

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tạp ghi
Chủ đề:
căn cứ tống lê chân
Tác giả: Vũ Đình Hiếu

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Bài thuyết trình của vđh buổi sáng ngày thứ Sáu 12 tháng Tư năm 2024, sau lời chào đón, tuyên bố khai mạc chương trình Hội Thảo về Chiến Tranh Việt Nam với chủ đề “Năm 1974: Hòa Bình Tan Vỡ, Chiến Tranh Tiếp Tục và Chuẩn Bị Cho Trận Tấn Công Cuối Cùng”.

I. LỜI GIỚI THIỆU
Cùng với việc cắt
giảm viện trợ, người Hoa Kỳ thúc đẩy chương trình Việt Nam
Hóa (Vietnamization) để rút quân đội về nước. Binh chủng Lực
Lượng Đặc Biệt chỉ còn lại chương trình Delta kết hợp với
Tiểu Đoàn 81 Biệt Kích tiếp ứng thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách
Dù trực thuộc bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Các trại LLĐB Biên
Phòng (Dân Sự Chiến Đấu) bàn giao cho binh chủng Biệt Động
Quân và lần lượt cải tuyển thành các Tiểu Đoàn Biệt Động
Quân Biên Phòng.
Ngày 30 tháng Mười Một năm
1970, trại DSCĐ Tống Lê Chân A–334 được
cải tuyển thành Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP, vị Tiểu
đoàn trưởng mới của Tiểu Đoàn là Đại uý Lê Văn
Ngôn, xuất thân khoá 21 trường Võ Bị Quốc Gia
Việt Nam (Đà Lạt). Quân số Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP lúc mới cải
tuyển là 318 người, đa số thuộc sắc dân thiểu số S’Tiengmang
họ Điểu, một số ít người Việt gốc Miên mang họ Châu, Danh,
và Thạch. Sau đó, Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP được bổ xung thêm sĩ
quan, hạ sĩ quan lấy từ các Tiểu Đoàn BĐQ khác, đưa về Trung
Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục Mỹ huấn luyện và bổ sung thêm tân
binh BĐQ người Việt, từ đó quân số người Việt tăng dần lên.

Nằm bên cạnh hai con suối Takon và Neron là thượng nguồn
của sông Sài Gòn và trên một ngọn đồi cao hơn 50 thước cách
An Lộc khoảng 15 cây số về hướng Đông–Bắc, Tống Lê Chân (đọc
trại từ tiếng Miên Tonlé Tchombe) có nhiệm vụ ngăn chặn
đường tiếp tế của Việt cộng từ Chiến khu C theo trục lộ 246
sang Chiến khu D. Vào thời điểm này, Tống Lê Chân, ngoài căn
cứ chính còn có thêm hai tiền đồn nhỏ nằm án ngữ đường tiến
quân của địch vào trại chính.
Trong trận tấn công lễ
Phục Sinh (Mùa Hè Đỏ Lửa) năm 1972, mũi dùi chính của quân
cộng sản nhắm vào thị trấn An Lộc, để làm thủ đô cho Mặt
Trận Giải Phóng (NLF–Việt cộng) lúc đó có tên mới là Chính
Phủ Cách Mạng Lâm Thời (PRG), nhưng không thành công. Tuy
nhiên các trại BĐQ Biên Phòng trong khu vực lần lượt phải di
tản trước áp lực của địch: Thiện Ngôn A–323 (TĐ 73/BĐQ/BP),
Katum A–375 (TĐ 84/BĐQ/BP), và Bù Đốp A–341 (TĐ 97 BĐQ/BP).
Tuy nhiên TĐ 92/BĐQ/BP Tống Lê Chân vẫn đứng vững. Ngày
10 tháng Năm 1972, đặc công VC xâm nhập vào được bên trong
căn cứ phá hoại, chiến xa cùng chủ lực quân VC tấn công
nhưng vẫn bị đẩy lui. Đại uý Lê Văn Ngôn được thăng đặc cách
lên thiếu tá.
II. TRẬN BAO VÂY
(25/3/1973–12/4/1974)
Sau khi hiệp định Hòa
Bình Paris được ký kết và có hiệu lực kể từ ngày 28 tháng
Giêng năm 1973. Lợi dụng những điều khoản có lợi cho họ
trong bản hiệp định, quân cộng sản từ khu vực Lưỡi Câu, Mỏ
Vẹt trên đất Cambodia quay trở lại bao vây căn cứ Tống Lê
Chân kể từ ngày 25 tháng Ba năm 1973. Đến đầu năm 1974, Tổng
thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đang bận rộn đối phó với các
nhóm chống đối, lợi dụng danh nghĩa “Phong Trào Chống Tham
Nhũng”, tình hình trong căn cứ Tống Lê Chân trở nên bết, vì
đã bị cô lập, không thể di tản thương binh, tái tiếp tế...
Thiếu tá Lê Văn Ngôn được vinh thăng trung tá, lúc đó ông
mới 27 tuổi.
Để dứt điểm căn cứ Tống Lê Chân, quân
cộng sản đưa vào chiến trường: Trung Đoàn 271, Công Trường
(Sư Đoàn) 9 VN, Trung Đoàn 201 chủ lực miền (điạ phương),
hai Tiểu Đoàn phòng không và Tiểu Đoàn 28 Pháo Binh, sau này
tăng cường thêm đại bác 130ly. Về phần quân bạn vẫn chỉ có
một mình Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP chiến đấu trong cô đơn.
Tiểu Đoàn 28 Pháo Binh cùng với các khẩu súng cối của địch
thay phiên nhau liên tục pháo kích gây thương vong, lo lắng
cho quân trú phòng. Trong vòng 16 tuần lễ đầu tiên kể từ
ngày 25 tháng Ba (bắt đầu bao vây căn cứ Tống Lê Chân), quân
cộng sản pháo kích vào căn cứ gần 300 lần với hơn 13,000 đạn
pháo binh, hỏa tiễn, và đạn súng cối. Trung Đoàn 271 của
địch mở 11 trận tấn công, đặc công tìm cách xâm nhập 9 lần
nhưng tất cả dều bị Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP đẩy lui. Để trợ lực
cho các trận tấn công, làm xuống tinh thần binh sĩ, quân
cộng sản bắc loa kêu gọi BĐQ ra đầu hàng, họ dụ dỗ để cho
quân trú phòng một hành lang an toàn, để cho viên Tiểu đoàn
trưởng hướng dẫn binh sĩ rút ra khỏi căn cứ. Trong thời gian
kể trên, BĐQ tổn thất 16 binh sĩ tử trận, 4 người bị thương,
quân cộng sản có 86 người chết, bỏ lại trên chiến trường 10
vũ khí.
Với hai Tiểu Đoàn phòng không bố trí trong
khu vực, trực thăng Không Quân VNCH không thể chở đồ tiếp tế
cho căn cứ, kể cả thuốc men, dụng cụ y khoa, đạn được, và di
tản thương binh BĐQ. Trong 16 tuần lễ bao vây này, Không
Quân bay hơn 3,000 phi vụ yểm trợ, thả dù tiếp tế cho căn cứ
bị bao vây 300 kiện hàng, mỗi kiện nặng 400 cân Anh
(pounds–lbs), Biệt Động Quân thâu hồi được 134 kiện hàng,
còn lại rơi vào khu vực của địch.

Quân đội
VNCH vẫn phải tìm mọi cách di tản thương binh Biệt Động
Quân, đưa thêm quân vào tăng cường cho căn cứ Tống Lê Chân,
thay thề số quân bị tổn thất. Trong khoảng thời gian từ cuối
tháng Mười năm 1973, đến cuối tháng Giêng năm 1974, hai mươi
(20) trực thăng bay vào căn cứ Tống Lê Chân, nhưng chỉ có 6
chiếc vào được căn cứ, trong đó ba chiếc bị trúng đạn pháo
kích của địch tiêu hủy. Trong cuối tháng Mười Hai năm 1973,
các ổ súng phòng không của địch bắn rơi một trực thăng chở
quân loại lớn Chinook CH–47 của Không Quân VNCH. Trong tháng
Mười Hai, phòng không cộng sản bắn hư hại 13 trực thăng, tử
thương 9 người, bị thương 36 người, phi công, hoặc nhân viên
phi hành.
Đến tháng Ba năm 1974,
tình thế trở nên tuyệt vọng trong căn cứ Tống Lê Chân. Quân
cộng sản siết chặt vòng vây, việc tái tiếp tế hoàn toàn bằng
phương tiện thả dù. Trực thăng không thể vào di tản thương
binh, làm cho tinh thần binh sĩ xuống thấp, lo sợ trước tình
hình bị cô lập, và bị pháo kích hàng ngày. Nhiều căn hầm,
tuyến phòng thủ trong căn cứ trúng đạn pháo kích bị sập hay
hư hại.
Cái giá Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP phải trả trong
việc trấn giữ căn cứ Tống Lê Chân như một biểu tượng anh
dũng chiến đấu đã nhiều hơn giá trị thực sự của căn cứ. Sức
chịu đựng của các quân nhân Tiểu Đoàn 92 BĐQ không thể nào
đo lường được, tinh thần chiến đấu giảm đi.
Ngày 20 tháng Ba năm 1974, Trung tướng Phạm Quốc
Thuần Tư lệnh Quân Đoàn III, trình lên Đại tướng Cao Văn
Viên ba giải pháp cứu nguy Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP trong căn cứ
Tống Lê Chân. Thứ nhất, mở cuộc hành quân cấp Sư Đoàn phát
xuất từ An Lộc, lúc đó có bộ chỉ huy BĐQ/QK III dưới quyền
Đại tá Nguyễn Thành Chuẩn và Liên Đoàn 5 BĐQ, Liên Đoàn 3
đóng ở Chơn Thành phiá Nam An Lộc, làm thành một hành lang
an toàn cho Tiểu Đoàn 92 BĐQ rút về An Lộc, hoặc thay thế
bằng một đơn vị khác, hơặc bổ sung quân số tổn thất. Thứ
hai, cho phép Tiểu đoàn trưởng 92/BĐQ thảo kế hoạch rút lui,
chia đơn vị ra làm nhiều toán nhỏ bí mật rút lui, thoát ra
khỏi vòng vây đến điểm tập trung, gom lại rồi di chuyển đến
một đơn vị bạn gần nhất. Thứ ba, qua thương thuyết để cho
địch lấy căn cứ Tống Lê Chân đổi lại họ để cho đơn vị BĐQ
rút ra khỏi căn cứ.
Theo Tướng Thuần, kế hoạch thứ
hai thích hợp nhất, Quân Đoàn III không có đủ đơn vị trừ bị
để gom lại một Sư Đoàn, các Sư Đoàn Bộ Binh 5, 18, 25 trực
thuộc Quân Đoàn đều bận rộn trong khu vực trách nhiệm của
riêng Sư Đoàn. Vả lại việc tập trung một đơn vị cấp lớn cấp
Sư Đoàn hiển nhiên vi phạm hiệp định Paris, mất thể diện
chính trị. Còn chuyện nhường cho địch căn cứ Tống Lê Chân là
điều không thể chấp nhận được.
Ngày 21 tháng
Ba, Trung tá Lê Văn Ngôn Tiểu đoàn trưởng 92 BĐQ/BP
trong lúc tuyệt vọng, nén cảm xúc, yêu cầu cấp chỉ huy trực
tiếp Đại tá Nguyễn Thành Chuẩn CHT/BĐQ/QKIII trong An Lộc,
cho phi cơ thả bom hủy diệt căn cứ Tống Lê Chân thay vì đầu
hàng địch quân. Để trả lời, Đại tá Chuẩn thông báo công điện
của Trung tướng Phạm Quốc Thuần tư lệnh Quân Đoàn III, ông
ta vẫn chưa nhận được quyết định (câu trả lời) của Đại tướng
Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội VNCH.
Đêm 11 tháng Tư năm 1974, gẩn 1,000 đạn đại
bác rơi vào căn cứ Tống Lê Chân, bộ chỉ huy BĐQ/QK III nhận
được thỉnh cầu của Trung tá Lê Văn Ngôn, được phép di tản ra
khỏi căn cứ. Sau đó, không biết Tướng Thuần có trình lên Đại
tướng Viên hay Tổng thống Thiệu hay không? Lúc 11:30g đêm,
ông ta ra lệnh cho Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP ở tại chỗ bảo vệ căn
cứ bằng mọi giá.
Ít phút sau nửa đêm (12:00g
đêm), Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP báo cáo đốt tài liệu quan
trọng, sau đó yêu cầu Không Quân VNCH ngừng thả hỏa châu
chiếu sáng căn cứ (họ sẽ âm thầm di chuyển ra khỏi căn cứ
trong màn đêm). Sau đó Tiểu Đoàn tắt máy truyền tin (bộ chỉ
huy BĐQ/QK III trong An Lộc không còn liên lạc được nữa),
cho đến 9:00g sáng ngày hôm sau (12/4/1974) khi Tiểu Đoàn 92
BĐQ/BP đã thoát ra khỏi vòng vây của Trung Đoàn 271 VC. Đoàn
quân triệt thoái đi lên hướng Đông–Bắc khoảng 16 cây số đến
An Lộc và được Liên Đoàn 5 BĐQ đón tiếp. Chuyến di tản họ
chỉ bị thiệt hại 4 BĐQ tử trận, 35 người khác bị thương, tuy
nhiên tất cả người chết, người bị thương đều được đồng đội
đem theo đến nơi, đến chốn An Lộc.
Quân cộng sản trả
thù pháo kích như mưa vào căn cứ Tống Lê Chân, sau đó bộ
binh, chiến xa tiến vào, nhưng quá nhiều mìn bẫy chống
người, chống chiến xa nên ngày 13 tháng Tư quân cộng sản mới
vào đến căn cứ. Biệt Động Quân Tiểu Đoàn 92 đã biến mất theo
mây khói, các quân dụng nặng không đem theo được, họ đã phá
hủy. Thương binh cũng được đem theo... quân cộng sản chỉ
“bắt sống” được một BĐQ tình nguyện ở lại và hai xác chết...
III. ĐOẠN KẾT
Binh sĩ sống sót
cuối cùng cùa Tiểu Đoàn 92/BĐQ/BP về đến An Lộc ngày 15
tháng Tư (trong lúc giao tranh với địch trong màn đêm, chạy
lạc đơn vị). Trung tá Lê Văn Ngôn, Tiểu đoàn trưởng vào
trình diện Đại tá Nguyễn Thành Chuẩn, chỉ huy trưởng BĐQ/QK
III:
“... Đó là quyết định của riêng tôi, bỏ căn
cứ Tống Lê Chân, cho đơn vị di tản. Tôi hoàn toàn chịu trách
nhiệm... Tôi không sợ chết, sẵn sàng hy sinh cho đất nước.
Nhưng không thể chịu đựng được, phải nghe, phải nhìn các
binh sĩ thuộc cấp bị thương, than khóc vì đau đớn (không có
thuốc trị), và chết từ từ... quá đau lòng!”
Buồn
thay, Trung tá Lê Văn Ngôn không chết vì đạn pháo kích của
địch, không chết trên lộ trình di tản. Định mệnh cho ông ta
sống thêm ba năm nữa, để phải chứng kiến sự sụp đổ của miền
Nam Việt Nam, và sau đó như biết bao sĩ quan cao cấp bị giam
cầm trong các trại cải tạo lao động nơi miền Bắc Việt Nam.
Và cuối cùng, trong mùa thu năm 1977, Trung tá Lê Văn Ngôn
âm thầm giã từ chiến hữu nơi trại tù Yên Bái Bắc Việt.
Xin chào Trung tá Lê Văn Ngôn cùng các chiến sĩ Tiểu
Đoàn 92 BĐQ/BP. Sự hy sinh, can đảm, anh dũng chiến đấu của
họ sẽ được ghi nhớ, không bao giờ quên.

Texas Tech University/Vietnam Center
Conference 11/13/2004
Vđh



thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by bđq vđh chuyển
Đăng ngày thứ Hai, January 12, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH