

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tạp ghi
Chủ đề:
tháng tư
Tác giả: BP

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Bạn mến,
Hôm nay là thứ Bảy 1/4/2017. Tôi chào tháng tư!
“Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư!”.
Hai câu thơ nổi tiếng
trong bài “Thơ Xuân Đất Khách” được (nhà văn / thi sĩ)
Thanh Nam viết trong mùa xuân năm 1977, hai năm sau ngày ông
lên tàu di tản (4/1975)!
Tôi đã đọc rất nhiều lần bài
thơ này. Mỗi lần vẫn ngần ấy xúc động.
“... Quê người
nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức
ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát
gió mưa...”.
42 năm đã qua, những bằng–hữu–qua–đây
của ông Thanh Nam (sanh năm 1935) ngày đó, có lẽ không còn
bao nhiêu.
“Bằng hữu qua đây dăm bảy kẻ
Đứa nuôi
cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa
nhục nhằn lê kiếp sống thừa”.
Trong số những người
còn lại ấy, bao nhiêu còn “nuôi cừu hận”, còn “nhục nhằn lê
kiếp sống thừa”? – 42 năm, đời sống đã ổn định, cái tâm
trạng “nhục nhằn lê kiếp sống thừa” của # 150,000 người di
tản có lẻ không, hoặc còn rất ít, nhưng con số “nuôi cừu
hận” thì vẫn còn nhiều. Nhiều, với sự tham gia của mấy trăm
ngàn thuyền nhân, mấy chục ngàn cựu tù nhân chánh trị
(“H.O.”), mấy chục ngàn “ODP”, vân vân.
Người ta
thường nói “thời gian là phương thuốc nhiệm mầu để làm
quên”, quên đi nỗi đau, quên đi lòng thù hận. Nhưng đó là
nỗi đau nào kia, sự thù hận nào kia, không phải là nỗi đau
mất nước, hay sự oán thù kẻ dâng đất cho ngoại bang, xây
dựng cơ đồ trên xương máu người dân. Tôi không nói quá đâu.
Về lại Sài Gòn mà xem. Nó không “đẹp lắm” đã đành mà “đẹp”
không nó cũng chả có! Bây giờ, khói xe làm nó mù mờ nhân
ảnh, tiếng động cơ, tiếng còi làm nó ù ù cạc cạc. Tôi cũng
không nói quá đâu: năm 1974, người ta xuống đường, tố cáo vị
nguyên thủ chiếm đất công, xây biệt thự ở Đà Lạt. Bây giờ,
ai dám nói đến mấy cung điện hoành tráng (quê mùa), lộng lẫy
(“học làm sang”) của mấy ông Sếp Đảng? Cộng Hòa tham nhũng
vài “quan” / cộng sản tham nhũng là toàn... Đảng ta! Trong
khi đó....
Trong khi đó, người dân tiếp tục nghèo
khổ, trên rừng cây tiếp tục héo, dưới nước cá tiếp tục chết,
nhân quyền tiếp tục bị cấm đoán, chủ quyền (đất nước) tiếp
tục thu hẹp. Bây giờ, thần tượng của giới trẻ là mấy tài tử
Hàn quốc, mấy minh tinh Hồng Kông, trong khi đó: trong tiệm
sách, sách nằm chất đống: những hồi ký láo khoét của mấy ông
tướng “Long Bình” (kho đạn), những quyển sửa–đổi–lịch–sử...,
không ai mua; trong tiệm nhậu, đầy dẫy người ngồi, năm 2016,
mỗi người Việt Nam uống 41 lít bia (xem link)!...
Trong khi đó, trên mạng đăng hình biệt thự mới của ông
Thủ tướng ở Mỹ, con trai ông này “học” ở Anh, con gái bà kia
“học” ở Mỹ. Kiểu như bạo chúa con “Uông chính Ân” được bố
gởi đi “học” ở Thụy Sĩ năm xưa! Rồi những chiếc xe đắt tiền,
những bộ quần áo sang trọng, những buổi điểm tâm ở...
Singapore (!), kèm theo những nụ cười hả hê, rất “ngố”!!!!
Lỗi này của ai? Tội này của ai?
Thế nên:
“thời
gian chỉ khiến thêm cừu hận
khi búa liềm kia vẫn lộng
hành”!
Nhưng không chỉ có người di tản buồn Trần đại
Việt (tên thật của Thanh Nam) cùng những đồng bào miền Nam
của anh, mới “trọn năm dài một tháng Tư”. Tử ngày quê hương
đổi chủ (!), người miền Bắc, công dân của nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa, cũng chọn tháng Tư là tháng có 365 ngày! Bởi
đó là tháng họ được “giải phóng”, thấy được sự lường gạt
trắng trợn của Đảng, về một miền Nam nghèo đói, bị Mỹ “Ngụy”
kềm kẹp, về những cờ hoa chào đón, vẫy tay mừng rỡ của đồng
bào miền Nam, thấy mình và thân nhân chỉ là con cờ phục vụ
cho Đảng xâm lăng miền Nam! Với những cán bộ, đảng viên thì
cũng “trọn năm dài một tháng Tư”, từ đó, khi chiếm lĩnh nhà
cửa, tài sản của những người di tản, vượt biên, của thân
nhân tù cải tạo bị bắt đi kinh tế mới. Cuộc sống giàu sang
mở ra từ đó. Năm này sang năm khác, từ đời ông đến đời cháu:
“cứ trọn năm, hoài một tháng Tư”: giàu sang, phú quý!
Cuối tháng 4/1975, Tổng Thống Dương văn Minh chưa ra
lệnh buông súng bàn giao nhưng tận ngoài Hà Nội, cô sinh
viên nhạc viện Hà Nội Ái Vân đã được “chú” Tố Hữu chọn, cho
vào Sài Gòn làm xướng ngôn viên đài truyền hình! 29/4, xe
lăn bánh, đưa cô và 19 đồng nghiệp vào Sài Gòn!
Mời
bạn đọc một số cảm nghĩ của cô gái miền bắc 21 tuổi này, vừa
được miền nam... giải phóng (trích tự truyện “Để gió cuốn
đi”, trang 151 – 157, nhà xuất bản Hội Nhà Văn / 2016.)
+ 30/4, xe đến Đông Hà:


+ 2/5 xe
vào đến Sài Gòn:

Đấy:
“... Suốt dọc
đường vào phía Nam, trên xe mọi người trở nên ít nói, có cái
gì rất khó nói lúc bấy giờ”.
“... Ngày 30/4 đến với
những người trên chuyến ấy, chắc hoàn toàn khác với hình
dung của tất cả mọi người. Im lặng, im lặng và im lặng...”
Nói gì đây khi khám phá ra từ bấy lâu nay, mình đã bị
Đảng tuyên truyền, nhồi sọ?!!!
Và Ái Vân thú nhận sự
khác biệt về đẳng cấp văn minh giữa miền Nam bị “kềm kẹp”,
và miền Bắc “ưu việt”:

Bà Hà thị Tuyết là chị
Cả của bố Ái Vân, di cư vào Sài Gòn năm 1954. Ái Vân kể lại
giây phút đầu tiên đến thăm bác Cả và:

Xin
cám ơn những trang viết trung thực này!
Trừ tướng
Phạm văn Phú, nguyên tự lệnh vùng 2, chịu trách nhiệm đã để
mất Ban Mê, tự tử bằng độc dược tối 29/4. Trưa 30/4/1975,
sau lệnh “bàn giao” của Tổng thống Dương văn Minh, trước
tượng đài Chiến Sĩ ở trung tâm Sài Gòn, Trung tá Cảnh Sát
Nguyễn văn Long (56 tuổi), nguyên Chánh Sở Tư Pháp vùng 1,
rút súng bắn vào thái dương! Ở Lai Khê, tướng Lê nguyên Vỹ
(42 tuổi), Tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, rút súng tự sát, đạn
từ cổ xuyên lên đầu! 15h, tại căn cứ Đồng Tâm, Chuẩn tướng
Trần văn Hai (50 tuổi), Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, gọi Trung
uý tùy viên Huỳng văn Hoa vào văn phòng, nhờ anh trao một
phong thư cho thân mẫu ông (sau này mới biết là 70,000
đồng). 18h, không nghe “ông Thầy” gọi, Trung uý Hoa bước vào
văn phòng làm việc thì thấy Tướng Hai gục đầu trên bàn, một
ly rượu (thuốc độc) lớn để kế bên! Ở Cần Thơ, 20h30, tại tư
dinh, Tướng Lê văn Hưng (42 tuổi), Tư lệnh phó Quân Đoàn IV,
chĩa khẩu colt ngay tim tự sát!
Sáng 01/05/1975, cũng
ở Cần Thơ, sau khi cắm nhang lên bàn thờ, xá Phật, Tướng
Nguyễn Khoa Nam (48 tuổi), rút colt 45, để ngay màng tang
phải lẫy cò: đạn xuyên thẳng qua màng tang trái! Lúc đó là
7h30!
Ngoài ra có nhiều vị, tuy không tự sát, nhưng
đã chọn ở lại, không “tái phối trí”, chiến đấu đến cùng mà
kết quả là “mất tích” hay bị xử bắn. Như các Dại tá: Nguyễn
hữu Thông (38 tuổi), Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 43, Sư
Đoàn 22 Bộ Binh; Hồ Ngọc Cẩn (36 tuổi): Tỉnh trưởng Chương
Thiện, vân vân.
Trên đây là những cái chết bi tráng
thường được chúng ta nhắc đến vì, trước nhất, có nhiều nhân
chứng khi các ông tự sát; thứ nhì: các ông là những vị chỉ
huy tài đức nổi tiếng lúc sinh tiền; thứ ba: các ông có đầy
đủ phương tiện để “ra đi” nhưng đã chọn ở lại để chết theo
thành, theo lính, chính cái phong cách Hoàng Diệu, Phan
thanh Giản đó đã khiến tên tuổi các ông được ghi sâu vào tâm
khảm người “miền Nam”.
Nhưng không chỉ có các ông,
còn rất nhiều những tự sát “vô danh” khác. Từ sĩ quan đến
binh sĩ. Từ quân sự đến dân sự. Như Luật sư Trần chánh
Thành, nguyên Tổng trưởng Thông Tin (Đệ 1 Cộng Hòa) và Ngoại
Giao (chánh phủ Nguyễn văn Lộc), uống độc dược tự sát tối
2/5 tại Sài Gòn. Như những người lính Thủy Quân Lục Chiến mà
Trung uý Cao Xuân Huy đã kể lại trong “Tháng 3 gãy súng”:
“... Lại có rất nhiều người tự tử. Bây giờ họ không tự
tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ,
không hẹn, và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc
có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra
nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng
tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một
người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba,
người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau
thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.
Dòng người chúng tôi tiếp tục chạy, lại một người tách
ra ngồi trên cát, lại người thứ hai, người thứ ba, người thứ
tư... nhập bọn, lại tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ,
lại một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.
Dòng người chúng
tôi vẫn cứ tiếp tục chạy, lại một người tách ra ngồi trên
cát, lại người thứ hai, người thứ ba, người thứ tư...
Tôi không thể nhớ để mà đếm nổi là đã có bao nhiêu quả
lựu đạn đã nổ ở giữa những vòng tròn người như vậy. Nhiều,
thật nhiều quả lựu đạn đã nổ.
Chúng tôi vẫn cứ chạy,
những người tự tử tập thể vẫn cứ tụm thành những vòng tròn,
quân đội Nhật năm 45 khi đầu hàng cũng không thể nào hào
hùng hơn thế này được. Lịch sử Việt Nam chưa thấy viết một
dòng nào về những cái chết hiên ngang của những thằng tốt
đen như vậy, nhưng họ có đó, vẫn oai hùng khí phách chấp
nhận những cái chết vô danh như vậy....”
Hy vọng,
trong một tương lai rất gần, sẽ có một tài liệu (chánh
thức), phổ biến con số và tên tuổi những người tự sát, khởi
từ mặt trận Ban Mê! Để các thế hệ Việt Nam sau này, có một
cái nhìn trung thực về quốc gia và công dân (quân dân cán
chính) Việt Nam Cộng Hòa.
Để những cái chết đó không
vô ích và những tuổi tên kia sẽ là những tấm gương cho hậu
thế noi theo:
“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu
thủ đan tâm chiếu hãn thanh” [*] (Văn thiên Tường)
(“Xưa nay hỏi có ai không chết
Hãy để lòng son
chiếu sử xanh”)
Tháng 4, bao giờ, ở đâu, cũng
chỉ có một, trừ tháng 4 năm 1975, ở Việt Nam: một tháng Tư
Hà Nội hả hê vì đã thực hiện giấc mơ xâm lược và một tháng
Tư Sài Gòn uất hận tuân lệnh “bàn giao”! Giữa hai tháng Tư
đó là máu và nước mắt của quân dân miền Nam. Và những người
xác người: những người lính đã chiến đấu, trong tuyệt vọng,
đến giờ phút cuối; những người dân chạy trốn Cộng sản; và
những người “thà làm Quỷ nước Nam còn hơn làm... tù binh đất
Bắc”!
Xin bạn cùng tôi, thắp nén hương lòng, cho
tháng Tư Đen của Sài Gòn ta yêu dấu!
BP



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by lbp chuyển
Đăng ngày thứ Tư, April 1, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH