Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Trang Thi-Văn & Âm nhạc
Chủ đề:
Tình Sử
Hoa Sim Tím
Tác giả: Hữu Loan
Màu
tím hoa sim
(Nguyên văn của tác giả)
Nàng
có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may
áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành
quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị
về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình
không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người
gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ
con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em
ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông
nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa
sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho
chồng tấm áo
ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba
người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước
tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ
lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng
chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi
hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím
hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao
nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa
khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều
hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách
vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh
mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim, tím tình
trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu
quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền
biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về
đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...
(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)
Hữu Loan
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Lời giới thiệu: Mỗi nhà thơ lớn một nhà văn lớn
hình như đều có một cuộc tình lớn. Họ sống vì cuộc tình đó mà
quên lững thời gian trôi đi. Họ tôn thờ hình bóng người xưa mà
quên đi nỗi nhọc nhằn và bão táp của cuộc đời đang phủ quanh, cơ
hồ như muốn vùi vập họ. Họ làm những chuyện bình thường trong khi
vẫn âm thầm sống thầm lặng, tri âm mãi miết với mỗi một người mà
hết cả một đời.
Thương thay! Hãnh diện thay! Ai đó đã nhìn
thấy rõ thiên đàng của kiếp người hay chưa?
VND
Tôi
sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách
đến
trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ
bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại
thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng
học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm
1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để
chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi
không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú
tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm,
hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên
những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin,
Trịnh văn Xuân, Đỗ Thiện và... tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê
nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của
tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên
thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của ông Lê Đỗ Kỳ,
tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc
hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải
và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà
để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với
tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà
gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra
khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ
mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như
có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc
đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha
làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ
bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi
khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi
hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn
cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái
ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ
mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt...
Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói
cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế
là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không
chịu học hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang
nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là
tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ... Trưa
hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng.
Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà
không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu.” Em
không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi
đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi... Xe kéo chừng
một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi
đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi
ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất
chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết
lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
- Thầy có thích ăn sim không?
- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim.
Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì
mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ...
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với
chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn
đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã
nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi
chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim
ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi
nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím,
hai bên má thì....tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười
theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can
thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn
tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi
đi... lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng,em vẫn đứng đó nhỏ bé và
mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi
vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại... em vẫn đứng yên
đó... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng
tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn
lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều
chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không
chịu ra tiếp ai bao giờ...
Chín năm sau, tôi trở lại nhà...Về Nông
Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng
em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn
cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô
gái xinh đẹp....Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình
không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp
hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “ soạn kịch
bản”.
Một tuần
sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi,
không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: “ yêu nhau,
thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao
ráo, học giỏi, Làm thơ hay...lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là
anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông
Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm
mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh
phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi
phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ
Chiến Sĩ.
Hôm
tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã
đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu
quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại.....Nếu như chín năm
về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi
thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau,
tôi nhận được tin dữ: vợ tôi
qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch
năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị
Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên
trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em
vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi
nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu
thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không
được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu
của họ. Tôi như một cái xác không hồn...
Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ
dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm
sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi
được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi
lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.
Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
“Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội... Những em nàng có em chưa biết
nói. Khi tóc nàng đang xanh...” Tôi về không gặp nàng...Về viếng mộ
nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài
thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa... Anh bạn
này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.
Đó là bài thơ
Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn
biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại
đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê
đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em
Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi
dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên
tôi viết mới nổi những câu: “Chiều hành quân, qua những đồi sim...
Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều
không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt...Và chiều
hoang tím có chiều hoang biết...Chiều hoang tim tím thêm màu da
diết.”
Mất nàng,
mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn
đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích
chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê
tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến
của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với
lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào
văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm
chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm
lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm
thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ
mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì
chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại
đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời
hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình
cảm riêng....Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới
lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối
ở sông...
Tôi
thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản
động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao
lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của
tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi
bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải
làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được!
Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán.
Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng
bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở
phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh
bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất
phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi,
cho người hại tôi...
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có
một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an
mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở
Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra
đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng
có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về
rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán
bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ
nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu,
cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến
dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi
còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện
đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy
chán nản quá, không còn hăng hái nữa.
Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng.
Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở
15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm
mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu
nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường
cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng
phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt
anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn
trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình
ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần
chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái
đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho
đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con
gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra
khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra
lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm
công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ
làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa
chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra
sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên
được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên
ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới
xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom
khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội
một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc
động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại
rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và
nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ
đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị
làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy
nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh
cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi
nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô
chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no.... Cho đến bây giờ cô đã cho
tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng
đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn
sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng
thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới
hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng
thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi “ tái xuất giang hồ” sau 30
năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi
lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ
Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do
báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời,
cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài
Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một
hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100
triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60
triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già,
sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu
Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy
bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
Hữu Loan
Nguồn: Huỳnh Ngọc Chênh blog
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
THIÊN SỨ MICAE - BỔN MẠNG SĐND VNCH
|
Hình nền: Bộ Huy hiệu Sư Đoàn Nhảy Dù QLVNCH. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML-5 hay cao hơn.
Nguồn: Internet E-mail by Văn Nguyên Dưỡng chuyển
Đăng ngày Thứ Sáu,
September 1, 2017
Ban Kỹ Thuật
Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH
GĐMĐVN/Chi Hội Hoa Thịnh Đốn & Phụ cận
P.O.Box 5345 Springfield, Virginia, VA 22150
Điện thoại & Điện thư:
Liên lạc
Trở lại đầu trang