến Cát, trên đường dẫn vào căn cứ Lai Khê.
Những
tia nắng đầu tiên đã xuyên qua lớp bao cát mỏng che lỗ châu
mai để rọi vào những sợi vàng mong manh. Đệ, người lính
truyền tin mở to volume để báo cáo tình hình về Tiểu Đoàn và
nhận lệnh mới.
– Thẩm quyền, Bác Ba (sĩ quan Trưởng
Ban 3) nói an ninh bãi đáp thật kỹ. Hôm nay tiếp tế đặc
biệt.
– Thì cũng thêm 7 ngày lương khô chứ có quái gì
mà đặc biệt.
– Bác Ba dặn kỹ lắm. Hay là Thẩm quyền
nói chuyện với Bác Ba đi.
– 33 đây 51, nghe rõ?
– 33 đây. Có Bắc Bình Xung Phong [5] mày lên hôm qua.
Năn nỉ mãi, Đại Bàng cho theo chuyến Tư Tưởng [6] vào thăm
mày đó. Liệu mà bung con cái ra xa cho kỹ kẻo nó pháo.
Thật bất ngờ. Nhưng không làm Phương quá ngạc nhiên. Vì
Tiểu Đoàn cũng thường dễ dãi với gia đình binh sĩ mỗi khi
đóng đồn. Ngày mới về đơn vị ở Chánh Lưu, Phương đã ngạc
nhiên thấy sự hiện diện của các chị, các cháu trong căn cứ.
Sau này mới được giải thích rằng đa số vợ con binh sĩ nhà
cửa ở miền quê xa, hoặc đã bị tiêu hủy vì chiến cuộc. Họ cư
trú ngay trong hậu cứ đơn vị ở Lai Khê. Mỗi khi đơn vị về
dưỡng quân là họ kéo đến. Ngay cả khi đóng các căn cứ mà có
đường bộ đi được, các chị cũng liều lĩnh mò vào. Cũng may là
chưa bao giờ các căn cứ này bị địch tấn công, nên chưa thấy
gì trở ngại và tổn thất về phía các chị. Tại các đơn vị Địa
Phương Quân, thì các chị các cháu “thường trú” luôn, và đã
trở thành các tay trợ thủ đắc lực khi có chạm địch.
Phương gọi ngay Thiếu uý Thủy, lệnh tung các Trung Đội ra xa
quanh căn cứ để an toàn bãi đáp. Du kích vùng này chỉ có các
loại súng cối 61ly mà tầm hiệu quả xa nhất là một ngàn sáu
trăm mét (trên lý thuyết là 1800 mét). Tiểu Đoàn Phú Lợi của
việt cộng có cối 82ly, nhưng đơn vị này đã tan hàng từ lâu,
chỉ còn lẻ tẻ dăm bảy tên trở thành du kích địa phương.
Những cây cối này chúng chôn ngập dưới đất, chỉ chừa cái
nòng ló ra để lâu lâu một tên du kích nào đó đi qua, thụt
vài quả vào chợ Bến Cát quấy phá.
Đến hơn 7:00g,
Phương cho lính Trung Đội Vũ Khí Nặng ra tuyến ứng chiến và
bảo Hạ sĩ Quý lấy hai cái áo giáp và nón sắt mang chờ sẵn ở
bài đáp trực thăng. Các máy truyền tin làm việc dồn dập giữa
Ban 3 và Đại Đội. Trung sĩ Nhứt Hùng, Thường vụ Đại Đội tung
trái khói màu ra để phi công canh hướng gió và xác định bãi
đáp. Tiếng phành phạch từ hướng Bắc vọng đến chừng vài giây
sau là đã thấy hình dáng chiếc trực thăng UH–1B Huey. Chiếc
trực thăng của Sư Đoàn 1 Bộ Binh Mỹ chuyển hướng và hạ dần
cao độ để đáp. Phương là người đầu tiên chạy đến cửa hông
phi cơ. Nơi đây, Hoa đã dợm đứng dậy để nhảy xuống. Phương
khoác chiếc áo giáp và đội nón sắt cho vợ. Không kịp nói với
vợ một câu, Phương thúc Hạ sĩ Quý bọc bé Lộc vào chiếc áo
giáp kia rồi bế cháu và dẫn Hoa chạy nhanh vào trong hầm.
Trung sĩ Thành, Tiếp Liệu, đi theo chuyến bay điều động các
binh sĩ xuống hàng tiếp tế xong, trao cho Phương ít văn thư
quan trọng để xin chữ ký. Mọi việc xảy ra nhanh như chớp,
chỉ trong vòng khoảng 3 phút là xong. Khi phi cơ vừa bay lên
thì có mấy tiếng đề–pa từ hướng Tây vọng sang. Phương và đám
linh chạy thật nhanh vào căn hầm gần nhất bên trong.
– Yên tâm, không sao đâu. Em đi làm chi mà liều lĩnh thế
này?
– Thì nghe anh đóng đồn lâu, nên đem con lên
thăm.
– Thôi, nép vào góc hầm. Nghe đạn nổ cho quen.
– Ầm! Ầm! Ầm!
Một loạt tiếng nổ cắt ngang lời
Phương. Phương nhìn ra thấy những chùm khói và đất tung toé
bên ngay sát hàng rào. Không có trái nào lọt vào vòng trong.
– Ê! Thoại, kêu thằng 2 lục soát nhanh ở hướng 10:00g
của nó. Bung rộng ra tìm cho được cây cối.
– Có gọi
con cái khác về không? Thẩm quyền?
– Thôi chiều rồi
cho rút. Cứ bảo các Trung Đội “Lam Sơn” [7] thật kỹ, may ra
tóm được vài thằng du kích.
Bây giờ, Phương mới có
thì giờ cho vợ con. Nhìn Hoa gọn gàng trong bộ quân phục, áo
giáp nón sắt vẫn còn mang. Chẳng gì nàng cũng từng là nữ
quân nhân kia mà. Chàng quay qua ôm Lộc vào lòng hỏi nựng:
– Lên Lai Khê hồi nào? Chà! Thằng Cu. Ngon hé. Dám ra
hành quân chớ thua ai đâu! Sợ không con?
– Em lên đến
trưa hôm qua. Tính về lại nhà, nhưng Đại uý Hiền nói có trực
thăng sẽ cho vào thăm. Ông ấy gửi biếu anh chai Hennessy
trong thùng tiếp tế. Má thì gửi cho anh hộp thịt gà kho sả
ớt dành ăn dần.
– Ăn dần cái gì. Ở đây anh em ăn
chung, một bữa hôm nay cho gọn. Ngày mai lại tiếp tục cá
khô.
Thằng cu Lộc cứ ngây người ra nhìn ba nó, hai
bàn tay bé nhỏ sờ vào mặt ba, miệng bập bẹ mấy tiếng. Hôn
con lần nữa, Phương để con lên chiếc ghế bố rồi kêu Trung sĩ
Hùng vào:
– Coi tiếp tế chia cho các Trung Đội. Đạn
dược, lương thực theo nhu cầu. Bữa nay, ngoài đó gửi vào thứ
gì?
– Trình Thẩm quyền, có thêm đạn cối, đạn đại liên
như mình xin. Lương khô thì có cơm sấy thịt hộp ba khoanh.
Riêng Thẩm quyền có thùng báo và ít hộp trái cây.
–
Hôm nay bảo ông Nhàn nấu luôn cho Ban Chỉ Huy. Mình ăn
chung. Chiều kêu mấy ông thiếu uý về nhậu chơi.
Gần
trưa, Thủy cùng Chuẩn uý Nhơn dẫn Trung Đội 2 kéo về. Chỉ
còn Trung sĩ Nhứt Tiết và Trung Đội 1 được lệnh ở lại tiếp
tục hành quân và sẽ phục kích đêm bên ngoài căn cứ. Trung
Đội 3 thì vẫn nằm tiền đồn trên giao lộ đất đỏ đi Bến Cát.
Thiếu uý Nguyễn Trọng Thủy tốt nghiệp Khoá 27 Trường Bộ Binh
Thủ Đức. Thấp, đậm người, da ngăm đen. Anh là một trong
những sĩ quan giỏi của Tiểu Đoàn; do đó, Phương đề nghị lên
làm Đại đội phó. Trần Nhơn [8] thì từ hạ sĩ quan được gửi ra
học trường Thủ Đức đâu mới mấy tháng nay. Nhơn coi Trung Đội
2 tạm vững. Còn hai Trung Đội 1 và 3 thì do hai Trung sĩ
Nhứt Tiết và Trí coi.
Hầu như các đơn vị bộ binh đều
ở trong tình trạng thiếu hụt sĩ quan; và ngay quân số cũng
ít khi đạt đến mức 80% đầy đủ theo cấp số. Lúc cao nhất cũng
chỉ lên đến khoảng trên dưới 120 người; nhưng khả dụng hành
quân thì chỉ khoảng 100. Lý do chính là một số bất khiển
dụng do thương tích, nhưng lại không được phân loại 2 hay 3
để chuyển về các đơn vị văn phòng hay cho giải ngũ. Đơn vị
phải gánh lấy con số người này và thu xếp cho họ làm ở hậu
cứ, hậu trạm. Ngoài ra, có một tỷ lệ nhỏ quân số đi phép
hoặc vắng mặt bất hợp pháp. Tỷ lệ quân nhân đào ngũ ở Sư
Đoàn 5 rất cao, do đa số lính tuyển mộ từ Sài Gòn mà đơn vị
thì ở quá gần thủ đô. Chỉ cần lọt ra khỏi cổng, leo lên xe
lam ba bánh là mất dạng.
Tiểu Đoàn 4/8 từ khi giao
cho Đại uý Hiền có khá hơn nhiều. Ông chủ trương giữ người ở
lại chứ không giữ người đi. Vì thế, ông cho phép quân nhân
được đi phép thường niên dễ dàng mỗi khi có gia đình lên
lãnh về. Ông nghiêm ngặt với các Đại đội trưởng về các vấn
đề quyền lợi binh sĩ, tiếp liệu, lương bổng, và quân tiếp
vụ. Điều đáng nói là binh sĩ rất phấn chấn khi nghe tiếng
tăm của Đại uý Hiền từ khi ông làm Đại đội trưởng Trinh Sát
Sư Đoàn. Vào thời điểm này, Trung Đoàn vừa tổn thất một sĩ
quan xuất sắc. Đó là Thiếu tá Châu Minh Kiến, Tiểu đoàn
trưởng 1/8. Ông ra trường Khoá 19 Võ Bị Đà Lạt và có nhiều
triển vọng lên Trung Đoàn Phó vào cuối năm nay. Nhưng không
may, trong một trận tương đối nhỏ ở Ấp Nhà Việt, ông quá
hăng, kéo cả Ban Chỉ Huy chạy lên tuyến đầu và bị lọt ổ phục
kích của địch. Tiểu đoàn trưởng tử trận, ông phó Đại uý Trần
Kiến Tường, bị thương nặng.
Trưởng Ban 3 Tiều Đoàn
1/8 là Đại uý Trung. Ông Trung như có một giác quan thứ sáu
rất linh nghiệm. Có lần, một binh sĩ về ghé qua Bộ Chỉ Huy
Trung Đoàn lãnh lương, gặp Đại uý Trung, chào hỏi trò
chuyện. Trung buột miệng:
– Mày vào lãnh thêm một
tháng lương nữa nhé!
Chỉ trong vòng một tháng sau,
người binh sĩ này tử trận, gia đình lãnh thêm tháng lương
thứ 13 của anh ta. Trường hợp Thiếu tá Kiến như cũng được
Trung dự báo. Trong một bữa cơm chiều ở Ban Chỉ Huy Tiểu
Đoàn 1/8, Trung bỗng nói:
– Nè, kiến mà bò trên
tường; có ngày tường sập đè kiến chết.
Thiếu tá Kiến
phì cười:
– Đ.M. tao còn sống dai lắm để lên làm
Trung đoàn trưởng nay mai nghe mày!
Không ngờ chỉ một
tuần sau, ông Kiến tử trận, ông Tường bị thương. Quả thật
linh nghiệm. Từ đó, mọi người như né, không mấy ai dám gặp
trò chuyện cùng Trung, sợ phải nghe điều bất tường.
Xế chiều, Phương cho gọi các Trung đội trưởng về căn cứ. Hạ
sĩ Nhàn đã dọn bàn ăn ở căn lều nhà bếp. Gọi là bếp cho oai,
nhưng thực ra chỉ có một ông Táo đơn sơ bên cái giếng cạn
gần sát bờ rào căn cứ. Bàn ăn thì kê mấy thùng gỗ đựng lựu
đạn; và ghế thì đương nhiên “à la terre”. Cũng hay, nếu đang
ăn cơm mà bị pháo thì chỉ cần nhảy một phát là xuống giếng.
Do việc sử dụng các vòng rào concertina để cô lập các hầm
bên trong, chỉ chừa một lối ra vào nhỏ; nên việc di chuyển
không dễ dàng. Việc này có lợi là nếu bị đặc công xâm nhập
trong đêm, thì chúng khó xoay sở trong căn cứ. Quân ta chỉ
có việc cố thủ dưới hầm và bắn ngang mặt đất để tiêu diệt
chúng.
Phương nhớ lại hồi mới ra đời, làm Thông Dịch
Viên cho Cơ Quan Đại Diện Mỹ [9] ở Quảng Trị. Một đêm, đặc
công việt cộng xâm nhập đánh phá Trung Tâm Huấn Luyện Biệt
Chính ở cuối thị xã, trên đường về Chợ Sãi. Mờ sáng, khi
Phương tháp tùng Đại tá Nguyễn Ấm, Tiểu khu trưởng Tiểu khu
Quảng Trị và Cố vấn Mỹ Kenwood Foster [10] đến Trung Tâm thì
chỉ thấy những hoang tàn và cảnh thương tâm. Tất cả các lô
cốt bằng bê tông cốt sắt xây từ thời Pháp mà vách và trần
dày đến ba tấc đều bị chất nổ đánh sập. Hàng chục học viên
chết thê thảm, banh xác trong những căn hầm mà thời điểm đó
(1965) tưởng là rất kiên cố. Có những anh chỉ còn những đống
thịt vụn, nửa tái nửa chín. Có anh bị nắp hầm đè hết một nửa
thân người từ thắt lưng trở xuống. Khi chúng tôi đến, anh
giương đôi mắt hấp hối mà thều thào những gì không nghe
được. Nhưng không có phương tiện gì để nâng nắp hầm lôi anh
ra. Vả lại có làm được thì cũng khó cứu mạng sống. Sức công
phá của chất plastic C–4 thật vô cùng khủng khiếp. Chỉ cần
một khối nhỏ bằng bao thuốc lá cũng đủ đánh sập cả căn hầm
bê tông. Hình như đó là lần đầu tiên mà việt cộng sử dụng
chất nổ dẻo để đánh đặc công. Vì thế, đã tạo ra sự bất ngờ
cho quân ta và gây tổn thất quá nặng nề.
Bữa cơm
chiều được coi là sang ở giữa chiến trường. Có rượu, có thịt
so với những ngày dài cơm sấy, cá khô. Chai rượu vừa đủ cho
mỗi người một ly xây chừng nhỏ. Nhưng giữa hành quân thì
uống vậy là đủ vì còn nhiệm vụ canh thức tối nay nữa.
– Tối nay, Thiếu uý Thủy dọn qua hầm truyền tin. Quý
căng giùm anh thêm cái võng nhé.
– Em tưởng anh chị
ngủ một võng cho vui chứ? Quý hóm hỉnh.
– Thì đương
nhiên rồi. Mà phải ngược đầu ngược đuôi đó nghe Thẩm Quyền!
– Mày con nít mới lớn biết gì mà xía vô!
– Nó xếp
sòng khu chợ Trương Minh Giảng đó, ông chớ có coi thường nó.
Trong bàn ăn, Chuẩn uý Nhơn là người ít nói nhất. Có lẽ
mới ra đơn vị nên còn dè dặt. Anh cũng mới cưới vợ không lâu
và có đưa lên giới thiệu với Phương khi Tiểu Đoàn còn đóng
vòng đai phía Bắc căn cứ Lai Khê. Thiếu uý Thủy thì quá
thân. Những ngày còn lêu bêu ngoài hậu cứ, Phương và Thủy
thường chở nhau trên chiếc Honda 67 đi nhậu nhẹt, tán gái
khắp Bình Dương. Trông Thủy đen vậy chứ nhiều cô mết hắn.
– Tối nay ngoài pháo, trong pháo bố ai chịu nổi. Thủy
vừa nhấp rượu vừa đùa.
– Xài chị Năm tạm đi em ơi!
– Kỳ này hết hành quân, Thẩm quyền cho tui về nhà vài
hôm. Hơn nửa năm trời không thấy mặt vợ con, thẩm quyền à.
Trung sĩ Nhứt Hùng lợi dụng lúc vui, lên tiếng.
– Từ
từ tính. Lính đánh giặc biết hôm nay, ngày mai que sera!
sera!
Hùng xụ mặt xuống:
– Thì Thẩm quyền hứa
cho một lời đi.
– Ô Kê! Uống cho hết ly rượu đi. Nào,
dzô, dzô!
Những tiếng cười khoái trá, vui nhộn lại
nổi lên trong buổi chiều đang tàn nơi góc rừng thâm u. Những
người lính bộ binh còn quá trẻ, nhưng chiến trường làm cho
họ dày dạn và quên đi những lo âu toan tính để chỉ biết vui
lúc này để lát sau đây lại đối diện tử thần đang từng giây,
từng phút rình rập từ mọi hướng ngoài kia.
Đỗ Văn Phúc
(credit: Le Van)

Tác giả ghi chú:
[1] Đặt theo tên cố Trung tá Châu Minh Kiến (Khoá 19 Võ Bị Quốc Gia), Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1/8, tử trận năm 1970.
[2] Trung uý Thủy sau này kế nhiệm Đại đội trưởng 15, hy sinh năm 1973 tại Bầu Bàng.
[3] Thẩm quyền là danh xưng dành cho các Đại đội trưởng; trong khi Đại Bàng là danh xưng của Tiểu đoàn trưởng.
[4] Trung uý Quốc đã hy sinh tại Lộc Ninh cuối năm 1971 khi đó là Trưởng Ban 3 Trung Đoàn 8 Bộ Binh.
[5] Ngụy hoá hai chữ Bà Xã (vợ).
[6] Ngụy hoá hai chữ Tiếp Tế.
[7] Ám ngữ, có nghĩa là lục soát.
[8] Nhơn hình như đang ở một Tiểu Bang phía Bắc, có lần đã gọi điện thoại về thăm rồi sau đó bặt tin.
[9] Cơ quan này bao trùm tất cả cố vấn các lãnh vực chính trị, tình báo, quân sự địa phương.
[10] Kenwood Foster hiện ở New London, Tiểu Bang New Hamshire. Sau hơn 40 năm, đã liên lạc được.



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by ddnb chuyển
Đăng ngày
thứ Sáu, December 5, 2025
tkd.
Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH